Văn học với đời sống

2/3
8:11 AM 2017

QUÊ NGOẠI-TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN LAM THỦY

Nhà Phong ở phố huyện, phía sau nhà có lũy tre xanh, qua lũy tre là dòng sông Lam. Những đêm đông gió lùa qua khe cửa mang hơi lạnh và tiếng thì thầm của sóng, tiếng than thở của dòng sông.

                                                 Ảnh minh họa (Internet)

Nói là phố huyện nhưng chỉ có một ngôi nhà huyện ủy, nhà ủy ban, cửa hàng thực phẩm, lương thực, bách hóa. Đi xa hơn có cửa hàng sách nơi mà các anh chị thường lui tới, rồi tới huyện đội, phòng thuế... đêm đêm chỉ có ánh đèn dầu đìu hưu. Quê nội Phong xa lắm. Nơi con sông Ngàn phố đổ vào dòng sông La, bố Phong làm việc xa, mẹ Phong không biết đi xe đạp nên cả tuổi thơ Phong chẳng bao giờ được về thăm.

          Mẹ Phong thường bế Phong về quê ngoại khi còn chưa biết gì. Lên bốn tuổi, lần đầu tiên Phong mới biết mẹ dắt về quê ngoại, lúc nào mỏi chân thì mẹ Phong bế. Từ nhà Phong đến nhà cậu chưa đầy 2 km, nhưng lúc đó đối với Phong sao mà xa thế. Nhà cậu Phong là ngôi nhà của ông ngoại Phong để lại chỉ cách nhà cụ Nguyễn Du một thửa ruộng nhỏ. Ông ngoại Phong mất đã lâu lắm rồi, các cậu, các dì cũng đã mất, còn lại duy nhất cậu Ngôn-anh cùng cha khác mẹ của mẹ Phong (quê Phong anh và em của mẹ đều gọi là cậu, chị hay em mẹ đều gọi dì), người gầy, cao lêu đêu, tay dài lòng thòng, má hóp, chỉ có đôi mắt sâu màu hơi nâu. Cậu Phong thường bận đồ màu nâu, thường đi đôi guốc mộc. Phong thường theo cậu đi bẫy chim. Mùa hè thường bẫy chim sáo chợ(giống chim sáo màu đen thường bay thành đàn rất đông) bằng nhựa dính đặt trên các cành cây mỏ ác. Những đàn chim sà xuống mỗi lần cậu Phong thường bắt được năm đến bảy con. Sang mùa thu đông thì bẫy chim cu(chim gáy). Cậu Phong làm những lồng nhỏ có cửa rất to, nhốt một chim cu vào lồng buộc chân lại không cho nó bay ra. Cửa lồng được mở to, treo lên cành cây bời lời rất cao. Nghe tiếng chim trong lồng gù, các con chim cu bay tới, con nào vào lồng thì cửa tự động đóng lại. Cậu Phong bảo, đây là con cu trời. Phong cứ nghĩ, chim của ông trời. Mỗi lần nghe tiếng chim gù trên các cây cao, Phong cứ nhìn lên các đám mây tìm nó. Cứ tưởng nó ở trên trời đỗ sau các đám mây.

          Trước chiến tranh phá hoại miền Bắc, cậu Phong mất. Phong theo mẹ về làm đám tang cho cậu. Người ta mặc cho cậu bộ quần áo đỏ, đưa cậu  vào quan tài cùng với những đồ dùng nho nhỏ khi còn sống thường hay dùng. Khi đóng nắp hòm xong, các anh chị con cậu và mẹ Phong òa khóc lên. Có một người đứng tuổi cầm một cái đòn xóc để gánh lúa đập mạnh lên nắp hòm và hô to ba lần:

          -Hú ba hồn bảy vía, xin mời hồn ông Nguyễn  Ngôn về nhập xác!

          Phong chăm chú không hề chớp mắt để được nhìn hồn về nhập xác, nhưng nhìn mãi chẳng thấy hồn đâu bay về nhập xác.

          Dần dần khôn lớn Phong thường tự về nhà cậu, ở với anh chị con cậu. Mỗi lần về Phong lại được nghe bao nhiêu chuyện vui buồn. Cạnh nhà cậu Ngôn có nhà ông Sáu. Nhà được hai người con. Một người con trai lớn rất thông minh, học giỏi(sau này được gửi đi học ở Liên xô) và chị Vinh thì ngược lại, còn đang tuổi vị thành niên không thích học hành, nhưng đã biết ăn chơi trác táng, hút thuốc, uống rượu, áo quần rất diện...rồi theo các anh lái xe tải đi vào vĩ tuyến 17 ở Vĩnh Linh xa mấy trăm cây số suốt cả tháng trời. Mọi người nói chị là gái điếm. Mỗi lần gặp chị, Phong thấy kinh kinh, còn chị vẫn vui vẻ tươi cười, sống phóng khoáng, thỉng thoảng cho quà nhưng Phong không dám nhận. Những lúc vui chị hát dân ca xứ Nghệ  với làn điệu mượt mà, rất hay say sưa với cả trái tim mình. Có người nói chị là người ở quê đầu tiên dùng đồ lót, quần áo kiểu cách tân. Lúc đó ở quê đàn bà, con gái chỉ biết mặt yếm, còn chị đã biết dùng đồ lót kiểu mới, quần lụa mỏng. Khi chị mặc vào các bà cứ khảo nhau: “không biết dạo ni(này) nó ăn chi(gì) mà vai, sau lưng và mông nổi lên hai đường gân hai bên”. Chị thường chơi với chị Nga, con ông Phương. Chị Nga mặt mũi xinh xắn, trắng trẻo, hiền lành nhưng chị bị thọt một chân bên trái, nên chân thọt  phải đi bằng các đầu ngón chân. Chị thường giả vờ cuộn băng trắng vào chân như mới bị thương, lên tận phà Bến thủy để tìm giai. Nhưng chị Nga này tìm giai không phải vì tiền như chị Vinh. Có lần cha chị bắt gặp lúc đàn đún với các anh lái xe, ông nắm tóc lôi về dần cho một trận thừa sống thiếu chết. Còn chị Vinh chơi bời tung hoành khắp nơi nhưng ngoài tuổi ba mươi lại trở về quê lấy chồng là người lái đò ngang qua sông nghèo hơn vài chục tuổi.

         

                                                          *       

          Phong nhớ mãi mùa hè năm 1966, lúc đó chiến tranh phá hoại miền Bắc của Đế quốc Mỹ càng trở nên ác liệt. Mẹ Phong gửi Phong, em gái cùng bà giúp việc về quê ngoại Tiên Điền, ở nhà anh Sán-con một người cậu khác. Nhà anh chẳng nghèo lắm, nằm cạnh rìa làng, trong vườn có nhiều cây ăn quả, nhiều nhất là hồng, có hàng cau rất đẹp trổ hoa trắng đưa hương thơm ngào ngạt và rụng trắng sân nhà. Nhà cách sông Lam chưa đầy 500 m, cách biển chừng hai cây số, những đêm biển động nghe sóng vỗ ầm ầm.

          Có lẽ anh là người đầu tiên ý thức cho Phong về họ hàng. Vào những đêm trăng sáng, ngồi giữa sân, anh kể dòng họ Nguyễn Tiên Điền xưa vốn là người ở trấn Nam Sơn, Thanh Hóa. Dưới thời nhà Mạc, Nguyễn Thiến đỗ trạng Nguyên vào năm 1532, nhưng ông lại làm quan cho nhà Lê dưới chức Thượng thư bộ lại. Hai người con của ông là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miễn âm mưu tạo phản nhà Lê. Việc bại lộ, cả nhà bị giết. Riêng Nguyễn Nhiệm là con của Nguyễn Miễn trốn được vào làng Tiên Điền mai danh ẩn tích. Ông Nguyễn Nhiệm được coi là ông Tổ của họ Nguyễn ở Tiên Điền. Từ đời ông đến Nguyễn Nghiễm là sáu đời. Nguyễn Nghiễm làm tể tướng cho triều đình nhà Lê, ông có 8 vợ và 20 người con, trong đó có cụ Nguyễn Du. Ông ngoại Phong là Nguyễn Sỹ, cháu 5 đời của Nguyễn Nghiễm, ông có 3 vợ và 13 người con. Ông ngoại Phong làm nghề thuốc nổi tiếng một thời. Bà ngoại Phong có 2 người con: mẹ Phong và một cậu. Có lần ông ngoại Phong vào Huế chữa bệnh, ở nhà cậu Phong bị đau bụng tiêu chảy, bà ngoại Phong không biết gì về thuốc, cho cậu uống thuốc phiện quá liều, sau vài tiếng cậu tắt thở trên tay bà. Lúc đó cậu chưa tròn mười tuổi. Chẳng bao lâu bà ngoại Phong buồn phiền, ngã bệnh và mất sớm.

          Phong nhớ rõ những đêm khuya uống rượu xong, ngồi trong buồng vẽ tranh để bán (vì sợ máy bay Mỹ phát hiện ánh đèn), anh thường vịnh Kiều cho Phong và mọi người nghe, giọng nghe vừa buồn, vừa thảm thiết… Có lần anh kể cho Phong nghe hồi cải cách ruộng đất, đội cải cách đem một gian nhà đầy sách của Nguyễn Du để lại chất thành đống ở sân rồi đốt, vì cho đó là tàn dư của Đế quốc Phong kiến. Sau này mỗi lần nhớ lại Phong thấy tiếc vô cùng, vì biết đâu trong số đó có tác phẩm của Nguyễn Du chưa được biết thì sao?

          Từ nhà anh sang nhà thờ họ Nguyễn và đền Voi Ngựa (mọi người thường gọi vậy vì có nhiều tượng voi ngựa, thực ra đây là đền thờ tể tướng Nguyễn Nghiễm) không xa lắm. Cả một thời kỳ rất dài mấy chục năm, chẳng riêng gì Tiên Điền mà cả miền Bắc chẳng ai thờ cúng, cũng chẳng có ai thăm nom, săn sóc nên cả hai nhà thờ trở nên tiêu điều hoang vu, chỉ có những cây đại già, dù nắng gió quanh năm vẫn lặng lẽ đơm hoa trắng, hoa vàng. Mấy cây thị già mấy trăm tuổi ở nhà thờ họ Nguyễn, khi nào cũng có vài ba tổ quạ. Cũng may có ai đó thông minh đã tung ra những chuyện hoang đường: nào là trong nhà thờ có rắn hai đầu, ma quỉ, tinh quái… nên cả hai nhà thờ không bị ai phá phách. Riêng đền thờ Voi ngựa, một tượng voi và một tượng ngựa bị ngã sõng xoài vì ô tô đi lại quá nhiều, đường bị lún. Còn mộ cụ Nguyễn Du hồi đó nằm ở một nghĩa địa bình thường, được đắp cao hơn một chút, không xây, có tấm bia bằng gỗ đơn giản khắc hai chữ: Nguyễn Du. Xung quanh mộ có bốn cây khuynh diệp trồng bốn hướng. Sau này chết hai cây do những đứa trẻ chăn bò bẻ cây làm củi để sưởi khi mùa đông tới.

          Một hôm anh đi họp về mặt thiểu não, buồn rầu gần như khóc, anh nói: Xóm và xã đã quyết định cả nhà anh phải chuyển vào chân núi Hồng Lĩnh để thành lập xã mới. Loại như anh được liệt vào diện tiểu tư sản nông thôn, phải đi đầu tiên. Hơn một năm sau vợ chồng anh mang về những củ sắn, vài ký gạo nếp do chính nhà anh trồng biếu mẹ Phong. Sau đó không bao lâu nghe tin anh thổ huyết, không kịp một lời trăng trối, đi luôn trong đêm giao thừa, lúc chưa đầy 50 tuổi.

          Mùa hè năm đó, sau khi gia đình anh chuyển đi Phong, em gái và người giúp việc phải chuyển về một xóm khác cách đó không xa, nhưng xa biển hơn nên Phong đỡ sợ hơn, trước đấy Phong hay sợ giặc đổ bộ từ tàu thủy ngoài biển vào. Về xóm này Phong có nhiều bạn mới. Phong vẫn thích chơi với thằng Tân. Nói là thằng nhưng nó hơn Phong ít nhất năm tuổi. Phong xem nó như thần đồng, cái gì nó cũng biết, mà biết một cách tinh vi và ma mãnh. Nó thường gọi Phong là “con cò hương” vì người cao nhưng lại gầy. Luôn chê Phong nhút nhát, chậm chạp, hiểu biết kém… Nhưng Phong không hề tự ái, khi nào cũng muốn theo nó đi chơi, rồi đến nhà nó ngủ để được nghe nó kể chuyện hay bày cho Phong cách chơi, hoặc sau những ngày gió Lào mang hơi nóng như lửa rát bỏng cả người nó lại tập bơi cho Phong trên dòng sông Lam trong xanh mát rượi những chiều hè. Phong thích lội ra xa để nhặt những bông hoa tra màu đỏ, màu vàng, hoa giống như hoa dâm bụt, nhưng cánh hoa dày như bông hoa gạo từ những cây tra mọc cạnh bờ sông rơi xuống rồi theo  nước thủy triều trôi về với biển. Có lần nó không muốn cho Phong đi tắm, nó liền nói:

          -Mày tắm sông coi chừng Hà bá đấy! Hà bá hay hiện lên thành con cua hay con tôm bơi ở gần bờ. Có lần một người trong làng cứ mải mê đuổi theo bắt, nó bò ra xa chỗ nước xoáy, người ấy bơi không kịp thì bị nước cuốn trôi đi.

          Từ ngày nghe nó kể một thời gian dài Phong không dám đi tắm ở sông nữa. Nó còn kể với Phong: Có con rắn già cả trăm tuổi hóa trăn tinh rất to và dài hơn cả cây sào, thường xuất hiện màu trắng như chất lân tinh ở cây bút đầu làng thường vào lúc nữa đêm. Mảnh ruộng gần nhà nó hay có ma bò vào những đêm không có trăng, có khi cả đàn ma bò xuất hiện trong đêm dậm nát cả ruộng lúa. Ma bò còn ác hơn cả ma người vì nó không những biết biến hóa mà còn có cặp sừng nhọn hoắt, đâm chết người. Phong liền hỏi:

          -Thế trong xóm mình đã có những ai bị ma bò đâm chết?

          -Đương nhiên là có, nhưng cụ thể là ai thì tao không biết.

          Cứ tối đến nó hay bắt Phong đi đóng các cửa chuồng gà. Đó là một trong những điều kiện để  Phong được nghe kể chuyện và chơi với nó. Sau khi nghe kể chuyện trăn tinh, ma bò Phong thường sợ đêm đến. Phong muốn thay đổi điều kiện đó bằng cách cho nó quà; khi quyển sách, khi thì bánh kẹo... Chiều vừa mới nhận quà, tối vẫn bắt Phong đi đóng chuồng gà, ức lắm nhưng vẫn phải làm. Có lần Phong sợ quá, đóng vội cửa chuồng gà nên không chặt. Đêm cáo vào được chuồng, cả đàn gà bay loại xạ trong chuồng, kêu quang quác. Mẹ nó và nó chạy ra thì cáo đã  bắt một con gà mái tơ gần đẻ. Mẹ nó tức lắm, chửi nó thậm tệ và tru tréo lên:

-Mày là đồ ăn hại, lại lười thối thây, chẳng làm nên trò trống gì. Tối đến chỉ có việc đóng cửa chuồng gà mà cũng không làm nổi. Nhà mình đâu có trâu có bò. Chuồng gà là cả gia tài của nhà mình! Mất con gà, sẽ không có trứng bán thì lấy đâu ra tiền mà mua quần áo, sách vở cho mày đi học? Con ơi là con ơi...

Và nó bị một trận đòn nhừ tử. Sáng hôm sau Phong bị ăn mấy cái tát rất đau làm hoa cả mắt. Không phải nó ức mẹ nó đánh nó, mà là nó ức Phong và quá tiếc con gà mái tơ sắp đẻ.

          Có lần nó bày cho Phong nằm sấp, chổng mông lên để đánh rắm. Nó làm như thế, nó đánh rắm được rất nhiều lần. Còn Phong thỉnh thoảng mới được một lần. Nó bảo phải tập được như nó, khi nào giỏi thì cứ đánh rắm vào trong một cái hũ nhỏ rồi bịt kín lại. Đến mùa đông lạnh, những cái rắm sẽ đông lại như sáp ong mật, ăn rất ngọt và thơm.

          Phong lại kể và bày cho mấy thằng bạn cùng lứa. Thằng Thắng nói luôn:

-Mày lại nghe con rùa ba hoa nói chứ gì(nó ám chỉ thằng Tân). Cứ thử làm và chờ mùa đông đến sẽ có những cục như cục sáp ong mật rất ngon và thơm! Phong phân bua để chúng nó tin:

-Không phải thằng Tân bày đâu. Tao nghe một ông già bày cho đấy.

          Thằng Thanh liền xen vào:

          -Mày ngu lắm! Bụng thằng Tân không lành vì háu ăn, hay bị tiêu chảy, bụng luôn chướng lên vì đầy hơi nên khi nằm chổng mông thì nơi đó sẽ cao nhất hơi thối thì sẽ thoát ra ở đó. Thế mày đã có hũ chưa hay mày lại mượn của nó? Chắc nó lại định lừa mày đấy, để mày mua hũ đất mà nó nhặt được ngoài bờ sông tuần trước đang định vất đi.

          Con sáo biết nói anh Sán tặng Phong trước lúc đi, Phong quý vô cùng, suốt ngày bắt cào cào, châu chấu, tiền ăn sáng cũng không dám ăn mà dành mua chuối cho chim ăn. Có hôm đi đâu về không nghe chim nói như mọi lần, Phong hoảng quá chạy đến bên chuồng chim, thì con chim đã chết, Phong khóc thét lên, đưa chim ra xem thấy miệng đầy vôi. Phong biết  thằng Tân cũng nuôi sáo, nhưng con sáo của nó không biết nói, hay nó ghen ghét nên đã giết chết con chim sáo của Phong chăng? Nhưng Phong sợ nó không dám hé lời nào.

          Hơn một tuần sau, đêm đến máy bay Mỹ ném bom, cả làng thành một chảo lửa, những tàn lửa theo gió bay cao, tiếng kêu tìm mẹ, tìm con, tiếng kêu cứu thất thanh…cả xóm chết mười mấy người, trong đó có Tân. Nó bị một mảnh bom to bằng quả ổi xuyên từ trước ngực ra sau lưng, một mảnh khác phạt lìa cánh tay. Sáng hôm đó Phong giúp các anh chị dân quân múc nước giếng rửa thân thể đầy máu của Tân. Tân được quấn trong 2 mét ni-lon chôn ngay ở đầu làng cùng mấy người khác. Lúc đó Phong đã khóc nức nở vì thương Tân, thương mọi người và căm thù bọn giặc Mỹ quá chừng.

          Cũng mùa hè năm đó, vào một buổi sáng rất đẹp, Phong cùng các bạn chơi bi ở sân gạch, thấy bà cố Dực là con dâu ông Nguyễn Công Trứ (Nguyễn Công Trứ có 20 người vợ và rất nhiều thê thiếp, ông cố Dực được bà vợ thứ 18 sinh ra lúc Nguyễn Công Trứ 80 tuổi. Ông cố Dực lúc 87 tuổi mới lấy bà cố Dực 23 tuổi) nằm sóng soài ở sân, máu ở đầu chảy ra lai láng đọng thành vũng. Lúc này người lớn đi làm hết, mấy đứa trẻ con đứa thì đi gọi người lớn, đứa thì chạy đi xin thuốc lào và cuối cùng không có thuốc lào Phong lấy bồ hóng trên trần bếp đắp lên vết thương cho bà. Sau này, mấy năm sau bà mất lúc nào Phong cũng không hay. Khi lớn lên Phong lấy làm tiếc cho các nhà sử học: nhân chứng sống về gia đình ông Nguyễn Công Trứ mà không ai khai thác.

 

                                                          *

          Tất cả cứ phai mờ theo năm tháng, riêng Phong - tuổi thơ, quê hương - tuổi càng già càng nhớ - một nỗi nhớ về cội nguồn, nó đã thành máu thịt đi theo suốt cả cuộc đời, dù đi hết cả một vòng Trái đất lúc nào trong lòng Phong luôn nhớ thương da diết, quê hương là nơi có những kỷ niệm đẹp nhất của đời Phong. Sau nhiều năm xa cách, hai anh em Phong trở về thăm quê ngoại Tiên Điền.  Hơn bốn mươi năm trôi qua Tiên Điền vẫn thế, vẫn là một làng quê rất nghèo. Phong và em thăm đền thờ Voi ngựa, nhà thờ họ Nguyễn, bây giờ chỉ còn miếu nhỏ để đơm hương hoa, những cây thị già ghi vào ký  ức của tuổi thơ Phong cũng không còn nữa. Đến thăm và chụp ảnh lưu niệm ở mộ cụ Nguyễn Du-khu mộ lúc này được xây thành một khu rất đẹp và trang nghiêm, có nhiều hoa, cây cảnh... hai anh em ghé thăm nhà bác Tuấn, cũng trong cánh họ Nguyễn, đúng lúc trên vai bác là gánh lá thông đầy mới đi cào ở núi Hồng Lĩnh về để làm củi. Mười mấy năm làm cán bộ tuyên huấn, Phó Chủ tịch, Chủ tịch huyện, lương hưu làm sao đủ sống. Bác mừng lắm khi gặp hai anh em Phong với bao nhiêu chuyện vui buồn. Phong cười nhắc lại với bác:

          Dưới cầu nước chảy trong veo

       Trên cầu tơ liễu, bóng viền thướt tha.

          Những năm 60 lúc bác còn là cán bộ tuyên giáo, nói sẽ xây dựng quê hương Tiên Điền như Nguyễn Du đã viết. Phong còn nhớ như in những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, bác còn bảo:

-Chính phủ đã quy hoạch rồi, sẽ lấy một số xã của huyện Nghi Xuân trong đó thị trấn, xã Xuân Tiên(khi hòa bình lập lại Tiên Điền được đổi thành Xuân Tiên) sát nhập vào thành phố Vinh, làm ai cũng mừng và cứ tưởng điều đó sẽ thành hiện thực trong thời gian rất ngắn. Lúc đó trở thành dân thành phố ai cũng có số lương thực, thực phẩm...chẳng phải làm ruộng vất vả nữa. Bây giờ đã hơn 40 năm rồi vẫn thế.

          Có lần bác còn nói:

          - khoảng cuối năm 1966, khi sân bay quân sự Vinh xây xong, lực lượng không quân Việt nam rất hùng mạnh, lúc đó không một máy bay nào của Mỹ dám bay vào vùng trời Nghệ An và Hà Tĩnh. Phong mừng lắm nghĩ chiến tranh sẽ không còn vùng quê Phong nữa. Phong rất vui nói với mẹ  điều đó. Mẹ Phong liền nói:

          - Nghe  mấy ông tuyên giáo nói thì cứ cho vào tai này rồi cho ra tai kia. Khi nào họ cũng nói “trên mồm (miệng) con chó, dưới mỏ con ga (gà)”. Nếu họ nói có sai cũng đừng trách họ làm gì, họ tham gia cách mạng lúc còn chưa biết chữ, sau cách mạng thành công, họ được đi học mỗi năm hai lớp ở các trường bổ túc Công Nông thì chỉ có trình độ thế thôi con ạ.

          Mẹ Phong nói đúng, chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt hơn, ngày cũng như đêm có tiếng bom nổ từ máy bay ném xuống, có lần hơn năm chục chiếc cùng một lúc trút bom, đêm đến pháo hay tên lửa từ tàu thủy Mỹ bắn lên thành phố Vinh và quê Phong. Hầu như ngày cũng có người chết và bị thương. Phong đã bao lần tiễn đưa các anh chị lên đường nhập ngũ. Dù họ vẫn biết gian khổ, thiếu thốn, đau thương,... cái chết đang chờ họ nhưng ai cũng vui vẻ, đầy nhiệt huyết và rạo rực niềm tin của tuổi thanh xuân. Hình ảnh những con người đấy vẫn đẹp nhất khắc đậm trong lòng Phong. Chiến tranh đã cướp đi biết bao nhiêu người con ưu tú, trẻ khoẻ, thông minh...Phong quên sao được cái cảnh bao nhiều gia đình có những người con hy sinh, có gia đình chỉ có được một người con  trai độc nhất mất tích ở chiến trường, họ chẳng hưởng được bất cứ quyền lợi gì. Hàng chục năm trời hai vợ chồng già khóc hết nước mắt, ai mách bảo gì cũng làm, chống gậy đi khắp nơi, đến các chùa chiền để cầu tự, cúm vái... cho con được sống để trở về, cho đến khi cả hai người gần trút hơi thở cuối cùng vẫn cố mở mắt tìm con. Chiến tranh hãy cút đi cho nhân loại được yên lành! Nhưng trớ triêu nhân loại là mẹ của chiến tranh, mà đã là mẹ thì làm sao vất bỏ đứa con mình đẻ ra!

          Hai anh em ghé thăm người chị họ xa, chị đã gần 70 tuổi, tóc bạc phơ, hom hem ốm yếu, vẫn ở trong ngôi nhà tranh vách đất ngày nào, trong nhà không có gì đáng giá. Chị ôm hai anh em vừa khóc vừa kể: Cháu trai đầu nhập ngũ chưa đầy ba tháng đã mất ở biên giới phía Bắc năm 79, hồi chiến tranh với Trung Quốc. Anh chồng chị mất cách đây vài ba năm do đau ốm lâu ngày không có thuốc men. Cháu trai sau, đói quá không có cái mà ăn, đi ăn cắp bị công an bắt, cũng chết trong tù. Phong không cầm nổi nước mắt trước hoàn cảnh của chị. Chị rót nước chè ( nói là nước chè, nhưng nước trong veo), gió Lào vẫn thổi, bụi mù mịt, trên bát nước một màng bụi bám đầy. Phong nhắm mắt cố uống cho chị an lòng và biếu chị 200 ngàn  đồng.

          Cách hơn đây 300 năm về trước vào triều Lê đã có câu ca dao nói về dòng họ Nguyễn Tiên Điền:

          Bao giờ ngàn Hống ( núi Hồng Lĩnh) hết cây

          Sông Rum (Lam) hết nước, họ này hết quan.

          Có thể nói, một dòng họ đại quí tộc bậc nhất một thời, mà bây giờ cả dòng họ Nguyễn Tiên Điền là thế đấy, đang lụi tàn theo thời gian! Hay ông trời đã công bằng cho muôn họ - dòng họ nào cũng có lúc thịnh lúc suy.

 

                                                          *

          Năm nay có dịp về làm mộ cho ông bà và các người cậu, các dì. Phong mừng và cảm động vô cùng khi biết mộ người em ruột của mẹ  Phong vẫn còn, Phong thầm cảm ơn những đã mất, đã chăm sóc phần mộ đó hơn 80 năm nay rồi. Phong ở quê hơn cả tuần Không thích phiền hà ai, Phong ở khách sạn nhỏ ở phố huyện, cũng khá đàng hoàng, đủ tiện nghi. Nhưng khách phần lớn thường là những cặp trai gái đến nghỉ lại hai ba giờ rồi trả phòng. Có lần người tiếp tân cũng là người dọn phòng hỏi Phong:

          - Anh có nhu cầu vui vẽ không? Em gọi điện thoại là họ đến ngay bây giờ. Phong không hiểu gì cả. Thế là người tiếp tân lờ đi luôn. Phong đi sang thành phố Vinh mua đá đen Ấn Độ và vật liệu xây dựng. Chỉ việc đặt hàng họ chở đến nơi rồi mới trả tiền. Phong và em gái Phong từ Úc về thay phiên nhau có mặt thường xuyên ở hiện trường, kiểm tra và đốc thúc công nhân.

          Quê bây giờ thay đổi quá nhiều. Đường huyện lỵ được rải nhựa. Thị trấn rất đẹp và khang trang, ban đêm đầy ánh điện lại có nước máy để dùng. Bên đường từ cầu bến Thủy về, rất ít gặp những ngôi nhà vườn như xưa, mà toàn là nhà hộp, nhà ống, có cả nhà xây cao bốn tầng, có máy điều hòa nhiệt độ. Nhiều nhà còn sắm cả ô tô hạng sang. Nhà ở bên đường hầu như nhà nào cũng có hàng quán, chẳng thiếu hàng hóa gì. Buổi trưa Phong thường đi ăn trưa ở vùng bến Thủy. Vì ở đó có con đường 1 chạy từ bắc vào nam, xe cộ đi tấp nập nên các tiệm ăn thường có thức ăn tươi sống. Có lần trên đường về, người công an mang hàm trung tá, đứng khuất sau một gốc cây bên đường chạy ra, giơ dùi cui cảnh sát vẫy xe Phong dừng lại và bảo:

          -Các anh có biết các anh đang vi phạm luật giao thông không? Khu dân cư chỉ lái tốc độ 40km/giờ. Xe các anh đã chạy trên tốc độ ấy đó.

Cậu lái xe năn nỉ xin, nhưng người sĩ quan công an nhất quyết không cho, cứ kiểm tra giấy tờ xe, bằng lái, giấy tờ tùy thân…, đòi phạt bằng hóa đơn hơn 1 riệu đồng. Máy đo tốc độ không có làm sao biết xe chạy quá tốc độ, Phong ức lắm, định cãi lại, nhưng cậu lái xe đưa mắt ra hiệu đừng can thiệp vào việc này. Phong hiểu ý, đành không nói gì cả và lãng ra. Cậu lái xe đưa 300 nghìn đồng kẹp vào giấy tờ và đưa cho anh công an. Thế là anh công an ra lệnh cho xe đi.

          Hôm sau Phong gặp Hiền bạn thân hồi nhỏ  hiện làm bí thư huyện ủy kể cho nhau nghe bao nhiêu chuyện vui buồn sau nhiều năm xa cách, vẫn không quên nhắc lần cuối gặp nhau ở sân bay Mátxcơva. Và sau cùng nói chuyện bị phạt xe trưa hôm qua, Hiền nói ngay:

          -Sao mà lúc đó không gọi điện ngay cho tao, thằng Kháng là em rể của tao đấy, nó làm công an ở Thị xã Hồng lĩnh, tao mới chuyển cho nó về đây chưa đầy một năm.

          Tối hôm ấy, Kháng mặc áo thường phục, đến khách sạn xin lỗi Phong và mời đi uống cà phê. Cậu ta phân trần, chuyện tế nhị lắm, em được cấp trên cho làm công việc này thì em cũng trả ơn cấp trên, hơn nữa sắp sửa chạy cho con sang làm ăn ở Tiệp, đồng lương thì không đủ-anh thông cảm cho bọn em và sau cùng đưa trả lại chiếc phong bì. Dù đã ở nước ngoài mấy chục năm nay, Phong vẫn hiểu và rất thông cảm hoàn cảnh làm việc bây giờ ở quê. Phong hỏi Khang:

          -Sao bây giờ bọn trẻ mới lớn lên ở quê mình lại nghiện hút nhiều thế? lại có cả bệnh si đa nữa.

          -Xã hội quá tự do, mà nhận thức người dân còn thấp anh ạ, lại cơ chế thị trường có nhiều cái hay, cái dở bởi luật lệ còn nhiều chỗ hở nên người ta dễ lách luật lắm, làm nghề như em bây giờ rất bí, lắm lúc không biết xử lý thế nào cho đúng anh ạ, Kháng trả lời.

          Ngày hôm sau đi ăn cơm về Phong lại thấy trung tá công an Kháng vẫn đứng rình chỗ khuất hôm nọ. Phong bảo cậu lái xe dừng lại biếu Kháng cây thuốc lá.

          Phong buồn cười nhất là quê Phong là vùng đất cao chưa bao giờ bị lũ lụt. Thế mà huyện lại xây bờ đê rất cao rộng có hai làn xe chạy, xây từ cầu bến Thủy qua Tiên điền, con đường đâm thẳng góc với con đường lên cầu nhưng lại thấp hơn nửa mét. Từ cầu không thể rẽ xuống con đường đê ven sông và ngược lại, nên không có một xe nào chạy được trên con đường này. Những bãi cỏ xanh rì dọc bờ sông, những cây liễu, cây tra, lũy tre...rủ bóng xuống dòng sông rất đẹp những trưa hè của ngày xưa đâu còn nữa. Phong thấy kỳ, gặp Quang bạn Phong làm trưởng phòng giáo dục huyện, chỗ thân tình liền hỏi luôn:

           -Ai đề xuất ra và ai thiết kế con đường như vậy hở mày? Con đường đó xe không lưu thông được, không để chống lụt mà lại gây úng lúc mùa mưa. Nhất là mùa mưa tháng 9 tầm tã hàng tháng trời của quê mình, nước trong núi Hồng Lĩnh đổ về chảy ra sông rất chậm.

 -Quê mình bây giờ vui và hay lắm. cũng nhờ nó tao mua được chiếc Camry đấy. Lúc làm đường tao thắng thầu hơn bốn cây số, sau đó tao thuê công nhân và kỹ sư làm.

          Phong ngạc nhiên hỏi:

   -Mày làm phòng giáo dục biết gì về xây dựng đường sá, cầu cống mà cũng được trúng thầu xây dựng đường hả?

   -Mày đúng là trên trời rơi xuống, chẳng hiểu gì về quê hương và đất nước bây giờ ra sao! với nụ cười rất thoải mái. Rồi nói tiếp: Tiền làm đường là tiền vay ODA, bao nhiêu người trở nên giàu có vì nhận được tiền đền bù, giá đất từ một triệu đồng/một mét vuông nhảy lên mười triệu, bao nhiêu người lại đi buôn đất. Mày còn nhớ thằng Bảo cùng học với tụi mình vay bao nhiêu tiền của ngân hàng và tư nhân để buôn đất, khi mua 9-10 triệu đồng/một mét vuông sau đó bán 2 triệu chẳng ma nào mua. Cuối cùng không trả được tiền lãi lẫn vốn, ngân hàng thu luôn cả đất lẫn nhà, bây giờ cả nhà nó đang sống cù bơ cù bất ở phương nào chẳng ai biết. Thôi bây giờ sang thành phố Vinh nhậu với tao một chầu, mày thích bia hay rượu?

          Cứ sáng sớm, bạn bè cũ lại đến khách sạn rủ  Phong đi ăn sáng và uống cà phê. Bụng Phong xấu nên ăn gì cũng dễ đau bụng đi ngoài. Phong chỉ bảo bạn đi mua cho Phong gói xôi không có thịt, không có trứng, đừng cho vào đĩa mà chỉ gói trong túi ni-lon sạch. Sau đó vào quán “Cà phê chồn” đẹp và sang trọng dáng dấp thành phố, có cả bộ dàn nghe nhạc rất xịn, lại có nhiều đèn nhấp nháy đủ màu. Ông chủ té ra là thằng An-nó là lớp đàn em dưới Phong vài tuổi nhưng hồi còn nhỏ cũng chơi rất thân. Phong nhớ hồi còn nhỏ có lần xe chở rượu cho cửa hàng thực phẩm của huyện đang cho chảy vào can nhựa, có lỗ hở nên rượu chảy xuống đất, An đưa miệng uống ừng ực, sau đó say rượu hai ngày liền vừa nôn vừa nói lảm nhảm như ma quỷ ám.

          An mở quán được dăm năm nay rồi, thấy Phong vào vui vẻ, nhiệt tình lắm và nhắc những kỷ niệm ngày xưa. An còn giải thích:

          -Cà phê chồn rất ít, con chồn thường chọn ăn những quả cà phê chín mọng, hạt cà phê lại được ngấm những men tiêu hóa trong ruột chồn nhưng không tiêu được nên nó ỉa ra, người ta nhặt những phân chồn có hạt cà phê đó rữa sạch, sấy khô rồi rang lên xay thành bột rồi pha, nước cà phê rất thơm và ngon hảo hạng. Phong hỏi lại:

          -Thế đến bao giờ người ta nhặt được bao nhiêu phân chồn để có được một kg cà phê? Mà chồn bây giờ lấy đâu ra người ta săn bắn hết rồi. An chẳng nói gì nữa.

          Uống cà phê xong, Phong không cho các bạn trả tiền, mà tự trả. Người thu tiền vẫn còn trẻ đẹp,  Phong không quen biết, nghe một bạn nói đó là vợ của An, người xã Xuân Hải. Tám ly cà phê thì tính thành 9. Phong không nói gì cả và nghĩ thôi lâu lâu về quê thì đóng góp cho quê, có sao đâu.

          Còn người bán xôi chính là bà Thu, thế hệ với mẹ Phong vẫn còn sống Phong không nhận ra nữa, vì bà đã già quá, mặt nhăn nheo,thế mà bây giờ vẫn bán xôi với đứa con nuôi đã nhiều tuổi chẳng có chồng con gì cả. Hồi Phong còn bé, ông Thu làm nghề sửa xe đạp, ông có chiếc xe mô tô ba bánh hay đi săn ở núi Hồng lĩnh, có lần săn được một con trăn rất to và dài như cây sào, cả thị trấn ai cũng đến xem. Ông mất sớm, bà Thu còn trẻ đẹp ở một mình. Nhiều ông có vợ con rồi vẫn muốn léng phéng nên bà Thu luôn bị các bà vợ đánh ghen.

          Khi xây mộ, Phong thấy những người chăn bò, chăn trâu không phải là trẻ con mà toàn là người lớn. Hồi còn nhỏ, chỉ trẻ con mới đi chăn trâu bò. Bây giờ thì không thế được. Một con bò hay con trâu cả chục triệu đồng, ai dám giao cho trẻ con, kể cả chó hễ chạy ra đường người ta cũng bắt đi lúc nào không hay, chứ đừng nói trâu bò.

          Phong thấy rất thương người chị Oanh, chị họ Phong. Khi bố chị gần mất có trối trăng có một người con riêng ngoài luồng tên là Tài hiện đang làm giám đốc một công ty cổ phần vào loại lớn. Chị thấy anh em Phong từ nước ngoài về cũng có tí gì sang trọng, chị nhờ đi nhận em cùng cha của chị. Hai anh em Phong vui vẽ nhận lời, cả ba người đến tận công ty tìm đến phòng giám đốc Tài, nhưng anh ta không thèm tiếp và nói đúng một câu:

          -Cách chị chắc đã nghe nhầm một người lúc trăn trối! Cả ba người chưng hửng thất vọng ra về. Nhưng Phong thấy anh ta rất giống hệt chị Oanh từ đôi mắt, mũi, miệng... Chắc bây giờ có quyền cao, chức trọng và giàu có nên không muốn dây vào kẻ nghèo khó. Mà nào chị Oanh có cần gì ở anh ta đâu, vì thương người bố đã mất và nghe lời ông dặn để đi tìm máu mủ của mình.

 

                                                          *

          Phong thấy cảm động nhìn những người thợ và ông chủ thầu làm việc tỉ mỷ, say mê và hết mình, Phong nói gì họ đều chú ý lắng nghe chiều theo ý khách hàng và làm rất tốt.

          Dòng đời vẫn chẳng bao giờ ngừng chảy, nó giống như những dòng sông, dù muốn hay không muốn vẫn cứ phải chảy về với biển, thầm lặng mang phù sa màu mỡ cho đời. Dòng đời cái tốt bao giờ vẫn nhiều hơn cái xấu, những con người tốt, chân chính lao động bao giờ cũng là số đông, chính họ mới thực sự quyết định tồn tại xã hội con người, và thúc đẩy xã hội tiến lên giàu có, văn minh, công bằng...

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *