Từ đời vào văn

13/1
9:27 PM 2017

NHÀ VĂN PHÙ THĂNG NHƯ TÔI BIẾT

Đỗ Thị Hiền Hòa - Trước đây tôi thường gọi Nhà văn, Nhà biên kịch Phù Thăng là “ bác”, xưng “em”, bởi vậy trong bài viết này tôi vẫn muốn xưng hô như vậy. Nghe tin bác Phù Thăng được tặng Giải thưởng Nhà nước với 2 tác phẩm : tiểu thuyết Phá vây và truyện vừa Con nuôi trung đoàn, nhiều người trong làng văn và một số bạn đọc yêu văn học rất vui mừng.

 Chúng tôi đã có hẳn một buổi tụ họp bạn bè để bàn luận, chung vui về sự kiện này. Niềm vui dù đến dù muộn màng, nhưng đó cũng là nỗi niềm chung của nhiều tác giả. Trong số 38 tác giả khối văn học được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2012, có đến 14 tác giả đã qua đời. Phù thăng cũng nằm trong số ấy. Chúng tôi trao đổi với nhau : Đất nước đã thay đổi nhiều theo chiều hướng tích cực và cởi mở. Trước đây tiểu thuyết Phá vây mang đến cho Phù Thăng nhiều phiền lụy thì nay chính tác phẩm đó lại mang về cho ông vinh quang lớn. Dù đã đọc tin trên báo, trên mạng từ nhiều ngày trước về kết quả xét Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, có tên bác Phù Thăng, chúng tôi đã vui mừng, đã chia sẻ với bạn bè từ ngày ấy, vậy mà sáng ngày 27 tháng 5, xem ti vi tường thuật trực tiếp cuộc trao giải, tôi vẫn không khỏi xốn xang, bùi ngùi, vừa vui mừng vừa nhớ tiếc. Và nước mắt tự nhiên ứa tràn. Phải chi cuộc trao giải này diễn ra 5 năm về trước thì bác Phù Thăng được bước lên bục vinh dự cùng bao tác giả khác. Nay bác đã đi xa rồi. Hôm ấy khi ban tổ chức xướng tên tác giả Phù Thăng và mời người đại diện cho gia đình lên nhận giải thưởng thì một người đàn ông còn trẻ bước lên, tôi đoán đó là con trai  hoặc cháu trai của bác Phù Thăng. Tất nhiên niềm vui này, vinh dự này, sau chính tác giả là gia đình, con cháu và dòng họ bác cùng chung   hưởng.

            Nhớ lại những lần về thăm bác Phù Thăng chúng tôi thường được gặp những nụ cười hiền hậu của hai bác, bác trai và bác gái. Ngồi trò chuyện bác gái chỉ cười rồi lát sau biến đi đâu đó. Lúc câu chuyện đang xôm thì bất ngờ bác gái bê lên, khi thì nồi khoai luộc còn bốc khói, khi thì mấy quả bòng đã gọt và tách múi sẵn, khi thì chùm vải vừa bẻ từ vườn…Hình ảnh tôi nhớ nhất là nụ cười đôn hậu của cả hai bác khi mời chúng tôi thưởng thức những món cây nhà, lá vườn. Ngôi nhà cấp bốn  của hai bác tọa lạc ngay bìa làng, dù đường vào chỉ là đường đất nhưng ô tô vẫn có thể vào tới cổng. Ngôi nhà có 3 gian. Một gian được ngăn làm buồng, một gian kê tủ thờ và chiếc bàn nhỏ tiếp khách, một gian vừa kê giường, vừa kê giá sách và bàn làm việc của bác Phù Thăng. Những lần về thăm bác, chúng tôi thường uống nước xong là ra ngồi trên chiêc giường cạnh bàn làm việc của bác. Gọi là bàn làm việc nhưng đó cũng chỉ là chiếc bàn uống nước bằng kính kê cạnh chiếc ghế đi văng. Trên tường là giá sách với nhiều cuốn sách bạn bè bác gửi tặng. Những năm chúng tôi thường xuyên về thăm bác ( khoảng từ 1997 đến 2004) thì ở Hải Dương chưa phổ cập điện thoại di động, càng chưa có mạng internet, nhà bác chỉ có điện thoại bàn ( số 0320 749 268). Nhưng chúng tôi cũng chẳng bao giờ gọi điện trước, cứ nhớ bác thì về hoặc đi công tác phía Tứ Kỳ, Thái Bình là tạt qua. Chưa lần nào chúng tôi đến mà bác vắng nhà. Trong câu chuyện về văn chương, bác không muốn nhắc lại những chuyện cũ. Còn về tình hình văn học hiện thời lúc đó, bác nói “ mình cũng không cập nhật được tình hình, chỉ bạn bè có sách mới ra gửi tặng thì mình đọc”. Điều mà bác quan tâm nhất , hay hỏi thăm nhất là tình hình sáng tác của anh em văn nghệ sĩ Hải Dương. Bao gìơ bác cũng hỏi, anh chị em hội mình có những ai ra sách mới, có vấn đề gì mới ?. Còn chúng tôi thì chỉ muốn khai thác những chặng đường đã qua của bác, nhất là sau khi đọc bài về bác trong “ Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa. Bác tủm tỉm cười và bảo : Ôi dào, những chuyện đã qua cứ để cho qua, các bạn còn trẻ cứ viết đi, viết theo sự thôi thúc của trái tim mình là được. Chúng tôi hiểu rằng bác không muốn khơi lại chuyện buồn, nhưng tôi vẫn cố hỏi thêm hai chi tiết, một là bản thảo của bác bọc giấy xi măng để trong chum, hai là truyện ngắn Hạt thóc đã in ở đâu. Bác bảo, đúng là mình có cho bản thảo vào chum như Khoa viết, còn truyện Hạt thóc thì mình mới có ý tưởng như thế rồi kể cho bạn bè nghe chứ chưa viết ra. Rồi bác kể về những bạn bè của bác những ai thường đến thăm, những ai lâu không gặp, nếu các bạn có gặp thì cho mình gửi lời thăm…

            Tên khai sinh của bác là Nguyễn Trọng Phu, khi viết văn bác ký bút danh là Phù Thăng, nói ngược lại là thằng Phu. Quê gốc, nơi bác sinh ra và lớn lên là  làng Phù Tinh xã Trường Thành, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1940 gia đình bác chuỵển sang sinh sống tại thôn Tất Lại, xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ cùng trong tỉnh. Bác sinh ra trên vùng đất có nhiều hoa thơm quả ngọt, sông nước mát lành, con người hiền dịu và được thừa hưởng truyền thống yêu nước, thương người, nhân hậu vị tha của gia đình. Ông nội của bác vốn là một nhà nho khí khái và trung hậu, cụ không tìm đường làm quan mà mở trường dạy học cho con em nông dân trong vùng, kiêm thêm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho bà con làng xóm. Phụ thân của bác Phù Thăng là một chức dịch hàng Tổng, nhưng cụ không theo phong cách làm việc của đa phần chức sắc lúc bầy giờ, họ thường hách dịch, vơ vét của dân. Riêng cụ thì hiền lành, nhân hậu, luôn làm việc vì dân và thương những người nghèo. Cụ hiền hậu đến mức cụ tên là Nguyễn Trọng Bật, đáng lẽ dân làng gọi cụ là Tổng Bật thì mọi người thường gọi chệch đi là Tổng Bụt, ý nói cụ hiền như Bụt và cũng kính trọng cụ như Bụt. Cũng vì luôn yêu quí bà con trong làng, trong tổng nên năm 1955 khi cải cách ruộng đất, nhân dân thôn Phù Tinh đã cứu cụ thoát khỏi án oan, dù lúc đó gia đình cụ đã chuyển sang làng Tất Lại, huyện Tứ Kỳ. Bác Phù Thăng rất yêu quí cha mình và thể hiện tình yêu ấy một cách khác thường, khi cha mất rồi, trên chiếc ghế ngồi của Phù Thăng luôn vắt tấm áo của cha.Thân mẫu của Phù thăng là người hiền thục, tuy không được học chữ nhưng tâm hồn rất phong phú và đa cảm. Cụ thường dành dụm tiền đưa cho con trai đi thuê những cuốn truyện cổ về đọc cho mình nghe. Có đoạn quá thương cảm, cả hai mẹ con cùng khóc. Cụ thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ và truyện nôm qua kể truyền khẩu của chị em khi làm đồng, rồi chính cụ lại đọc cho  con trai nghe nhiều lần. Những tích truyện như Tống Trân, Cúc Hoa; Phạm Tải, Ngọc Hoa; Hoàng Trìu; Kiều … Phù Thăng thuộc lòng từ lúc còn nhỏ, phần lớn là do mẹ kể đêm đêm. Người cha đức độ và người mẹ tinh tế ấy đã truyền lại cho Phù Thăng một tính cách ngay thẳng, một bản lĩnh vững vàng và một tâm hồn thanh khiết, bay bổng. Tất cả những phẩm chất đó tạo nên một nhà văn, nhà biên kịch Phù Thăng sau này với nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh tầm cỡ.

            Hồi nhỏ Nguyễn Trọng Phu học tiểu học ở trường làng, sau đó học trung học ở trường huyện Thanh Hà. Tại đây bác được học những người thày rất giỏi tiếng Pháp. Do sẵn thông minh lại siêng năng, chịu khó nên bác hiểu ý thày giảng nhanh hơn các bạn. Hằng năm bác thường đứng đầu lớp ở hai môn Văn và Pháp ngữ. Bác thường được các bạn gọi đùa là Phu hạt tiêu, vì vóc dáng nhỏ bé mà thông minh hơn người, bé như hạt tiêu mà để lại ấn tượng sâu đậm. Cũng tại trường này bác được đọc những cuốn sách nói về cách mạng, về chủ nghĩa công sản, rồi bác tự nguyện tham gia cách mạng. Sau tháng Tám năm 1945, bác mới 17 tuổi đã là đội trưởng đội tuyên truyền xung phong của huyện Tứ Kỳ. Bác tham gia diễn kịch, làm thơ, tuyên truyền và cổ vũ cho cách mạng. Rồi nghe theo lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, bác xung phong vào quân đội . Có lẽ do vóc dáng nhỏ nhắn, lại thông minh, lanh lẹn, nên anh lính mới Nguyễn Trọng Phu  được biên chế vào đại đội trinh sát ( lúc đó thường gọi là quân báo) của trung đoàn 42, một trung đoàn nổi tiếng về đánh nhanh, thắng gọn của khu Ba thời chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến này anh trinh sát Nguyễn Trọng Phu đã hy sinh một phần xương máu, được xác định là thương binh loại A ( nay là loại 4/4). Sau hòa bình 1954, bác được điều động về làm giáo viên trường bồi dưỡng văn hóa của quân khu Ba. Thời gian này bác mới có điều kiện sáng tác. Bác làm thơ, viết kịch, viết truyện ngắn. Vở kịch : Bà mẹ địch hậu của bác được các đội văn nghệ quần chúng biểu diễn nhiều lần. Nhiều bài thơ của bác được các chiến sĩ quân khu Ba truyền tay nhau đọc. Truyện ngắn đầu tiên “ Con những người du kích” đoạt giải Nhì của cuộc thi viết về “ những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội”của tạp chí Văn nghệ quân đội. Giải Nhì mà cũng có thể coi như giải nhất, vì cuộc thi không tìm được truyện nào khá hơn để trao giải nhất. Sau thành công bước đầu này, lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện và giành thời gian cho Phù Thăng sáng tác. Cùng tham gia lao động với bộ đội trên công trường thủy nông Bắc – Hưng - Hải ( công trình đào sông lấy nước tưới cho đồng ruộng của 3 tỉnh Bắc Ninh – Hưng Yên – Hải Dương), Phù Thăng đã ghi chép được nhiều tư liệu. Chỉ có nửa tháng miệt mài cày trên trang giấy, bác đã viết xong cuốn tiểu thuyết “ Trận địa mới”. Cuốn tiểu thuyết để cập tinh thần của những người chiến sĩ khi nhiệm vụ chiến đấu đã xong, lại nhanh chóng chuyển sang nhận nhiệm vụ mới, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đây cũng là nhiệm vụ quan trọng, nhiều gian nan vất vả, đòi hỏi các chiến sĩ tiếp tục phải vượt qua gian khổ. Năm 1960 trường ca Hoa vạn thọ của Phù Thăng đoạt giả B trong cuộc thi thơ của tạp chí Văn học. Cuộc thi này nhà thơ Nguyễn Bính cũng đoạt giải B cùng giải với Phù Thăng. Hiếm có tác giả nào trong một thời gian ngắn lại đoạt 2 giải cao cả về văn lẫn thơ như Phù Thăng. Với những kết quả trên, ngòi bút của Phù Thăng như càng thăng hoa. Ngoài những truyện ngắn, truyện vừa và nhiều bài thơ in trên báo chí, Phù Thăng là một trong số rất ít tác giả có nhiều đầu sách ra đời. Tiểu thuyết Trận địa mới, NXB Quân đội Nhân dân in năm 1960; tập truyện ngắn Chuyện kể cho người m ẹ(gồm 10 truyện ngắn) , NXB Văn học in năm 1960; truyện vửa Thử lửa, NXB Quân đội nhân dân in năm 1961; tiểu thuyết Phá vây, NXB Quận đôi Nhân dân in năm 1962; truyện vừa Con nuôi trung đoàn, NXB Kim Đồng in năm 1965. Hầu hết tác phẩm của Phù Thăng đều ca ngợi tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ quân đội, du kích và nhân dân vùng châu thổ sông Hồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt. Có thể nói đó là những bản anh hùng ca cách mạng.

Về tiểu thuyết Phá vây, theo cố nhà thơ Xuân Sách thì chỉ trong vòng hơn 1 tháng dự trại viết do Tổng cục chính trị mở, Phù Thăng đã viết xong cuốn tiểu thuyết Phá vây có độ dài trên 600 trang in ( năm 2003, Nhà xuất bản Hải Phòng tái bản cuốn Phá vây khổ 13cm X 19cm, số trang là 709). Những ai từng dự trại sáng tác chắc đều biêt người viết văn xuôi khổ cức như thế nào. Ngày nay dù có máy vi tính, có máy phô tô trợ giúp, vậy mà đến cuối trại các tác giả viết văn xuôi đều cuống quýt mới hoàn thành kế hoặch. Thông thường với thời gian hơn một tháng thì tác giả chỉ hoàn thành một, hai truyện ngắn hoặc vài chương tiểu thuyết đã được coi là tích cực rồi.  Thế mà ngày ấy bác Phù thăng viết bằng bút thường, vài chữ lại phải chấm vào lọ mực, trong thời gian ngắn ngủi ấy bác đã viết hàng ngàn trang ( thì mới có hơn 600 trang in). Tiểu thuyết Phá vây đã gây được tiếng vang lớn. Nội dung cuốn sách là ca ngợi những người lính trinh sát, đã mưu trí, dũng cảm xông vào vùng địch hậu để nghi binh cho lực lượng chính của trung đoàn phá vòng vây. Cùng với việc phá vòng vây của kẻ thù, các chiến sĩ trinh sát còn thành công trong việc phá cái vòng vây vô hình trong tư tưởng, đó là sự hẹp hòi, ích kỷ và lạc hậu mà xã hội phong kiến còn vương lại.

 Nhưng rồi sau đó tác giả gặp phiền hà vì một số quan niệm quá ngặt nghèo lúc đó. Nhà thơ Xuân Sách viết “ tại họa ập đến với Phù Thăng như tiếng sét giữa trời quang. Hồi ấy ở Liên Xô nảy nòi bọn “xét lại”, chống chủ nghĩa xã hội và xét lại chủ nghĩa Mác – Lê nin. Ở nước ta phải hưởng ứng tinh thần chống lại bọn “ xét lại” đó. Hai cuốn sách được mang ra đấu tranh tư tưởng là cuốn Vào đời của Hà Minh Tuân và cuốn Phá vây của Phù Thăng. Tai nạn này khiến Phù Thăng phải ra khỏi quân đội, chuyển về xưởng phim truyện”. Đó là kỷ luật không nhẹ lúc bấy giờ. Nhà thơ Trấn Đăng Khoa viết : “cuốn sách sẽ êm chèo, mát mái nếu không có vài dòng Phù Thăng luận về chiến tranh. Tác giả cho rằng, chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng là không tốt đẹp gì, vì nó cuốn theo bao xương máu của người dân vô tội. Đó là vấn đề có tính thời đại và nhân văn sâu sắc mà ông lại trình bày đơn giả như thế, lại vào thời điểm ấy, nên nó đã hóa sóng gió đánh vào đời ông”. Trận sóng gió ấy đã hất tung Phù Thăng về với đồng ruộng, với làng quê. Nhưng Phù Thăng lại thấy có cái gì đó vui vui. Ông tâm sự với một nhà văn trẻ : Mình thế là được ưu ái lắm đấy. Các anh ấy còn thương nên cho làm quan tại gia, lương vẫn lĩnh đều ở xưởng phim truyện, chẳng phải chiết khấu đồng nào”.

Sau tiểu thuyết Phá vây, bạn đọc hầu như không còn được đọc truyện, thơ và tiểu thuyết của Phù Thăng nữa. Tuy vậy nhưng bác Phù Thăng chưa khi nào rời cây bút. Trước kia bác viết để xuất bản, để dãi bày lòng mình với đông đảo bạn đọc, thì sau này bác viết để riêng cho mình hoặc trao đổi với bạn bè mà thôi. Trước tiểu thuyết Phá vây bác được điều chuyển từ trường bồi dưỡng văn hóa của quân khu Ba, lên Phòng Văn nghệ của Tổng cục Chính trị Quân đội và được thăng quân hàm thiếu úy. Sau Phá vây bác được điều chuyển xuống xưởng phim quân đội, rồi lại chuyển sang xưởng phim truyện  cho đến lúc về hưu ( 1980). Thời gian làm việc ở hai xưởng phim, bác đã viết kịch bản và biên kịch nhiều phim, tiêu biểu như:  kịch bản phim Quê nhà, kịch bản phim Nguyễn Văn Trối, kịch bản phim truyện Biển lửa, biên kịch phim Tiếng gọi phía trước. Các phim này đều được tặng giải Bông sen Vàng, Bông sen Bạc trong các kỳ liên hoan phim Việt Nam từ lần thứ nhất đến lần thứ tư. Thời gian nghỉ hưu Ở quê nhà, bác được mời tham gia viết lịch sử trung đoàn 42, rồi bác viết  bản thảo cuốn tiểu thuyết Tấn công là  phần tiếp theo của cuốn Phá vây, vẫn viết về những người lính dũng cảm của quân khu Ba. Thời gian nghỉ hưu Ở quê, một phần do tuổi cao, một phần do hoàn cảnh, bác Phù Thăng không còn “ cày” nhiều trên trang giấy như trước mà bác dành  sức lực và thời gian cày trên cánh đồng thực thụ, để lấy thóc, lấy ngô, khoai nuôi các con. Bác trở thành một lão nông thực sự, cần mẫn với ruộng đồng. Dù tuổi cao, sức yếu ( nói như nhà thơ Xuân Sách, trọng lượng của Phù Thăng chỉ du di trong khoảng từ 37 đến 42 kg), vậy mà bác  nhận tới 7 sào ruộng khoán, rồi lại nhận trinh phục những con trâu ngang ngược, dữ dằn nhất như con trâu Sứt, đến nỗi dân làng quen gọi là ông Phu Sứt. Có lần tôi hỏi bác, sao bác phải làm nhiều như vậy, có phải vì gia đình quá khó khăn không ? Bác cười bảo, lý do đó chỉ là một phần thôi, cái chính là bác thích lao động, bác yêu cây lúa, cây ngô, cũng như yêu những con chữ trên trang giấy vậy. Mình đã về làng quê thì cũng phải làm một lão nông ra trò chứ.

            Năm 1994 sau rất nhiều nỗ lực thuyết phục của bạn bè và lớp đàn em như Nguyễn Huy Khoát, Ngô Bá Thước, Nguyễn Ngọc San, bác Phù Thăng mới chịu trở thành hội viên Hội văn học Nghệ thuật Hải Hưng. Lúc đó bác đã sống Ở quê đến 15 năm rồi . Không phải bác không biết tới Hội, cũng không phải bác coi thường Hội văn nghệ địa phương như một số người lầm tưởng, mà bác ngại vốn cạn rồi, vào Hội lại không đóng góp được gì với Hội thì buồn lắm. Cũng vì cái tâm lý này mà chưa bao giờ bác làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Chỉ vì bác ngại mình không đóng góp được gì và cảm thấy mình hơi lạc lõng thôi. Hội Văn Nghệ Hải Hưng trước kia và Hải Dương sau này luôn luôn kính trọng bác, yêu quí bác, cói bác như người anh cả trong số các hội viên. Có những năm mở trại sáng tác chúng tôi dành hẳn cả ngày để bác tâm sự về nghề văn với hội viên văn xuôi. Chẳng những Hội văn nghệ mà Báo Hải Dương, Đài phát thanh và truyền hình Hải Dương cũng đều trân trọng và yêu quí bác. Ngoài chuyện đến thăm hỏi thường xuyên, Hội văn học nghệ thuật đã xuất bản trường ca Hoa vạn thọ, rồi lại tổ chức một buổi hội thảo rất long trọng khi sách được in ra ( năm 1960 bản trường ca này được giải cao, nhưng mới chỉ được trích một chương in báo Văn học). Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh đã làm 2 phim giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của bác. Báo Hải Dương cũng luôn in bài viết về Phù Thăng ở những vị trí trang trọng. Những năm nửa sau của cuộc đời bác Phù Thăng viết ít và in càng ít ( chỉ thỉnh thoảng in một bài thơ), nhưng bạn bè, độc giả lại giành tình cảm cho bác ngày một nhiều. Nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng , không sống cùng tác giả Phá vây bao giờ, nhưng đã cất công đến quê hương Cộng Lạc, Tứ Kỳ thăm bác. Có thể kể như nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Tô Đức Chiêu, nhà văn Nguyễn Quang Thân, nhà văn Dạ Ngân, nhà văn Cao Năm, nhà thơ Phạm Ngà vv… năm 2003, Nhà xuất bản Hải phòng đã cho tái bản tiểu thuyết Phá vây. Có lẽ đây là niềm vui lớn với bác Phù Thăng nói riêng và với bạn đọc nói chung. Nếu không tái bản thì ngày nay bạn đọc, nhất là các bạn trẻ khó lòng tìm được tác phẩm này. Khi bác Phù Thăng từ bỏ thế giới này, nhiều tờ báo, tạp chí, báo mạng đã đưa tin chia buồn. Nhiều nhà văn, nhà thơ, bạn đọc đã đến tận thôn Tất Lại để đưa bác về nơi an nghỉ cuối cùng. Đặc biệt có nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã mang vòng hoa đến tiễn đưa Phù Thăng ra tận cánh đồng làng, mặc dù chưa bao giờ bác Phù Thăng là hội viên Hội Nhà văn.  Đó là tình cảm, là sự trân trọng không chỉ của cá nhân nhà thơ Hữu Thỉnh mà là sự trân trọng của cả hội nghề nghiệp với một tài năng, một cây bút sắc sảo trong sự nghiệp văn học chung của đất nước. Điều này càng rõ hơn khi xét Giải thưởng Nhà nước, từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh, cấp hội đồng chuyến ngành, rồi đến hội đồng cấp Nhà nước, tác giả Phù Thăng đều được tán thành với 100% số phiếu.

            Một lần bác Phù Thăng yếu mệt, tôi đến thăm và muốn xin bác ghi cho vài điều gì đó, cũng là để lưu bút tích của bác. Tôi đưa bác cuồn sổ tay của mình. Chừng 15 phút sau bác đưa lại và nói “ Hiền Hòa xem, ý của mình là thế này, vừa là tặng riêng vừa là tặng chung cho các bạn viết trẻ”. Tôi đón nhận cuốn sổ và cảm động gai người khi đọc xong bài thơ. Tôi cố nói vui để ngăn nỗi nghẹn ngào “ Xin cảm ơn đại ca”. Bài thơ đó như sau :

 

            Rất mong em Hiền Hòa

            Trong đời như giọt nước

            Trong nhà như tiếng ru

            Trong tình như mật ngọt

 

            Nhưng văn chương cần lửa

            Và như thép xanh nòng

            Thơ cũng là bão tố

            Quét sạch những bất công

            Xua đi và bồi đắp

            Nỗi buồn và niềm vui

            Đời vẫn là như thế

 

            Yêu- yêu thật say mê

            Ghét- ghét cay ghét đắng

            Nhưng tình người phải thắm

            Giữ tromg ta dài lâu.

Nay bác Phù Thăng đã đi xa rồi, những vần thơ viết vội của bác đã trở thành món quà vô giá với tôi. Những vẫn thơ này cũng chính là phương châm của người cầm bút, yêu ghét phải rõ ràng, phải hết mình, phải sâu sắc. Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là tình người phải thắm và phải giữ dài lâu.

   Nguồn: Tạp chí NV&TP

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *