Từ đời vào văn

31/12
8:49 PM 2016

MỘT DẢI NGÂN HÀ - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Bích Vượng

Tháng trước, trên chuyến xe khách lên Tây Bắc, tình cờ Bích ngồi cạnh một phụ nữ chừng trong ngoài bốn mươi tuổi, tên là Ngân Hà. Ngân Hà về thăm quê ở Hà Đông, nhân ngày giỗ bố, cũng bắt xe khách trở lại Mộc Châu. Hai người phụ nữ cùng trạc tuổi ngồi cạnh nhau, trên một chặng đường dài, những câu chuyện thầm kín đến đâu rồi cũng dần được hé mở.

Bích là một nhà báo, chị rất biết cách khơi gợi, Ngân Hà lại là một phụ nữ mặn chuyện. Dần dà giữa họ xóa đi những khoảng cách e ngại. Đường lên Tây Bắc mùa này khá êm, tiếng xe chạy đều đều. ​Câu chuyện đưa hai người về một vùng quê ven sông Đáy cách đây bốn mươi năm. Hồi ấy sông Đáy mát trong chứ không như bây giờ. Dòng sông nhỏ, trôi bình yên giữa hai bờ ngô khoai, sau những rặng tre xanh um. Mùa nào tôm cá cũng sẵn. Chỉ việc vác cái vó ra sông là có cá mang về. Cá chép sông Đáy không to nhưng béo và thơm thịt. Con gái xứ này da mịn màng, tóc đen nhung, đẹp có tiếng một phần nhờ tôm cá, ngô khoai dọc hai bờ sông Đáy.

​Nhà Dịu ở xóm Cầu, bên này sông. Ngôi nhà này mẹ Dịu mua lại của người bà con trong họ, khi mới lập gia đình. Nhà không to nhưng có vườn rộng. Quanh năm, mùa nào thức ấy, rau cỏ trong vườn xanh mướt không phải mua. Làng Thượng Tứ nhà nào cũng vậy, chỉ có mang các thứ như mớ rau, nải chuối, con gà… ra chợ bán lấy tiền tiêu vặt chứ không bao giờ phải khuân các thứ ấy về từ chợ. Cả làng chỉ khoảng dăm chục nóc nhà, dọc theo sông Đáy, muốn sang bên kia phải đi vòng qua chiếc cầu nhỏ khá xa, vì vậy, làng như bị biệt lập với bên ngoài. Nhà ai có chuyện gì cả làng đều biết, thậm chí có khi trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã đồn. Nói hay thì cũng thật là hay, nhưng lắm khi cũng nhức đầu vì những chuyện không đâu cứ như có cánh, lan từ nhà này đến nhà nọ như lửa bén dầu.  

​Dịu lớn lên cạnh mẹ. Mẹ Dịu mới ngoài năm mươi nhưng ốm đau luôn. Bà bị viêm khớp nặng nên đi lại khó khăn, chỉ quanh quẩn việc nhà. Dịu đi học buổi sáng, buổi chiều đi làm việc đồng áng thay mẹ. Đối với Dịu mẹ là nhất quả đất, mọi việc to nhỏ đều có thể tâm sự với mẹ. Ngược lại, trên đời mẹ cũng chỉ có Dịu là chỗ dựa duy nhất của bà. Quê bà ở Hưng Yên, sau ngày hòa bình lập lại, thương cảnh mồ côi của người con trai trong đoàn địa chất đóng cạnh nhà. Bà yêu anh rồi cùng chồng về đây sinh sống. Quê chồng cũng là đồng đất xứ người, lạ cái lạ nước, những tưởng dần dà sẽ quen thung quen thổ. Nào ngờ khi bà sinh Dịu chưa đầy hai năm, anh địa chất chuyển tới địa bàn khác, và lại mê cô gái khác. Bà bỏ luôn. Rồi ốm đau, bệnh tật, bà sống khép kín. Dịu thương mẹ vô cùng.

​Dịu càng lớn càng giống mẹ. Cổ tay tròn và trắng. Ngực căng làm hàng cúc lúc nào cũng như chực bung ra. Mấy đứa bạn gái trưa nào cũng tụ họp, chọc bưởi rụng lộp độp, rồi vừa bổ ăn vừa cười nói như phá. Nhà vì thế đỡ quạnh.

Dịu mới biết Vinh từ hơn hai năm nay, khi hai người cùng được gọi vào đội tuyển thi văn cấp tỉnh. Mỗi tuần đội tuyển lại tập trung nghe thầy trên tỉnh về bồi dưỡng một buổi. Biết từ nhà Dịu đến trường khá xa, Vinh thường  đạp xe qua bên kia sông đón Dịu cùng đi học. Nhớ lại hôm đầu tiên, Dịu đang cuốc bộ, mồ hôi dâm dấp sau lưng thì xe Vinh vừa tới. Vinh bảo trời nắng và cũng muộn rồi lên xe đi cho nhanh. Dịu không chịu: “Anh đi trước đi. Không đi xe đâu. Bọn nó cười chết”. Vinh nói thế nào Dịu cũng không chịu lên xe. “Anh đi trước đi, bọn nó kia kìa”. Kệ, Dịu nói thế nào Vinh cũng không chịu lên xe, cứ dắt xe kè kè bên cạnh. Rồi không ai nói với ai lời nào. Đường đến trường như dài hẳn ra. May mà đến lớp cũng không quá muộn.

​Hôm sau Vinh lại đến, rồi quen dần. Bọn nó cười chọc lúc đầu cũng hơi ngượng thật, nhưng rồi cũng chẳng ai cười được mãi. Vậy là mưa cũng như nắng, cứ đến ngày học thêm là Vinh lại qua sông đón Dịu. Chiếc xe đạp cứ thế nhẫn nại như một chiếc cầu vô hình nối hai bờ sông Đáy. Mà đúng, nếu không có xe đạp thì Vinh lấy cớ gì sang đây đón Dịu? Đi bộ sang đây rồi lại cùng nhau đi bộ đến trường à? Có mà dở hơi! 

Vinh con một. Bố mẹ cũng già yếu. Là người lo nghĩ sớm, lại cũng vừa đi học vừa đi làm đồng, nên trông Vinh khá chững chạc. Anh ít nói nhưng nhìn ánh mắt là Dịu biết. Và rồi những gì cần đến đã đến. Tình yêu của họ diễn ra trên con đường đến trường, dọc bờ sông những ngày nghỉ học. Quà tặng của họ là những bó hoa nhỏ xíu, đủ màu sắc lượm được từ những khóm cây dại hai bên bờ sông. Lời họ nói với nhau có hương đất hương cây của những khu vườn phù sa mát lịm. Vậy mà họ đã yêu nhau cũng đã gần hai năm, tình yêu lúc đầu như một hơi thở nhẹ, đến nỗi cả Vinh lẫn Dịu không ai nhận ra, cũng chẳng nhớ từ bao giờ họ cầm tay nhau. Ở làng Thượng Tứ, mọi việc diễn ra như cuộc đời vốn thế, dù chiến tranh bom đạn cũng kệ, ai đi đâu xa thì đi, ai ở nhà thì người ta vẫn cứ yêu nhau, sinh con đẻ cái. Vinh và Dịu chưa nghĩ đến ngày đó, ngày đó còn xa vì cả hai còn phải học. Nhưng ngày đó nhất định tới. Ngày đó Vinh sẽ đến đón Dịu bằng chiếc xe đẹp nhất, bộ quần áo đẹp nhất. Ngày đó Dịu sẽ cài chiếc lên đầu chiếc vương miện ưng ý nhất, trong tay có bó hoa trắng nhất, tươi nhất, sóng bước theo Vinh ra Hội trường Ủy ban, trong tiếng nhạc và tiếng cười nói của bạn bè. Nhưng ngày đó còn xa…

*

​Mùa đông năm 1974, cả nước tuyển quân rầm rộ, chuẩn bị cho những trận đánh lớn mùa xuân 1975. Đang học dở lớp mười, Vinh được đặc cách tốt nghiệp, trước khi lên đường nhập ngũ. Mọi việc chuẩn bị gấp gáp trong một tuần. Dịu và Vinh ra tận Hà Đông mua sắm vài thứ và chụp ảnh. Rồi họ chỉ còn một đêm cuối cùng trước khi chia tay. Họ dành trọn đêm ấy cho nhau. 

Dịu và Vinh đi dọc theo con đường dưới ánh trăng sáng, thẳng ra bờ sông. Hai người ngồi xuống trên trảng cỏ. Ánh trăng ngời ngợi, trải một lớp thảm vàng xuống mặt sông. Những đôi chim về muộn gọi nhau trên cao. Tiếng những chú cá đi ăn đêm búng nước sau đám lục bình đang lững lờ trôi. Dịu ngồi tựa vào vai Vinh, túi xách để bên cạnh. Vinh ôm đôi vai nhỏ của Dịu. Lời nói bằng thừa, những nụ hôn nói lên những điều hai người cần nói. Rồi họ trao thân cho nhau, đầy mãn nguyện. Vẫn nằm nguyên trên bãi cỏ, Vinh nói thầm vào tai Dịu:

- Ngày mai anh đi rồi em một mình đi bộ đến trường, nhớ dậy sớm kẻo muộn giờ nhé. 

- Anh đừng lo. Em dậy sớm được mà. Em vẫn hàng ngày dậy sớm thổi cơm cho mẹ, quen rồi.

- Anh sợ nhớ em rồi không biết chịu nổi không. Mấy năm có dài lắm không nhỉ?

- Người ta chịu được, mình chịu được, lo gì. Em lại lo khác.

- Em lo gì?

- Em sợ mang bầu!

- Chắc không đâu em. Lần đầu khó có thể mang bầu.

- Ai bảo anh thế? Em mà bị thì anh chết với em đấy. Dịu dúi vào trán Vinh. Mà thôi lo làm gì. Nước chảy tới đâu bèo trôi tới đấy anh ạ! Có con thì nuôi, anh nhỉ? Dịu làm ra vẻ từng trải, liều lĩnh. À mà giả dụ nhé, giả dụ mang bầu thì đặt tên con là gì anh nhỉ?

Đến lúc ấy thì Vinh mới theo kịp ý nghĩ của Dịu. Hồi lâu, Vinh nói:

- Nếu con trai tên là Minh có được không? Phan Vũ Minh. Họ anh là Phan họ em là Vũ. Đêm nay trăng sáng đặt tên con là Minh, được không?

- Thế nếu con gái? Dịu hỏi

- Nhìn kìa, một dải ngân hà. Phan Vũ Ngân Hà, được không?

Dịu không nói gì. Cô chợt thấy mình trở nên nhỏ bé trước một bầu trời sao dày đặc trên kia. Một thoảng gió lạnh bỗng từ đâu kéo tới, Dịu quàng tay ôm Vinh thật chặt, như thể sợ cả bầu trời sao kia sẽ sà xuống kéo anh lên đó mãi mãi. Dịu vội lục trong túi xách cuốn sổ tay bìa cứng, giấy trắng mịn, trang đầu dán tấm ảnh Dịu vừa chụp, trao cho Vinh: “Anh cầm đi để nhớ đường về xóm Cầu sông Đáy nhé”. Vinh mở cuốn sổ, gặp ngay ảnh Dịu trang đầu. Trong ảnh, Dịu không cười, ánh mắt yên lặng như đang cố níu giữ điều gì. Họ chia tay nhau. Sông Đáy ngoài kia chậm trôi, bịn rịn.

*

- À, tôi hiểu rồi, đấy là nguồn gốc tên chị, Ngân Hà, tên quá đẹp và ý nghĩa nữa! Bích nãy giờ chăm chú nghe Ngân Hà kể, bỗng chen vào.

- Đẹp nhưng mà khổ chị ạ.

- Vậy à? Rồi sao nữa chị?

Giọng Ngân Hà như chùng xuống, câu chuyện lại tiếp tục trong tiếng xe chạy đều đều… Hai tháng sau khi Vinh lên đường, thấy khác lạ trong người, Dịu biết điều chị nói với Vinh trong đêm trăng bên bờ sông Đáy đã hiển hiện. Làng Thượng Tứ rồi sẽ như sôi lên khi nghe tin Dịu mang bầu. Dịu rụt rè thưa với mẹ, rồi kể hết cho mẹ nghe chuyện của hai đứa. Mẹ Dịu nghe con nói, thở dài rồi nằm dán giường liền mấy hôm. Khi mọi sự đã bình tĩnh lại, mẹ gọi Dịu vào buồng:

- Ở làng này, con ạ, khó sống lắm. Lẽ ra hai đứa nên nói với người lớn từ trước. Bây giờ nó đi rồi, một mình con có nói cũng chẳng ai người ta tin. Thôi mẹ nghĩ rồi, con lên với dì Hai trên Tây Bắc. Tính dì chu đáo, lại tháo vát. Dì ở một mình, đang làm ở xưởng chè Mộc Châu. Mấy lần dì viết thư mời mẹ lên ở hẳn trên đó với dì. Con lên đó nói thật với dì mọi chuyện, coi như dì xin cho con lên làm công nhân. Nhớ ngoài dì ra, con đừng nói với ai.

​Đêm bên bờ sông Dịu quả quyết bao nhiêu, thì lúc này Dịu yếu đuối, bối rối bấy nhiêu. Phải bỏ học, Dịu tiếc lắm. Hay là cứ sang thưa chuyện với bố mẹ Vinh? Không được, ông bà bố mẹ Vinh phong kiến lắm, nhỡ ra vỡ chuyện, rồi chẳng đâu vào đâu, khổ mẹ. Hay là cứ nghe mẹ đi giải quyết đi? Dịu không thể. Những lời nói với Vinh hôm nào như còn văng vẳng bên tai Dịu. Đợi mẹ ra vườn hái rau, Dịu ngồi viết thư cho Vinh. Dịu kể cho Vinh về kết quả của đêm trăng cách đây hai tháng mười hai ngày, trước hôm Vinh đi. Nhưng rồi Dịu ngồi thừ ra. Thư không thể gửi đi vì Dịu không có địa chỉ của Vinh. Một tuần sau Dịu một mình vẫy xe tải lên Tây Bắc.

​Dì Hai biết tình cảnh của cháu liền tìm cách xin cho Dịu đi làm ở xưởng chè cùng với dì. Dì phải thưa thật chuyện của Dịu với ông tổ trưởng, ông ấy mới nhận. Ông cũng từng là bộ đội chuyển ngành, nên với những hoàn cảnh như Dịu, ông rất thông cảm. Vậy là Dịu trở thành công nhân của nông trường Mộc Châu. Sáng sáng đi hái chè, chiều về, nhớ mẹ, nhớ Vinh, lắng nghe cái bụng của mình mỗi ngày một khác lạ, Dịu viết thư cho Vinh. Dịu kể cho Vinh những lần con đạp tê điếng như thế nào, Dịu kể cho Vinh đêm nằm Dịu trò chuyện những gì với con, Dịu kể Dịu nhớ con đường đi học ngày trước, bãi cỏ bên sông dưới vầng trăng sáng và dải ngân hà rực rỡ hôm nào, Dịu kể về cái mùi thơm quyến rũ của những búp chè non ra sao… Cứ vài hôm Dịu lại viết cho Vinh một bức thư, viết rồi để đấy không gửi vì không có địa chỉ. Nhưng được trò chuyện với Vinh, lòng Dịu vợi bớt những thấp thỏm những ngày đã qua, những lo âu đang chờ phía trước.

​Dì Hai về xuôi đón mẹ Dịu lên khi ngày sinh của Dịu đến gần. Nhà ở xóm Cầu đóng cửa để đấy, vườn tược có ai vào hái mớ rau, chọc trái bưởi cũng kệ. Dịu bàn với mẹ lên ở hẳn với mình và dì Hai trên nông trường, không về xóm Cầu nữa. Nhưng cũng không bán nhà. Dịu nghĩ đến ngày Vinh trở về, thấy nhà cửa còn nguyên vẹn, thế nào Vinh cũng đi tìm. Với mẹ, xóm Cầu là nơi ghi dấu những ngày tủi nhục, nên khi nghe Dịu nói, mẹ thấy cũng thuận. Được cái đất đai nông trường rộng, xin một mảnh dựng nhà cho mẹ con Dịu không khó. Những việc ấy dì Hai làm nhẹ như không.

​Sau ngày Sài Gòn giải phóng, Dịu nhờ dì Hai về xóm Cầu hỏi dò tin tức của Vinh, nhưng Vinh vẫn chưa về. Dì Hai cũng nhờ người bí mật hỏi bố mẹ Vinh, nhưng ông bà cũng chỉ biết anh đang ở Campuchia, còn không có địa chỉ cụ thể. Lại vài lần đi nữa, khi thì kết hợp với công việc, khi thì dì giấu Dịu, đi một mình. Hòa bình đã mấy năm rồi mà sao Vinh vẫn chưa về? Sao lâu quá vậy, dì nhỉ? Đằng đông, đằng tây người ta về cả, ai cũng ba lô con cóc có con búp bê tóc vàng và cái khung xe đạp vắt ngang. Dì Hai chỉ còn cách an ủi cháu kiên nhẫn chờ đợi. Bây giờ thì Dịu hiểu thế nào là chờ đợi, khủng khiếp nhất là chờ đợi.

​ Một đêm đầu mùa thu, Dịu viết thư cho Vinh, kể việc con gái Ngân Hà ra đời. Cho đến trước hôm ra bệnh xá sinh con, Dịu vẫn đi làm. Cái bụng mỗi lúc càng nặng cho đến khi trễ xuống như sắp rơi, Dịu ngồi thụp xuống cạnh luống chè, không chịu được nữa. Mấy chị gần đó đưa Dịu vào viện. Mọi việc mau lẹ. Cô y tá sởi lởi: Ôi chao! Đẹp như thiên thần. Đặt tên cho công chúa gì nào? “Anh ạ, đêm hôm ấy trăng cũng sáng, và một dải ngân hà bắc ngang bầu trời. Em thấy nó như một nhịp cầu óng ánh đưa anh về với mẹ con emNgười ta nói những người tinh túy nhất rồi sẽ được lên nhập vào giải ngân hà, phải vậy không anh?

*

​Vào bộ đội, huấn luyện cấp tốc mấy tháng, đơn vị của Vinh hành quân vào Nam bằng xe cơ giới vào Sài Gòn. Ngày chiến thắng, Vinh viết thư cho Dịu nhưng không hy vọng nhận được thư trả lời. Đã mấy lần anh gửi thư về xóm Cầu nhưng vẫn bặt vô âm tín. Vinh không hề biết rằng Dịu và mẹ đã chuyển nhà lên Mộc Châu. Rồi đơn vị Vinh lại được lệnh xuống biên giới Tây Nam. Sau đó là những năm chiến đấu ác liệt ở Campuchia. Vinh vẫn thường ghi nhật ký. Không nhận được thư hồi âm của Dịu, Vinh rất buồn nhưng cũng hiểu có thể đơn vị nay đây mai đó, thư khó mà tới tay được. Trong đơn vị cũng nhiều người mấy năm liền không liên lạc được với gia đình. Anh chỉ còn biết cách trò chuyện với Dịu bằng nhật ký. Cuốn sổ tay có tấm ảnh của Dịu, vẫn giữ cẩn thận trong túi ni lon, dần dần kín đầy những trang viết của Vinh.

​Rồi một ngày Đài truyền hình tường thuật tỉ mỉ cuộc trở về vinh quang của những đoàn quân chiến thắng. Những gương mặt đen sạm, những nụ cười loáng nắng. Những bà mẹ Campuchia đưa tiễn bịn rịn lau nước mắt. Một dân tộc tưởng sẽ diệt vong, nay bàng hoàng hồi sinh trên gương mặt những thiếu nữ đang ùa ra lưu luyến ôm chặt những chàng lính trẻ chuẩn bị lên xe trở về. Dịu xem ti vi lòng dạ như có lửa đốt, chuyến này thì chắc Vinh về, hòa bình rồi, thì cũng phải có ngày hết giặc chứ? Dịu lại khẩn khoản nhờ dì Hai về xóm Cầu một lần nữa. “Lần này nữa thôi dì ạ, sau đó dì không phải khổ vì cháu nữa. Cháu thấy sốt ruột lắm dì ạ. Dì giúp cháu lần nữa nhé. Cháu lâu không về dưới đó, sợ mình xuất hiện lúc này không tiện, dì à”. Tháng sau dì Hai sắp xếp công việc rồi trở lại xóm Cầu.

Không như Dịu nghĩ, chiến tranh kết thúc nhưng không phải ai cũng trở về. Có những người, rất nhiều người không về cùng với đoàn quân thắng trận. Trong những người nằm lại vĩnh viễn trên đất bạn, có Vinh. Anh bị một viên đạn bắn lén từ sau đám bụi rậm chỉ mấy tháng trước ngày rút quân. Đồng đội thương xót khóc anh, bao nhiêu năm dũng cảm, đánh giặc trầy vi tróc vảy, qua hết trận này đến trận khác, không hề hấn gì, vậy mà không cố được, một phút giây oan nghiệt không ai ngờ tới đã cướp đi của họ người Đại đội trưởng vốn rất tinh nhanh và cẩn trọng nơi bom đạn.

​Ông bố Vinh nhận tin con hy sinh khi đang ốm nặng. Ông không ngồi dậy được khi có người đến nhà báo tin dữ và ái ngại gửi lại ông bà chiếc ba lô lép kẹp của Vinh. Ông bà không dám mở, chiếc ba lô vẫn để nguyên góc tủ, cạnh tấm ảnh Vinh. Cho đến một hôm nhắn chú Thành đến chơi, ông mới nhờ chú Thành hạ chiếc ba lô xuống và mở xem có thứ gì trong đó. Bà mẹ lại khóc ngất khi nhìn thấy mấy bộ quân phục cũ và mấy thứ đồ dùng cá nhân của con. Chú Thành lục từ dưới đáy ba lô cuốn sổ tay bọc trong túi ni lon. Ông nhờ chú mở ra. Trang đầu là tấm ảnh Dịu, đượm buồn, cặp mắt như đang níu giữ điều gì. Bên cạnh là hàng chữ nắn nót: “Dịu, vợ yêu của anh”. Cuốn sổ được đánh số trang cẩn thận. Ông bố Vinh và chú Thành lặng người. Hồi lâu, chú Thành nói:

- Bác có nhận ra cô gái này là ai không?

- Không chú ạ. Mà sao nó không nói gì với bố mẹ chứ?

- Chắc nó sợ bác, chưa tiện nói đấy thôi. Em thấy cô này cũng có gì quen quen sao đó. Để em hỏi xem. Chú nói với ông bố Vinh, nếu được thì xin phép đọc hết những gì trong cuốn sổ. Bố của Vinh đưa cuốn sổ bọc ni lon cho chú Thành. “ Cũng chỉ còn lại chừng đó. Chú giữ cẩn thận cho nhá”

Chú Thành đêm chong đèn lật từng trang nhật ký của Vinh, sáng ra lại lân la đầu làng cuối xóm hỏi xem tin tức cô Dịu. Không ai biết. Chú sang cả bên kia sông. Có vài bà lão nói: “Không rõ lắm, chỉ nhớ lâu lắm rồi, sau ngày giải phóng miền Nam, có một phụ nữ mấy lần qua lại hỏi nhà cái anh Vinh nào đó. Tôi cũng chỉ nhớ có thế. Chả biết rồi có tìm được không? Lâu không gặp lại nữa”. “Có phải người này không ạ”? Chú Thành chỉ tấm ảnh Dịu trong cuốn sổ. “Không phải, người đàn bà đứng tuổi rồi cơ”. Lại có người nói với chú Thành, tên Dịu thì quanh đây có mấy người tên Dịu. Có người đã lấy chồng, con cái lớn hết rồi. Có người chuyển đi nơi khác từ lâu không ai biết đi đâu. Chú Thành đến gặp hai người tên Dịu, một họ Nguyễn ở xóm Bến, một họ Trần ở xóm Hạ, bên kia bãi. Đều không phải.

Tối về chú Thành lại mở cuốn nhật ký. Những trang đầu tiên làm chú Thành dừng lại suy nghĩ rất lâu. Đêm trăng sáng, bờ sông, tiếng vạc kêu trên không trung, tiếng cá búng sau vạt lục bình tím lam trên mặt nước… Sao có gì thân thuộc thế nhỉ? Chú Thành cũng chỉ mới học đến lớp chín rồi đi làm ngang. Chú cố tưởng tượng xem những điều Vinh viết trong nhật ký, nói về vùng quê nào. Mà vùng nào chả có sông, sông nào chả có lục bình… Chú đọc tiếp. Nhật ký đề ngày 20 tháng 8 năm 1975: “Đêm nay đơn vị được lệnh hành quân về Tây Nam, ở đó biên giới Tổ quốc đang bị xâm lấn. Chỉ lát nữa thôi là xuất phát. Vội ghi mấy dòng. Đã viết cho Dịu mấy lá thư rồi mà không thấy trả lời, có thể đơn vị mình cứ chuyển quân liên tục, thư từ không tới được. Nếu mình không nhầm thì cũng một đêm giữa tháng như đêm nay, cách đây hơn mười tháng, trên bãi cỏ bờ sông chúng mình hẹn nhau ngày chiến thắng sẽ về làm lễ cưới. Vậy mà cuộc chiến này chưa nguôi thì lại tiếp đến cuộc chiến khác. Lát nữa thôi, những chàng trai trẻ lại hành quân về nơi súng nổ. Ngày cưới của hai ta sẽ còn phải một thời gian nữa em ạ. Em còn nhớ không, đêm ấy trăng cũng ngời sáng. Cũng vắt ngang trời một dải ngân hà. Sao anh cứ có linh cảm rằng chúng ta đã có con gái? Phải vậy không em”.

Lần này dì Hai về xóm Cầu mang theo cả một xấp phong bì trong đó có những lá thư Dịu viết cho Vinh mà không gửi được. Dịu muốn dì Hai sẽ cho Vinh xem Dịu nhớ Vinh như thế nào, để anh sớm lên Mộc Châu với Dịu và con. Dì đi rồi, Dịu lại cảm thấy không yên. Lỡ người ta đã thay lòng đổi dạ thì những bức thư kia có nghĩa lý gì chứ? Cầu xin à? Dịu không cần. Bao năm nuôi con một mình, Ngân Hà cũng đã lớn, đã gần mười lăm tuổi rồi. Dịu chịu được mọi điều, quen rồi. Một chút hờn giận từ đâu đó như đám mây xám đang xâm chiếm lòng dạ Dịu. Nhưng rồi Dịu lại phấp phỏng lắng bước chân trở về của dì Hai.

Lúc này thì dì Hai đang ngồi trước cổng nhà ở xóm Cầu của mẹ con Dịu. Dì không muốn vào nhà, vì đã lâu không ai ở, căn nhà, mảnh vườn sao mà buồn vắng quá. Dì định nghỉ một lát rồi sang bên kia sông lắng tin của Vinh. Ngày mai ra ngoài Xốm thăm người bà con mấy hôm rồi trở về ​Mộc Châu.

Như một sợi dây vô hình giăng mắc từ đâu đó, chú Thành không tài nào phân biệt được rách ròi, cũng không hiểu ai mách bảo gì chú mà bàn chân chú bước đi như vô định. Rồi vừa ngẩng lên chú đã thấy cái cổng nhỏ của ngôi nhà bỏ không, vườn tược cây dại um tùm bên bờ sông, cạnh chiếc cầu nhỏ, mà đôi lần chú đã đi qua. Vừa đi chú vừa nhớ lại một đoạn trong nhật ký của Vinh: “Nhớ em quá, nhớ cái nhà nhỏ bên cạnh cầu, nhớ cái ngõ nhỏ có hàng dâm bụt quanh năm lúc nào cũng đung đưa những chùm hoa như đang cúi chào mỗi lần anh đến đón em đi học, ngôi nhà mà anh chưa dám bước vào sân một lần. Vậy mà không hiểu vì sao mỗi lần nhớ em, anh lại cảm thấy như đang cùng em đi về ngôi nhà ấy?” Hay đây chính là ngôi nhà ấy? Hàng dâm bụt kia thôi. Mà sao căn nhà bỏ không lâu thế? Mà sao Vinh chưa dám một lần bước vào sân? Chú Thành đến bên hàng rào lúc nào không biết. 

Linh tính mách bảo chú rằng, người đàn bà đang ngồi kia chính là “người đàn bà có tuổi” đã đôi lần về qua đây, như lời các cụ bà kể với chú trong câu chuyện đi tìm Dịu. Ai chú không biết, chứ chú thì cũng đã đôi ba lần ngẫu nhiên tình cờ gặp may như vậy. Ví như có lần, mất con bò đen, chú đi tìm ba ngày không thấy. Đến khi chán ra về  thì con bò từ dưới bờ sông đủng đỉnh đi lên, ngoe nguẩy cái đuôi như kẻ có lỗi. Ví như có lần, đi ăn thôi nôi của đứa cháu người bà con làng xa, đang đêm ra về vẫn còn say quá, bước thấp bước cao, lạc đến tận Chúc Sơn, rồi như có ai dắt tay, khật khưỡng lần mò gần mười cây số, vẫn về tới nhà. Chú vẫn tự nhận mình là người may mắn như có quý nhân phù trợ mà.

- Chào bà, nhà bà đây ạ? Chú hỏi

- Không ạ, đây là nhà bà chị tôi, ông ạ.

- Vậy sao? Nhà cũng để không lâu rồi bà nhỉ?

​- Vâng ạ. Rồi không đợi chú Thành hỏi, dì Hai kể lại câu chuyện mẹ con Dịu chuyển lên Tây Bắc.

​- Trời đất ơi! Vậy mà tôi đi tìm cả mấy tháng nay rồi. Chú Thành kêu lên.

​- Ông đi tìm ai vậy ạ?

​Chú Thành kể lại câu chuyện, rồi rút cuốn nhật ký: “Nó đây, thưa bà”. Bà Hai nghe chuyện chưa hết buồn thương cho số phận hai đứa cháu Dịu và Vinh, rồi bà cũng rút tập thư của Dịu đưa cho chú Thành: “Ông cầm về đọc, mấy hôm tôi quay lại, xin ông”. Chú Thành cũng tin cậy trao cho bà Hai cuốn nhật ký của Vinh.

​Đúng hẹn, bốn hôm sau bà Hai đến nhà bố mẹ Vinh, gặp cả chú Thành ở đấy. Mọi việc đều sáng tỏ. Trước khi bà Hai ra về, ông bà bố mẹ Vinh và chú Thành trao lại xấp thư của Dịu, nhờ bà giao lại cuốn nhật ký của Vinh cho Dịu và hẹn ngày lên thăm mẹ con Dịu.​

​Dì Hai về, Dịu sụp xuống, không ăn không uống mấy ngày, rồi đang đêm một mình ra bờ suối, chỗ nước sâu nhất. Cú đánh chí mạng, như trời giáng làm người đàn bà vốn giàu nghị lực tan nát, không muốn sống nữa. Nhưng đúng vào lúc Dịu định nhảy xuống thì Ngân Hà lao tới. Nó ôm lấy mẹ và gào lên. Dịu quờ tay ôm con vào lòng, sờ soạng khắp mình nó: “Con ơi! Ôi con tôi, sao con còn bé bỏng thế này?”.

​Hai con người nhỏ bé tội nghiệp ấy lại liêu xiêu dìu nhau trở về ngôi nhà của họ.

*

​Chiếc xe ca đang đổ đèo, sắp đến điểm dừng cuối cùng. Ngân Hà cũng dừng câu chuyện. Suốt chặng đường, Bích liên tục rút khăn chấm nước mắt. Bích lên công tác tại nông trường Mộc Châu, viết bài về giống bò sữa cho năng suất cao. Lúc này chị im lặng, chưa ra khỏi trạng thái của câu chuyện Ngân Hà kể. Chị ghi số điện thoại của Ngân Hà, hẹn mấy hôm xong việc, chị sẽ đến thăm Ngân Hà và mẹ Dịu. “Vâng, chị đến nhé, em sẽ nói với mẹ để chị đọc một số trang nhật ký của bố Vinh và những bức thư của mẹ Dịu. Lạ lắm chị ạ, linh tính thế nào mà có ngày họ cùng viết về một việc chị ạ. Ví dụ, ngày 20 tháng 8 năm 1975 họ cùng viết về một đêm trăng sáng có dải Ngân Hà rực rỡ bắc ngang bầu trời”.

Nhất định tôi sẽ đến để chứng kiến một trong những vì sao li ti của dải ngân hà. Dải nhân hà ấy đã vắt qua vùng quê hẻo lánh, đã vắt qua đất nước này và rực rỡ như dòng lịch sử mà nhân dân tôi đã đi qua...

 

Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *