Văn học nước ngoài

27/7
11:44 AM 2015

"Trong vườn trúc" - Truyện ngắn song ngữ Việt - Pháp

VanVN.Net - Truyện ngắn “Trong vườn trúc” của Trần Thanh Giao đăng báo Văn nghệ năm 1993, được tác giả dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Anh đầu tiên đăng trênThe Vietnam Literature Review của Hội Nhà văn Việt Nam số 1/1999, sau đó Nam Son, rồi Wayne Karlin dịch lại và in trong sách Love After War, Nxb Curbstone Press ở Mỹ năm 2003. Sau đây là bản dịch tiếng Pháp do tác giả chuyển ngữ.

Cuộc gặp bà người Mỹ tại Quán Trúc đối với tôi thật bất ngờ. Bữa đó, tôi đang lúi húi nấu cơm chiều thì có tiếng chuông điện thoại vang lên. Đầu dây kia, một giọng nói miền Bắc quen quen:

– Anh Minh phải không ạ? Em Quang đây!

Tôi reo lên:

– Vào bao giờ đấy?

– Vừa vào tới nơi! La-ry, nhà văn Mỹ cựu chiến binh mà anh đã gặp ở Sài Gòn lần trước có gửi cho anh một lá thư. Quan trọng lắm! Anh đến ngay Quán Trúc gặp em. Em đợi đây nhé!

– Gì mà gấp dữ vậy? Bảy giờ tối được không?

– Không được! Anh phải đến ngay! Em sẽ giải thích…

Thế là cúp máy.

Tôi bỏ cả cơm nước, lấy xe lao đi.

Quang đợi tôi ngoài cửa quán. Đây là một quán giải khát thanh lịch, với khoảng sân rộng trồng mấy bụi trúc ngà, mỗi lóng trúc vàng óng, chạy dọc hai sợi xanh, ban đêm, những bóng đèn quả ớt, đủ màu nhấp nháy trong vòm lá. Mỗi lần Quang đưa khách vào thành phố, chúng tôi hay gặp nhau ở đây. Quang vừa bắt tay thật chặt, vừa lôi tôi đến cái bàn tròn đặt dưới một bụi trúc, cạnh bể cá bảy màu xinh xắn. Tôi hơi ngỡ ngàng, gật đầu chào một bà khách người Âu mắt xanh, gương mặt già nua mệt mỏi và mái tóc uốn đã bạc phơ. Cùng ngồi một bàn, còn có người đàn bà Việt Nam đứng tuổi, ăn mặc xềnh xoàng, đôi mắt đen lúc nào như cũng nhìn ra xa xăm… Quang giới thiệu tôi và khách:

– …Đây là bà Uyn-xơn, người mà La-ry viết thư gửi gắm cho chúng ta… còn đây là chị Lê Minh Hiển, nhà ngoại cảm, chắc anh đã nghe nói đến…

Tôi lờ mờ đoán ra vấn đề khi nghe tên nhà ngoại cảm này. Nhưng tôi cũng rất áy náy vì nghĩ mình sắp dính líu vào một chuyện rất tế nhị và nghiêm túc nhưng cũng hết sức mông lung.

Bà khách bắt tay thật nhiệt tình, hỏi tôi uống gì rồi mở xắc lấy ra một bức thư. Đôi mắt mệt mỏi của bà ánh lên trong khoảnh khắc tia sáng của niềm hy vọng và sự khẩn cầu. Gió chiều thổi lào xào trong vòm trúc.

Tôi bối rối mở thư ra đọc. La-ry viết đại ý: Bà Uyn-xơn là mẹ của E-ric Uyn-xơn, bạn chiến đấu cùng đại đội với La-ry trong Sư đoàn Tia chớp nhiệt đới. Hôm đó, một ngày hè năm 1967, đơn vị anh mở trận càn vào Củ Chi. Giao tranh ác liệt. Anh bị thương ở chân. Còn E-ric Uyn-xơn cũng bị thương, nhưng ở bụng. La-ry bò đi tìm cứu thương, sau đó ngất đi. La-ry được đơn vị cứu sống. Còn E-ric thì… mất tích. Sau hơn 20 năm tìm kiếm tông tích con mình, bà Uyn-xơn lần tới đầu mối cuối cùng là La-ry, người nhìn thấy con bà bị thương giữa trận chiến. Biết được anh mấy năm nay có quan hệ khá gắn bó với Việt Nam, bà nhờ anh giúp đỡ. Đã nhiều năm, La-ry bỏ công tìm kiếm E-ric, mấy lần sang Việt Nam, anh cũng có ý tìm, nhưng chưa ra manh mối. Bây giờ, bà Uyn-xơn đến, sự day dứt đã đến mức không còn chịu đựng nổi. Vì vậy, “trăm sự nhờ cậy vào các bạn Việt Nam!” Và dòng tái bút: Mọi chi phí, bà Uyn-xơn sẽ lo liệu chu đáo!…

Đọc xong thư, tôi cứ thẫn thờ, không biết nói năng ra sao, chỉ nhìn những lá trúc vàng khô cùng với thời gian rơi thành một tấm thảm dưới chân…

Bà Uyn-xơn gượng cười, lấy ra một tấm ảnh đưa tôi xem:

– Đây là E-ric.

Chàng trai trong ảnh mặc quân phục Mỹ, mũ ca-lô đội lệch, miệng nở nụ cười buồn. Bà Uyn-xơn tiếp:

– Nếu E-ric còn, bây giờ nó trạc tuổi ông Quang. Có phải không ông Quang nhỉ?

Quang gật đầu, giải thích cho tôi:

– Mọi dữ kiện vỏn vẹn có vậy. Anh em ngoài đó đi hỏi khắp nơi nhưng rốt cuộc thấy chỉ có cách là nhờ cậy chị Hiển đây. Em được giao việc này. Và em đưa bà Uyn-xơn về Thái Bình tìm chị Hiển. Chị nghe xong bảo: “Ít ỏi quá! Khó đấy”. Bà Uyn-xơn đã thất vọng… Mà chuyện này tế nhị quá. Vì bà Uyn-xơn có thể không tin “con người ăn cơm dương gian lại có thể nói trúng chuyện âm phủ”. Hơn nữa, bà có thể nghi ngờ về một chuyện… lừa đảo gì chăng? Em lúng túng quá, cố giải thích cho bà… Bà nghe xong, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Tôi tin rằng ở Phương Đông có thể có chuyện thần bí. Dù sao, tôi cũng đã đến đây. Hơn 20 năm nay, tôi đã làm hết mọi cách. Bất cứ cách gì, dù khó tin đến đâu, tôi cũng chấp nhận. Điều tôi cần là tìm ra hài cốt con tôi. Còn làm cách nào để tìm ra, dù là cách phi lý nhất, tôi cũng cho là không quan trọng…”. Chị Hiển nghe em dịch lại, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo: “Để em xem ý Thánh xem có được không…”. Chị mượn tấm hình E-ric, đặt lên bàn thờ Thánh tổ của chị, rồi thành kính đốt hương lầm thầm khấn vái. Bà Uyn-xơn theo dõi mọi động tác của chị Hiển, nét mặt rất chăm chú và căng thẳng. Sau đó, chị Hiển cầm hai đồng tiền trong cái đĩa cổ trên bàn thờ, gieo quẻ. Chị gieo tới ba lần. Xong xuôi, chị quay lại nói với bà Uyn-xơn: “Tình mẫu tử của bà đã động đến đất trời! Thánh đã cho tôi giúp. Vậy thì thế này: ông nhà văn Mỹ nào đó đã vẽ cho bà cái sơ đồ chỗ ông ấy và con trai bà bị thương. Ta vào Nam, tìm đến nơi ấy, may ra tôi có thể lần dò được tin con trai của bà…”. Đó là lý do bà Uyn-xơn và chị Hiển có mặt hôm nay ở đây…

Tôi ngẫm nghĩ một hồi rồi hỏi Quang:

– Vậy thì tôi giúp được gì trong việc này?

Quang cười, lúng túng:

– Em nghĩ… Chuyện này tế nhị quá… Cần phải có người quen biết với chính quyền địa phương. Bởi vì… một bà già Mỹ, một bà “thầy” Việt Nam… đi lang thang giữa đồng… Sẽ dễ có chuyện rắc rối… Rồi giả dụ như “thầy” tìm ra, tìm trúng… thì chuyện bốc mộ và hài cốt mang về Mỹ cũng thật chẳng đơn giản chút nào. Lại còn bọn người tham lam, cơ hội nữa…. Chúng đánh hơi thấy thì thật nguy hiểm. Ai bảo vệ tình mẫu tử thiêng liêng? Ai bảo vệ lòng nhân cao cả chống sự tham lam độc ác. Rồi còn tình bạn vừa nhen nhóm nhưng đã tin cậy giữa chúng mình với La-ry. Phải có các anh ở đây. Nếu không e hỏng việc mất…

Tôi nhìn Quang, mỉm cười gật đầu và quay sang bà Uyn-xơn:

– Xin bà yên tâm, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình…

Ít hôm sau, vào một buổi sáng sớm, đoàn chúng tôi rời thành phố, hướng về phía Củ Chi sau khi đã chuẩn bị khá chu đáo cho chuyến đi. Mấy bữa nay, trời mưa suốt, tuy chỉ mới vào đầu mùa mưa. Những đám mây nặng nề che khuất mặt trời hè nhiệt đới. Không khí ẩm ướt lùa ngược vào xe. Bà Uyn-xơn lặng lẽ quay kính cửa xe lên. Cô Hiển thì tựa đầu vào thành ghế, mắt lim dim. Mỗi lần xe xóc, cô lại mở mắt nhìn tôi, như muốn hỏi đoạn đường còn bao xa nữa. Tôi bắt chuyện:

– Cô Hiển làm việc này đã lâu chưa?

– Cũng mới mấy năm thôi anh ạ. Từ sau cái vụ em chết hụt do điện giật. Chả là năm đó xã em kéo điện về… Từ bé đến lớn, em đã biết dùng điện đâu. Lớ ngớ thế nào rồi bị…

Cô nở một nụ cười, và tôi thấy hai mắt cô bỗng trở nên dài dại. Quang ở ghế trên quay xuống nói:

– Chị Hiển, hồi chiến tranh, đi thanh niên xung phong làm đường gần Ngã ba Đồng Lộc. Bây giờ, thỉnh thoảng chị vẫn gặp và nói chuyện với mười cô gái ấy. Chị bảo: Họ đã hiển thánh cả rồi và thường giúp chị cứu mọi người trong những cơn tuyệt vọng!

Rồi anh kể lại cho bà Uyn-xơn nghe câu chuyện mười cô gái trắng trong hy sinh vì bom Mỹ trong khi sửa đường chi viện cho miền Nam ở Ngã ba Đồng Lộc. Cuối cùng anh không quên nói rằng chính những cô gái ấy đang giúp Hiển trong việc tìm kiếm E-ric hôm nay! Tôi thấy bà Uyn-xơn nước mắt chảy dài qua câu chuyện.

Đến huyện lỵ Củ Chi, chúng tôi ghé vào Ủy ban để đón một anh cán bộ đã từng là du kích địa phương, rành rẽ địa hình tại đây mà tôi đã liên hệ được qua dây nói mấy ngày nay, sau khi hỏi dò bạn bè kháng chiến cũ.

Xe chúng tôi rời quốc lộ, tiến vào một con đường đất đỏ. Hai bên đường, đồng ruộng chạy dài. Mới đầu mùa mưa nhưng năn lác và cỏ dại đã bật dậy xanh um sau gần nửa năm ròng nắng hạn. Sáu Tâm – tên anh cán bộ huyện – ngồi phía trước, cầm sơ đồ do La-ry vẽ đặt trên đùi. Anh bảo xe chạy chầm chậm và bắt đầu quan sát hai bên đường. Xe chạy qua một cái cống thì Tâm đột ngột kêu dừng lại. Chúng tôi xuống xe. Tâm đứng quan sát cánh đồng, tiến tới trước chừng vài trăm mét, nghiêng nghiêng ngó ngó, phóng mắt ước lượng mọi cự ly xung quanh… Bà Uyn-xơn không bỏ sót một cử chỉ nào của anh. Và, trong ánh mắt bà, tôi đọc thấy những ý nghĩ về hình ảnh đứa con thân yêu, hơn 20 năm về trước, cũng trong một buổi sáng trời âm âm như vầy, đang dàn đội hình, lăm lăm tay súng tiến về cái xóm nhỏ nằm nép dưới những rặng trúc xa xa kia… Bỗng Tâm quay lại đi về phía chúng tôi một đoạn, rồi gọi, giọng quả quyết:

– Anh Minh, anh Quang! Chỗ này đây!

Chúng tôi chạy đến. Tâm nói, giọng xúc động:

– Đúng chỗ này! Mấy anh tham gia trận chống càn hồi đó nói chỗ này đã xảy ra giao chiến ác liệt! Sơ đồ La-ry vẽ cũng gần đúng. Còn cái cống, mấy năm nay đã làm mới lại, vì dòng kênh đã được nắn lùi xuống để lấy nước kênh Đông. Cái cống cũ nằm đúng nơi đây.

Tâm dậm dậm chân trên bờ đất. Quang và tôi đều đưa mắt nhìn Hiển. Hiển không nói năng gì, lặng lẽ rút nắm hương trong cái làn bằng mây cô xách theo tay và châm lửa. Nắng đã ửng. Trời đất oi nồng. Không gian không có một ngọn gió. Cây cỏ đều im phăng phắc. Bầu trời báo hiệu một cơn mưa lớn buổi chiều.

Hiển giơ cao nắm nhang. Mùi hương ngan ngát tỏa rộng trong không gian. Đôi mắt Hiển đứng sững, mở to, đồng tử dãn rộng ra, gương mặt trông dài dại. Tôi liếc nhìn bà Uyn-xơn. Gương mặt bà cũng thật lạ. Bà chợt rùng mình, ghé vào tai tôi nói thầm:

– Gương mặt cô ấy giống hệt gương mặt một cô gái đồng trinh.

Tôi xác nhận:

– Tôi cũng thấy thế. Đó là gương mặt của một cô gái Đồng Lộc.

… Bà gật đầu thật nhanh.

Bỗng Hiển nói giọng như vang từ xa đến:

– Tôi đã nhìn thấy anh ấy. Anh ấy ôm một khẩu súng, nằm đây…

Cô thong thả tiến mấy bước đến gần miệng chiếc cống. Và cô nói:

– Anh ấy đứng lên… Và anh ấy bị thương ở bụng, ngã xuống.

Bà Uyn-xơn kêu lên:

– Con ơi! Đúng nó rồi! Tôi cũng vừa nhìn thấy nó!

Bà vật vã, quằn quại như chực đổ xuống. Tôi và Quang phải vội vã đến đỡ bà. Bà rên rỉ:

– Tôi vừa nhìn thấy nó! Các anh có tin tôi không?

Cả hai chúng tôi đáp cùng lúc, như một tiếng vang:

– Chúng tôi tin. Hoàn toàn tin!

Hiển hầu như không để ý gì đến chúng tôi. Cô mải mê theo đuổi cái bóng mà mình nhìn thấy:

– Tôi nhìn thấy rõ gương mặt anh ấy rồi. Đúng như bức ảnh. Nhưng gầy hơn và râu ra tua tủa… Anh bị thương và anh bò đi…

Giữa trời nắng hanh không một sợi gió, bỗng khói hương trên tay Hiển lay động và nghiêng về một hướng trước mặt, phía cánh đồng. Rồi chẳng để ý gì đến ai, cô bước thẳng xuống ruộng, nước lấp xấp, năn lác và cỏ dại vừa lên xanh. Cứ thế, cô theo sự dẫn dắt của ngọn khói mà đi. Bà Uyn-xơn bước liền theo, chẳng kể giày dép. Chúng tôi cũng vội bước lên, nâng đỡ cho bà.

Khói hương bỗng đứng thẳng. Hiển lại dừng, lẩm bẩm: “Anh ấy mệt quá…”. Một lúc, khói hương lại tỏa về phía trước. Hiển lại đi. Bà Uyn-xơn và chúng tôi, bước thấp bước cao, theo sau, chậm chạp như lần theo vết trườn đi của người lính Mỹ bị thương đang bò phía trước. Nhưng tôi chợt nhận ra một điều thật lạ: Hướng vươn tới tìm cái sống của người lính Mỹ bị thương năm đó, lại là hướng đi về cái xóm nhỏ nằm nép mình sau những vườn trúc, cái xóm mà anh đã định xách súng lên, bắn vào. Nhìn bao quát chung quanh, tôi chợt hiểu: Đó là hướng gần nhất có con Người!

Cuộc đi bộ băng đồng thật là vất vả và kéo dài tưởng như vô tận. Song Hiển và bà Uyn-xơn, hai người phụ nữ của đoàn, trong đó có một người chưa hề biết lội qua ruộng nước, lại tỏ ra dẻo dai hơn cánh đàn ông chúng tôi. Tôi nhận ra đúng là có một sức mạnh siêu nhiên đang giúp họ vượt qua cơn tuyệt vọng. Có lúc khói hương bay thẳng đứng rất lâu, khiến tôi tưởng dưới đất này chính là nơi E-ric đã nằm lại. Nhưng không, khói hương lại tiếp tục tỏa về phía trước. Hiển, rồi bà Uyn-xơn lại tiếp tục bước đi, bất chấp cái nóng vàng ong, oi bức khó chịu trên đầu và hơi nước hầm hập cùng gai góc đồng bùn đang cố níu lấy chân họ lại. Tôi mệt mỏi, ngước mắt nhìn lên. Trước mặt tôi hiện ra một vườn trúc xa xa và một mái nhà tranh thấp thoáng…

Luồn qua mấy rặng trúc lá mỏng và dài, mảnh mai nhưng sắc bén, những cành trúc la đà, mềm mại ken dày, móc rách cả vai áo bà Uyn-xơn, khói hương đưa chúng tôi trổ ra bên hông một ngôi nhà tranh nhỏ nhắn. Từ cái nắng trưa gay gắt, oi nồng, chúng tôi bước vào vùng bóng râm mát rượi của hàng trúc xanh um. Và tôi chợt ngạc nhiên, vui mừng, vì trước mắt tôi là một bà cụ già đang ung dung ngồi đan những chiếc rổ, nan vót từ thân trúc. Bà cụ dừng tay, nhìn chúng tôi, cũng không kém phần ngạc nhiên. Tôi bước tới, mở lời chào rất tự nhiên theo kiểu Nam bộ:

– Má đươn rổ à?

– Ừ! Con đi đâu đây?

Má ngước nhìn tôi. Đôi mắt già hiền hậu lướt qua tôi và mọi người trong đoàn, rồi ngừng lại nơi bà Uyn-xơn. Tôi thấy những nếp nhăn trên gương mặt má hiện rõ lên. Những nếp nhăn đó, tôi cũng thấy trên gương mặt bà Uyn-xơn, nếp nhăn như bị sự khắc khoải mong chờ vò đi vò lại qua năm tháng.

Chợt má đứng dậy, cho tay vào túi cái áo sờn gấu, vá vai, lấy chiếc khăn nhỏ ra lau mắt. Miệng má móm mém hỏi:

– Bà đây là ai?

Sáu Tâm nhanh nhảu, trả lời vắn tắt. Nghe xong, má chợt sững lại, rồi lập cập nói:

– Mời, mời… vô nhà chơi…

Nhà cửa tềnh toàng. Cái bàn, cái ghế ọp ẹp, long chân… Cái chén uống nước sứt mẻ… Một bàn thờ đặt trên nóc tủ cũ kỹ, mộc mạc với một bát nhang và ba bức ảnh, nước thuốc đã ngả màu. Ba tấm bằng “Tổ quốc ghi công”…

Bà Uyn-xơn rụt rè đưa ra tấm ảnh của E-ric và nói với giọng hồi hộp trong khi Quang dịch lại cho má:

– Thưa bà, đây là con trai tôi… Bà có bao giờ nhìn thấy nó không?

Má run run đưa tay đón nhận bức ảnh, ngắm nghía giờ lâu. Tôi thấy cả người má căng thẳng, run lên. Gương mặt má bỗng nhiên biến đổi. Từ đôi mắt già, hai giọt nước lăn xuống cặp má nhăn nheo. Bà Uyn-xơn cuống quýt hẳn lên. Bà lập cập nhắc lại câu hỏi, giọng nghẹn ngào vì nỗi tuyệt vọng dồn nén hơn hai chục năm giờ sắp vỡ trào ra:

– Lạy chúa!… Bà có bao giờ nhìn thấy nó không?…

Má lặng lẽ gật đầu! Bà Uyn-xơn run lên cầm cập…

Má lặng lẽ mở chiếc tủ cũ kỹ, mộc mạc, lôi ra một cái bọc nhựa. Từ bọc nhựa đó, má lại lôi ra một bọc nhựa thứ hai, và từ bọc nhựa thứ hai, lôi ra một cái gói. Mở cái gói với hai, ba lớp giấy, má lấy ra một tấm lắc và một bức ảnh. Rồi má lại lặng lẽ, hai tay đỡ nhẹ, đến tận nơi trao tất cả vào tay bà Uyn-xơn. Tôi nhìn vào bức ảnh và trong khoảnh khắc, tôi thấy rõ ràng, không thể nào nhầm lẫn, hình E-ric tươi cười chụp chung với vợ đang bế đứa con trai! Còn tấm lắc thì khắc mấy chữ ERIC WILSON. Bà Uyn-xơn hét lên một tiếng, úp những di vật ấy vào tim, rồi ngất xỉu…

Một lúc sau, khi chúng tôi giúp lay gọi bà Uyn-xơn, má vẫn lặng lẽ ngồi, nước mắt cứ chảy. Việc đầu tiên bà Uyn-xơn làm khi tỉnh lại là đến ôm chặt má, nước mắt đầm đìa:

– Cầu Chúa phù hộ bà! Xin bà cho biết thêm về con tôi… Mộ nó hiện ở đâu? Bà có biết xin chỉ giùm… Cảm ơn bà, ngàn lần cảm ơn bà…

Má gật đầu… Nhưng má chưa trả lời vội. Má lặng lẽ đứng lên, đến chỗ bàn thờ. Tôi thấy trong ít phút qua mà má như đã trải thêm hàng mấy năm trời, lưng còng thêm xuống. Má rút mấy nén nhang, châm lửa thắp lên. Má đưa lên trán, khấn vái lầm thầm…

Rồi má gọi Quang đến, bảo dịch lời của má cho bà Uyn-xơn:

– Đây là hình của chồng tôi. Ông ấy là du kích chống thực dân Pháp, bị Pháp giết, hài cốt hiện đang chôn ở nghĩa trang liệt sĩ của huyện. Còn đây là thằng con lớn. Nó hy sinh trong kháng chiến chống xâm lược Mỹ ở Tây Ninh. Mộ phần nó cũng hiện đang được anh em xây cất chu đáo ở trên ấy.

Bà Uyn-xơn nghe Quang dịch, vội đến bên bàn thờ, nắm chặt lấy tay má mà nước mắt chảy dài.

Má lặng lẽ cầm xuống cái hình thứ ba, nhìn vào mắt bà Uyn-xơn:

– Đây là đứa con trai út của tôi… Nó bị mất tích trong chiến tranh. Bà có bao giờ nhìn thấy nó không? Xin chỉ giùm… Ngàn lần cám ơn bà…

Bà Uyn-xơn ôm chặt tấm hình người con trai vào tim, nỗi niềm tuyệt vọng của người mẹ bỗng vỡ trào ra thành tiếng nấc...

Sau đó, má đưa chúng tôi ra vườn trúc. Trong buổi trưa oi nồng, lá trúc mảnh mai mà sắc bén đan dầy, trùm lên khu vườn mát rượi. Một ngọn gió thổi nhẹ. Những cành trúc nhấp nhô. Lá trúc xào xạc, thì thầm. Má dắt bà Uyn-xơn đến dưới một khóm trúc già, chỉ vào một mô đất gò lên mà lá trúc rơi đầy phủ dầy qua năm tháng. Một hòn đá nhỏ, thay cho mộ bia. Má nói:

– Nó nằm đây. Chính tay tôi đã chôn nó. Chỉ có mỗi một mình tôi… Lúc đó, tôi nghĩ mình là mẹ nên chắc có một ngày, người mẹ sẽ đến tìm con…

Bà Uyn-xơn cắn môi, ôm chặt bà má Củ Chi. Rồi bà Uyn-xơn đổ xuống, phủ phục trên tấm thảm trúc che dầy gò mộ, cả người run lên vì nỗi đớn đau tột cùng của người mẹ.

Lâu lắm, bà Uyn-xơn mới đứng lên lau nước mắt và lúng túng rút trong ví ra một bọc tiền lớn, nhờ Quang nói giúp với má:

– Hết sức cảm ơn! Và xin bà cho tôi mang hài cốt con tôi ra khỏi vườn trúc này…

Má lắc đầu:

– Nắm xương của đứa con út tôi, tôi chưa tìm được. Chẳng lẽ tôi lại bán cho bà hài cốt của con bà sao?

Bà Uyn-xơn vội xua tay:

– Không, không. Mong bà đừng hiểu lầm. Tôi mong muốn giúp bà tìm ra người con út…

Má lặng lẽ lắc đầu:

– Tôi chưa tìm ra. Nhưng con tôi đang nằm ở đâu đó trên đất nước tôi. Rồi cũng có người đắp điếm mộ phần cho nó, hương khói hàng năm cho nó. Làm việc nhân đức thì sẽ để đức cho con. Ông bà chúng tôi hay nói vậy…

Bà Uyn-xơn bối rối, quay sang cô Hiển:

– Mong bà cầm tạm… Đây là lòng biết ơn của tôi… Và nhờ bà tìm giúp người con của bà cụ đây…

Khi Quang dịch lại thì Hiển mỉm cười, lắc đầu:

– Thưa bà, tôi sẽ tìm nếu Thánh bảo rằng sẽ tìm được… Tôi làm vì mẹ tôi đây, tôi không thể lấy tiền!

Quang chỉ vào bà mẹ Củ Chi và nói với bà Uyn-xơn:

– Người duy nhất đáng được cảm ơn là mẹ chúng tôi đây, thưa bà… Còn người con của mẹ, anh ấy sẽ nhập vào hồn thiêng của đất nước chúng tôi mà nâng đỡ con người trước những cơn tuyệt vọng…

Bà Uyn-xơn cắn chặt môi, mãi mà không nói nên lời. Lúc sau, lấy hết cố gắng, bà nói giọng nghẹn ngào đầy nước mắt:

– Qua chuyến đi tuyệt vời này, tôi hiểu thêm được đất nước và con người Việt Nam. Bây giờ tôi đã hiểu vì sao các ông thắng trận. Chỉ tiếc là con tôi đã mất. Nếu không, tôi chắc chắn nó sẽ là một người bạn tốt của Việt Nam.

Trời đã ngả chiều… Gió nổi lên, hứa hẹn một trận mưa xua tan cái oi bức nặng nề. Vườn trúc cong những ngọn mềm mại, dịu dàng như múa. Lá trúc thầm thì, xào xạc… Vài cái lá vàng khô xoay tròn theo gió, rơi xuống phủ trên tấm thảm trúc dầy…

 

                                                                                                                     Tháng7-1993

AU BOSQUET DES BAMBOUS

(Trong vườn trúc)

                                                         Traduit par Tran Thanh Giao                   

 

 La rencontre avec une dame américaine au café Truc fut pour moi une grande surprise. Ce soir-là, quand j’étais bien occupé à préparer le dîner, sonna le téléphone. A l’appareil, une voix à l’accent du Nord et qui m’était familière:

 - C’est toi, Minh. De moi, Quang!

Je m’écriai:

- Quand est-ce que tu es arrivé?

- Tout juste. Larry, l’écrivain américain et vétéran dans la guerre contre le Vietnam que tu as rencontré d’ailleurs, t’envoie une lettre. Très important! Viens tout de suite au café Truc. Je t’attends.

- Quelle hâte! A dix-neuf heures, entendu?

- Non! Non! Tu dois venir tout de suite. Je t’en expliquerai.

Et il accrocha.

Je laissais le repas à côté, pris ma Honda et l’y accélérais.

Quang m’attendais devant le café. C’est un café assez chic, entouré d’un jardin spacieux où poussent des buissons de sasa pumilas* dont les tronçons d’un jaune d’or avec deux traces vertes courant verticalement. Le soir, les ampoules de forme de piments clignotaient dans le feuillage. Chaque fois que Quang accompagne ses hôtes en ma ville, c’est ici que nous nous rencontrons. Venant vers moi, il me serra la main fermement et me guida à une table ronde posée au dessous d’une touffe de sasa pumilas, près d’un aquarium de poissons à sept couleurs. Surpris, je baissai la tête et saluai une étrangère caucasienne aux yeux bleus dont le visage, avec des rides de l’âge, était si triste, et dont la chevelure était toute blanche. A côté d’elle, était assise une Vietnamienne d’un âge mûr, siplement abillée, dont les yeux sombres sont perdus vers le lointain... Quang me présenta aux deux étrangères:

- ... Madame Wilson que Larry nous confia. Mlle Lê Minh Hiển, la voyante dont sans doute, tu as déjà entendu parler.

Vaguement, je comprenais de quoi il s’agit quand j’entendis le nom de la voyante. Une inquiétude s’emparait de moi car j’eus peur d’être mê1é dans quelque chose de délicat, mais qui pourtant, était aléatoire.

 L’étrangère me serra la main chaleureusement, me demanda ma boisson préférée, puis tira de son sac une lettre qu’elle me remit. Une lueur d’insistance et d’espoir brilla dans ses yeux fatigués. La brise du soir carressait les buissons qui bruissaient. Envahi par l’émotion, j’ouvris la lettre. Larry écrivit en ces termes généraux: Madame Wilson est la maman d’Eric Wilson, son camarade de combat de la même compagnie de la divison Tropical Lightening. Ce jour-là, un jour de l’été 1967, son unité lança un raid contre Củ Chi. La bataille était meurtrière. Il fut bllessé à son pied tandis que Eric le fut à l’estomac. Larry rampait chercher secours mais soudain, il perdit conscience. Ensuite, il fut sauvé par son unité. Quant à Eric, hélas! il fut porté disparu. Après avoir chercher les traces de son fils pendant plus de vingt ans, Mme Wilson a fini par trouver le bout du fil, celui qui a vu son fils tombé sur le champ de bataille. Sachant que Larry a, pendant ces dernières années, entretenu des relations assez étroites avec le Vietnam, elle lui a demandé aide car tous les efforts qu’elle a déployés auprès de son gouvernement n’ont abouti à rien. Bienque lui-même, Larry, se soit démené pour obtenir des renseignements au sujet de Eric chaque fois qu’il est venu au Vietnam, ses propres efforts n’ont pas porté fruit. Et maintenant la présence de Mme Wilson, et l’angoisse est, pour Larry, devenue insupportable. “C’est pourquoi – écrivit-il – de toute façon, je compte sur vous, mes amis vietnamiens”. Et le post-scriptum: toutes les dépenses, Mme Wilson s’en charge.

Après avoir lu la lettre, je demeurai troublé, ne trouvant rien à dire et me contentant de regarder les feuilles de sasa pumilas, séchées et jaunies par le temps, qui tombaient et tapissaient le sol sous mes pieds.

Mme Wilson essaya de sourire, prit une photo qu’elle me montra:

- C’est Eric!

Le jeune homme dans la photo était habillé d’une uniforme militaire américaine et avait sur la tête un calot qu’il portait un peu de travers. Il esquissait un triste sourire. Mme Wilson continua:

- Si Eric était vivant, peut-être aura-t-il l’âge de Mr Quang. N’est-ce pas Mr Quang?

Quang fit signe de sa tête et me donna ces explications:

- C’est tout ce qu’il y a comme donnée. Les camarades chez nous ont tout fait mais sans résultat. Finalement ils pensent que le seul moyen est de faire appel à Mlle Hiển. Je suis confié cette tâche. Et j’ai emmené Mme Wilson à Thái Bình. Après m’avoir entendu, elle a dit: “C’est maigre comme signe. Vraiment c’est difficile.” Mme Wilson est désespérée. Et tout ceci est très délicat. Parce que Mme Wilson peut n’avoir pas confiance à quelqu’un “se nourissait de la nouriture terrestre mais qui peut voir ce qui se produit dans l’au-delà”. D’ailleurs il se peut qu’elle pouvait penser que c’était un bluff! Vraiment je me trouve dans l’embarras et je me suis efforcé de lui expliquer. Après m’avoir entendu et un moment de méditation, elle me dit: “Je crois que dans l’Orient, il est possible qu’il existe des choses occultes. Malgré tout, je suis déjà venue ici. N’importe comment, de la façon la plus incroyable, j’accepterai volontiers. L’important, c’est que je retrouve mon fils. Quant à faire quoi que ce soit, même la manière la plus irrationnelle, j’y attache la moindre importance...” Mlle Hiển écouta ma traduction et après quelques moments de réflexion, elle dit: “On va voir si mes esprits veulent nous aider.” Elle emprunta la photo de Eric, l’a mit sur l’autel de ses esprits, alluma des baguettes d’encens et se mit en prières. Mme Wilson suivit chaque geste de Mlle Hiển, son visage profondément attentif et crispé d’émotions. Après, Mlle Hiển prit dans une assiette antique posée sur l’autel deux sapèques qu’elle jetta trois fois pour lire la volonté des esprits. C’est fait, elle se retourna vers Mme Wilson: “Votre amour maternel a touché Terre et Ciel! Mes esprits me permettent de vous aider. Voici comment j’entends procéder. Cet écrivain américain vous a fait un dessin détaillé du lieu où lui et votre fils sont blessés. Nous voyagerons au Sud et irons à cet endroit-là. Peut-être la chance nous aider à détecter les traces concernant votre fils.” C’est çà la raison pour laquelle Mme Wilson et Mlle Hiển sont présentes ici aujourd’hui...

Je réfléchis un moment et demandai à Quang:

- En quoi puis-je vous être utile?

Quang se mit à rire, confus:

- Je pense... C’est très délicat, tu sais? On a besoin de quelqu’un qui soit connu des autorités locales. Parce que... Vois-tu? Une vieille dame américaine et une voyante vietnamienne, errant par-ci par-là dans les champs... c’est possible qu’il y aura des problèmes... Supposons que la voyante trouve et trouve juste, l’exhumation de la tombe et des restes pour les transporter aux Etats-Unis, tout-çà vraiment ce n’est pas simple, pas simple du tout... Encore faut-il tenir compte des cupides et des opportunistes... Il se peut qu’ils flairent ce qui se fait, ce sera très dangereux. Qui défendra l’amour maternel sacré? Et l’amitié qui s’est tout juste éclose mais qui a déjà engendré entre Larry et nous...

Je regardai Quang, lui sourit en donnant signe d’accord de la tête et me retournai vers Mme Wilson:

- Ne vous inquiétez pas, nous ferons de notre mieux...

 

Quelques jours après, de bon matin, notre groupe quitta la ville en direction de Củ Chi après avoir entrepris des préparatifs minutieux pour le voyage. Ces jours-ci, il pleuvait sans cesse bien que ce fut seulement au début de la saison des pluies. Des nuages lourds obcurcissaient le soleil d’été tropical. L’air humide souffla à revers en dedans de la voiture. Tout doucement, Mme Wilson monta les vitres. Mlle Hiển avait sa tête posée sur le haut du siège et les yeux mi-clos. Chaque fois que la voiture cahotait, elle s’ouvrit les yeux, me regarda, comme si elle voulait me demander quelle était la distance à parcourir. J’entamai conversation:

- Mlle Hiển, depuis quand vous occupez-vous de ces besognes?

- Seulement depuis quelques années. Depuis l’accident où j’ai failli me faire tuée par un courant électrique. C’est quand l’électricité est venue à notre village. J’en ai jamais connu. Maladroite, j’ai failli être tuée!

Elle sourit et je vis ses yeux devenir tout à coup égarés. Quang, assi au siège de devant, se retourna:

- Mlle Hiển était pendant la guerre membre d’une troupe de Jeunesse de Choc qui construisait un chemin au carrefour Đồng Lộc. A présent, de temps en temps, elle voit et bavarde avec les Dix Jeunes Filles. Selon elle, elles sont toutes devenues Saintes qui, souvent, l’ont aider à sauver ceux qui sont jetés dans le désespoir...

Puis il raconta à Mme Wilson l’histoire de ces dix jeunes filles vierges, bien connues au Vietnam qui, écrasées par les bombes américaines, avaient fait le suprême sacrifice de leur vie quand elles participaient à la construction de cette route pour porter de l’aide au Sud au carrefour Đồng Lộc. Il ne manqua pas de dire à la fin que ces jeunes filles étaient en train d’aider Mlle Hiển à chercher Eric aujourd’hui. Je vis des larmes couler sur les joues de Mme Wilson tout au long de l’histoire.

Arrivés au chef-lieu du district Củ Chi, nous nous arrêtâmes au siège du Comité Populaire pour prendre un cadre, ancien guérilla local qui connaissait bien le lieu et avec qui j’ai réussi à prendre contact par téléphone quelques jours auparavant.

Notre voiture quitta la route nationale et s’avança sur un sentier de terre rouge. Des deux côtés, les rizières s’étendent à perte de vue. Ce fut seulement le début de la saison des pluies, mais déjà les roseaux et herbes sauvages poussaient verdoyants après presque une demi année de sécheresse.

Assi au siège de devant, Sáu Tâm, cadre du district, tenait le dessin de Larry posé sur ses genoux. Il ralentit la voiture et commença à lancer des regards des deux côtés du sentier. La voiture traversa un égout qu’il fit stopper tout d’un coup. Nous en descendîmes. Tâm se mit à observer le champ de rizière, avança quelques centaines de mètres, inclina la tête pour regarder par-ci par-là et mesurer chaque distance autour. Mme Wilson ne laissa échaper aucun de ses gestes. Et dans la lueur de ses yeux, je perçus l’idée qu’elle se fit en ce moment de son cher enfant qui, un matin il y a plus de vingt ans, marchait en range avec ses camarades de combat, fusil en main, vers un petit hameau de là-bas se cachant sous les touffes de sasa pumilas... Brusquement, Tâm recula et se dirigea vers nous qui étions quelque distance en arrière. Il nous interpella, la voix définitive:

- Camarade Minh! Camarade Quang! C’est ici!

Nous courûmes vers lui. Tâm dit, la voix enrouée d’émotion:

- Je suis certain, c’est ici. Les camarades qui se sont combattus contre le raid ont reporté qu’une bataille acharnée s’est déroulée ici. Le dessin de Larry en dit presque la même chose. Et l’égout a été déplacé ces dernières années parce que le cours de l’arroyo a été contourné vers le bas pour se ravitailler de l’eau de l’arroyo Đông. Le vieil égout se trouvait justement ici.

Tâm frappait le sol à coup de pieds comme affirmation. Quang et moi, nous jetâmes des coups d’oeil vers Mlle Hiển. Elle ne souffla mot, sorta doucement une botte de baguettes d’encens de son sorbier en rotin et les alluma. Le jour montait et la chaleur devenait torride. Pas un souffle de brise. Les arbres et les herbes étaient figés dans l’immobilité. Toute la voûte du ciel nous prédit qu’il pouvait avoir une averse le soir.

Hiển élevait haut les baguettes d’encens. Un parfum imperceptif se répandait dans l’air. Hiển fixait l’horizon. Ses yeux s’ouvraient largement. Ses pupilles s’élargissaient tellement que son visage se ressemblait à celui des gens d’autre monde. Je jetais un coup d’œil à Mme Wilson. Son visage aussi devient tout différent. Elle se frémissait légèrement les épaules comme si elle venir de sortir d’un comma... Elle s’avançait et me chuchottait:

- Son visage se ressemble à celui d’une fille virginale.

 - Exactement! C’est le visage d’une fille de Đồng Lộc.

Elle acquiesça d’un coup de tête bien résolu.

Subitement, Hiển disait d’une voix qui semblait un écho venu du lointain:

- Je vois Eric. J’ai vu son visage, bien clair... Juste comme celui dans la photo. Pourtant il est plus fin. Sa barbe et ses moutaches poussaient en broussailles. Il a un fusil dans les mains. Et il s’allonge ici...

Elle marchait lentement jusqu’à l’égout, en disant:

- Il s’est levé... Puis il est blessé à son ventre, et il est tombé...

Tout d’un coup, Mme Wilson criait:

- Mon fils! C’est lui! Je le vois, moi aussi!

Elle succomba, pâle comme une morte. Quang et moi, nous nous empressions de l’aider. Elle poussait un cri comme si elle était blesée elle-même:

- Je l’ai vu, mon Eric! Est-ce croyable, mes chers amis?

On l’a répondu en chœur:

- Ah, oui, Madame! On vous croit! On vous croit absolument!       

Quant à Hiển, elle restait indifférente à nos regards. Elle se consacra à poursuivre l’ombre qu’elle eut perçue:

- Il est blessé et continuait à se traîner...

Pas un souffle sous le soleil brûlant. Tout d’un coup, la fumée des baguettes d’encens dans la main de Hiển vacillait et se penchait en direction d’en face, du côté des rizières. Puis, ignorant nous tous, elle descendit tout droit dans la rizière, trempée d’une mince couche d’eau où des roseaux et herbes sauvages avaient tout juste poussé et verdi, se laissant conduire par la fumée des baguettes d’encens. Mme Wilson la suivit de près malgré ses souliers. Nous aussi, nous dépêchâmes derrière au cas où elle aura besoin de l’aide. Tout d’un coup, la fumée d’encens s’arrêta net, immobile. Hiển en fit autant, murmurant: “Il est épuisé...” Après un instant, la fumée se mit à flotter de nouveau à l’avant. Hiển reprit sa marche. Mme Wilson et nous, nous la suivîmes, pieds hauts pieds bas, comme si nous étions en train de suivre le sillage du soldat américain qui rampait devant. Alors, je perçus quelque chose d’étrange: la direction prise pour trouver la vie du soldat américain blessé et tombé, était celle conduisant au petit hameau caché dans le bosquet des sasa pumilas, le hameau qu’il était prêt à tirer dessus. Regardant les alentours, l’idée me vint: c’était la direction la plus proche où il y avait des êtres humains!

La marche à travers les rizières était péniple et semblait interminable. Pourtant, Mme Wilson et Hiển, les deux membres du sex faible, dont l’une n’avait aucune expérience de patauger dans des rizières innondées d’eau, se montrèrent beaucoup plus résistantes que nous autres, les hommes. Il y avait une force surnaturelle qui les aidait. A certains moments, la fumée flottante resta assez longtemps, figée pour me faire croire que Eric était là, enseveli sous nos pieds. Rien de la sorte. La fumée d’encens se dirigea de nouveau à l’avant. Hiển et après elle, Mme Wilson, la suivirent malgré la chaleur suffocante et torride qui brûlait l’air au-dessus de leur tête et la vapeur chauffante sous leur pieds qui étaient alourdis et retenus par la boue et les épines des herbes sauvages. Enfin, à bout de force, je levais les yeux: De loin, apparûrent un bosquet de sasa pumilas et pas aussi clairement, une paillotte...

 

 Le dos courbé, nous nous faufilions sous des buissons de sasa pumilas dont les feuilles étaient souples mais pointues et tranchantes et dont les tiges étaient effilées et basses qui s’accrochaient aux épaulettes de l’habit de Mme Wilson. La fumée des encens nous conduisit à un côté d’une petite chaumière. De la chaleur du midi, suffocante et torride, nous entrâmes dans la zone de fraîcheur réconfortante des rangs de sasa pumilas verdoyants. Et je fus heureusement surpris de trouver une vieille femme qui était en train de tresser calmement un panier avec les fibres de sasa pumilas. Elle interrompit son travail, nous regarda, pas moins étonée que nous. Je m’avançai pour la saluer à la façon naturelle et amicale du Sud:

- Bonjour Maman! Vous tressez des paniers?

Elle levait les yeux et me fixait:

- Oui, d’où es-tu venu?

Ses yeux pleins de douceur ne me quittèrent que pour regarder les autres membres de notre groupe. Puis son regard se concentra sur Mme Wilson. Je vis apparaître plus clairement les rides profondes de son visage. Ces rides-là, je les avais vues aussi sur le visage de Mme Wilson, des rides que l’angoisse et la longue et désespérée attente ont plissées et replissées au cours des mois et des années.

La mère se leva, s’essuya les yeux d’un petit mouchoir. Elle demanda, montrant sa bouche édentée:

- Et cette dame, qui est-elle?

Sáu Tâm s’empressa de répondre succintement. Après l’avoir écouté attentivement, elle s’arrêta net et balbutia:

- Entrez, entrez! S’il vous plaît!

Dedans, c’était dénudé. La table, la chaise à peine debout, les pieds vacillants... La tasse à boire était ébréchée... Un autel posait sur le toit d’une armoire, avec un pot de baguettes d’encens et trois photos décoloriées. Et trois certificats “La Patrie reconnaissante...”.

Avec timidité, Mme Wilson montra la photo de Eric et d’une voix émue, s’adressa à la mère pendant que Quang faisait la traduction:

- Madame! C’est ici mon fils. L’avez-vous déjà vu?

Avec des mains tremblantes, la mère reçu la photo et la regarda longuement. Je la vis toute crispée et grelottante. Soudainement, son visage change d’expression. De ses yeux marqués par l’âge, les larmes coulèrent sur ses joues ridées. Mme Wilson s’anima visiblement. Elle balbutia de nouveau sa question, sa voix enrouée d’émotion parce que le désespoir, de plus de vingt ans, fut tout d’un coup, près de fondre:

- Que Dieu soit loué ! L’avez-vous jamais vu?

La mère silencieusement donna signe affirmatif! Mme Wilson trembla de plus belle...

Toujours silencieusement, la mère ouvrit la vieille armoire et en tira une enveloppe en plastique et de laquelle, elle sortit une autre enveloppe, plus petite. Elle prit de la deuxième enveloppe un petit paquet qui était entouré de deux ou trois couches de papier d’où elle prit une plaque et une photo. Toujours silencieusement, les tenant légèrement, elle s’approcha et posa le tout dans les mains de Mme Wilson. Je jetai un coup d’œil rapide à la photo et très vite, je reconnu sans aucun doute, l’image de Eric qui, tout souriant, se faisait photografié avec sa femme tenant un enfant dans les bras! Sur la plaque, étaient inscrits deux mots: ERIC WILSON. Mme Wilson poussa un cri, serra les reliques contre son cœur et s’évanouit.

Un moment après, quand nous tâchions de raviver Mme Wilson, la mère restait assise dans le silence, les larmes continuant à ruisseler sur ses joues. Mme Wilson, sitôt ranimée, la première geste qu’elle fit fut de venir embrasser la mère, son visage  baigné de larmes:

- Que Dieu vous bénisse! Parlez-moi de mon fils. Où est-il tombé? Si vous savez, veuillez me montrer. Merci, merci infiniment!

 La mère inclina la tête décidément. Mais elle ne dit mot. En silence, elle se leva et s’approcha de l’autel. J’eus l’impression que durant ces dernières minutes, elle avait vieillie de plusieurs années, son dos courbé davantage. Elle prit quelques baguettes d’encens qu’elle alluma. Elle les leva à la hauteur de son front et murmura des prières...

Après, elle fit venir Quang à son côté et lui dit de traduire ses paroles pour Mme Wilson: 

- Ici, c’est la photo de mon mari. Il était guérilla, combattant contre les colonalistes français, et tué par eux, dont les dépouilles mortelles sont enterrées au cimetière “Héros de la Guerre”... Et cette photo, c’est celle de mon fils aîné. Il est mort pour la patrie pendant la guerre de résistance contre les agresseurs américains à Tây Ninh. Sa tombe est joliment bâtie et bien soignée par les camarades là-bas.

Mme Wilson écouta la traduction de Quang, s’approcha de l’autel des ancêtres, prit les mains de la mère dans les siennes et fondit en larmes.

La mère descendit la troisième photo, regarda Mme Wilson et dit:

- Lui, c’est mon cadet. Il fut porté disparu dans la guerre. L’avez-vous jamais vu? Connaissez-vous où est sa tombe? Montrez-moi et je vous serais mille fois reconnaissante...

Mme Wilson embrassa bien fort sur son cœur la photo du jeune vietnamien. Une seconde fois, son désespoir éclata en un sanglot...

 

La mère nous amena après au bosquet des sasa pumilas. Dans la chaleur suffocante du midi, les feuilles de ces plantes, souples et tranchantes, enveloppaient de fraîcheur le petit jardin. Une brise légère souffla. Les branches vacillaient et sautillaient et leur feuilles frissonnaient et murmuraient. Elle conduisit Mme Wilson sous une buisson de vieilles sasa pumilas et lui montra une butte de terre que des feuilles tombées avaient, avec la poussée du temps, tapissée d’une couche épaisse. Une petite pierre servait de pierre tumulaire. La mère de dire:

- Ci-gît Eric. C’est moi-même qui l’ai enterré. Moi seule... Alors, étant mère, je pensais qu’il y aura sûrement un jour où une mère viendrait chercher son fils..

Mme Wilson mordit ses lèvres et serra fortement la mère de Củ Chi contre son cœur. Puis elle tomba, plaquée sur le tapis épais des feuilles qui couvraient complètement la tombe, toute sa personne grelottante par la douleur sans bornes d’une mère.

Longuement après, elle se leva, s’essuya les yeux, et avec embarassement, tira de son sac un bien gros paquet d’argent. Elle demanda à Quang de parler à la mère en sa qualité:

- Je vous remercie infiniment! Donnez-moi la permission de transporter les restes de mon fils hors de ce bosquet...

La mère secoua la tête:

- Les restes de mon fils cadet, je ne les ai pas encore retrouvés. Pourrais-je vous vendre les restes de votre fils?

De ses mains, Mme Wilson essaya de dissiper la méprise possible:

- Non! Non! Ne me méprenez-vous pas, je vous en prie. J’aimerai vous aider à retrouver votre fils.

La mère secoua la tête en silence:

- Je ne l’ai pas encore retrouvé. Mais mon fils est enseveli quelque part dans le sol de mon pays. Il y a certainement quelqu’un pour lui dresser un culte et brûler de l’encens toute l’année pour le repos de son âme. “Qui cultive Bonté et Grâce, laisse à ses enfants la récolte de Grâce et Bonté”. C’est ce que disent nos ancêtres...

Désolée, Mme Wilson se retourna vers Mlle Hiển:

- Voulez-vous accepter ceci. Pour le moment. Comme gage de ma gratitude. Et veuillez aider cette mère à retrouver son fils...

Quand Quang eût fini de traduire, Mlle Hiển sourit et secoua la tête:

- Madame, je le retrouverai si mes esprits me disent que ce soit favorable... Je le fais à cause de ma mère ici. Je ne peux pas accepter de l’argent!

Quang montra la mère Củ Chi et dit à Mme Wilson:

- La seule personne à remercier, c’est notre mère ici... Quant à son fils, il fera corps avec l’âme divine de notre patrie pour venir en aide à l’homme quand il tombe dans la détresse, le désespoir...

Mme Wilson resta perdue pendant un moment. Elle se mit à réfléchir, se mordit les lèvres, mais longtemps ne trouva rien à dire. Après, une fois son calme retrouvé, elle parla d’une voix enrouée d’émotion et pleine de larmes:

- C’est grâce à ce voyage magnifique que je comprends mieux les gens et ce pays. Je comprends maintenant pourquoi vous avez gagné la guerre. Je regrette infiniment que j’ai perdu mon fils. Autrement, je suis certaine qu’il sera un bon ami du Vietnam...

Le soir tombait... Le vent se mit à souffler, annonçant une pluie pour dissiper la chaleur lourde et suffocante. Les sasa pumilas du bosquet se courbèrent, douces et souffles, comme si elles dansaient. Quelques feuilles jaunes et sèches tourbillonnèrent et tombèrent pour couvrir le tapis épais au sol...

 

Juillet, 1993

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *