Từ đời vào văn

7/1
3:50 PM 2017

BÍ QUYẾT SÁCH BÁN CHẠY

Tri Chí-“Tôi yêu New York bằng niềm đam mê điên dại chỉ dành cho một thứ nữa trong đời tôi”. Đối với hàng triệu độc giả khắp thế giới, câu mở đầu này đã chứng tỏ sức lôi cuốn không thể cưỡng lại. Câu ấy là từ tác phẩm: “Reflected in You” (“Soi bóng trong em”), một tập trong bộ tiểu thuyết gợi tình “Crossfire” (tạm dịch - “Chéo cánh sẻ”) của Sylvia Day, đã bán được tới 13 triệu bản kể từ khi phát hành vào năm 2012.

Như vô số bài giảng về nghệ thuật viết văn đã hướng dẫn, một dòng  mở truyện hút hồn là cực quan trọng để giam chân người đọc. Các tác giả của một cuốn sách mới, có cái tên quyến rũ “Bí quyết Bestseller” (“The Bestseller Code”), là Jodie Archer và Matthew L Jockers,  đã chọn ra, cùng những trích dẫn từ tác phẩm của Sylvia Day, những câu mở đầu mà các nhà văn danh tiếng Toni Morrison, Jeffrey Eugenides và Virginia Woolf yêu thích. Tất cả những câu văn đó, họ bảo, chất chứa xung đột của một câu chuyện 300 trang trong chỉ 20 từ hoặc ít hơn.

Archer và Jockers đều có kiến thức đáng nể về sách - cô là một cựu biên tập viên của Nxb Penguin, ông là giáo sư tiếng Anh tại đại học Nebraska - nhưng ở đây lời khuyên của họ có nguồn gốc rất độc đáo. Nó dựa trên những dẫn xuất của một thuật toán.

Archer  từng làm việc ở hãng Apple và Jockers, tự nhận là một chuyên gia  về “toán phân tích văn học”, đồng sáng lập Phòng thí nghiệm văn học của đại học Stanford ở thung lũng Silicon. Bằng việc khai thác mô hình phân tích dữ liệu (machine learning), họ đã tra xét văn bản của 20.000 cuốn tiểu thuyết được xuất bản trong 30 năm qua, phân tích chủ đề, cốt truyện, và nhân vật, cùng những đặc tính khác như phong cách, bố cục.

Phối trí tất cả các điểm dữ liệu này, họ nói thuật toán của họ có thể dự đoán liệu một bản thảo có sẽ trở thành một bestseller trên tờ New York Times hay không. Họ có thể đã hài hước gọi nó là “đồng hồ sách bán chạy”, nhưng thật ngạc nhiên là nó “chạy” chính xác. Nó dự báo tác phẩm đầu tay của Chad Harbach, “The Art of Fielding” (tạm dịch “Nghệ thuật chuyền”), có 93,3% cơ may trở thành sách bán chạy nhất. Câu chuyện tâm linh của Mitch Albom, “The Phone First Call from Heaven” (tạm dịch: “Cú điện thoại đầu tiên từ thiên đường”), được 99,2% - tương tự cho Michael Connolly với cuốn “The Lincoln Lawyer” (tạm dịch: “Luật sư Lincoln”).

“Những con số đó - … tính chính xác của chúng - đã khiến nhiều người vui mừng, nhiều người tức giận, và không ít nghi ngờ”, Archer và Jockers thừa nhận.

Tất nhiên, có một kinh điển vững chắc những lời khuyên về việc viết văn  nằm ngoài những con số đó. Theo Stephen King thì bạn nên tập trung không phải vào cốt truyện mà vào tình huống, là cái thú vị nhất về điều có thể diễn đạt  như một câu hỏi - “sẽ thế nào, nếu…? “Đừng dùng quá nhiều nghiên cứu, hãy  thận trọng về đối thoại, và nhớ rằng  người ta thích đọc về công việc. “Chúa biết tại sao nhưng họ thích thế đấy”. Trong “Viết với bậc thầy”, Tony Vanderwarker,  người làm quảng cáo ở Chicago,  nêu bật ba bí mật của sự thành công anh ta đã được truyền dạy bởi chính John Grisham: Có một đề cương gọn đủ chuẩn xác, một phần phát triển mạnh và một cái bẫy lớn. Sophie Kinsella, tác giả của bộ tiểu thuyết “Shopaholic” (“Kẻ nghiện mua sắm”), có những lời khuyên thiết thực hơn: Luôn luôn mang theo một cuốn sổ tay, luôn luôn có kế hoạch và hãy ngừng nghỉ để uống chút cocktail nếu có trắc trở.

Ít có ai biết nhiều  về cơ chế  của những phẩm chất làm nên một bestseller hơn Jonny Geller, là CEO và MD (Giám đốc điều hành)  bộ phận sách tại cơ quan văn học và tài năng Curtis Brown. Kết nối đến những nhà văn nổi tiếng như John le Carré, Tracy Chevalier và David Nicholls, Geller mới đây đưa ra một hội thảo ý tưởng (TEDx) chưng cất những quan sát sáng giá 20 năm qua về năm cấu thành chủ yếu mà hầu hết các “hiện tượng” bestseller đều bao gồm. Trong đó có một giọng kể  điêu luyện với một câu chuyện mạnh mẽ đủ để bắc một cây cầu đưa người đọc từ nơi nào đấy quen thuộc đến một nơi nào đấy rất mới mẻ. Câu chuyện cũng cần có những chủ đề sâu sắc hơn, tạo được dư âm sâu xa hơn những tình tiết lôi cuốn của nó - chẳng hạn truyện “Phòng” của Emma Donoghue  không chỉ kể về người mẹ cùng đứa con ẩn náu trong một căn phòng suốt nhiều năm, mà căn bản là câu chuyện về tình mẹ con ở dạng thuần khiết nhất. Đôi khi, Geller nói, một cuốn sách chỉ đơn giản diễn đạt tinh thần thời đại - “cung cấp sự thoát ly trong một thế giới đáng sợ, vang vọng niềm hoang tưởng trong một thế giới không an toàn, thúc đẩy niềm lãng mạn trong kỷ nguyên của  đam mê, khám phá sự phức tạp mang tính văn học của một xã hội đang xáo trộn.”

Xét cho cùng, rất nhiều những phát hiện của Archer và Jockers tương tự với những lời khuyên vốn có, nhưng nguồn dữ liệu lớn cho phép họ tạo ra các đồ thị và bảng biểu để chứng minh, chẳng hạn, tầm quan trọng của nhịp điệu trong một cốt truyện. Tuy nhiên cách tiếp cận theo gói-thông-tin này mang lại một số hiểu biết đáng ngạc nhiên mà sự đọc của con người, quá bị lôi cuốn theo kịch tính và cái đẹp văn bản, có thể bỏ lỡ. Chẳng hạn, phô diễn cái gợi cảm mà chỉ cho một thị trường ngách - truyện gợi dục, thì có gì mà ngạc nhiên. Và ngay cả như vậy, đôi khi chúng không hoàn toàn như chúng có vẻ là thế. Hãy xem “Năm mươi Sắc thái Xám”. Dù có những màn tình dục dị thường mang tính khuyến mãi, chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết, chiếm 21% nội dung của nó, là “sự gần gũi của con người” - và đó không phải là một uyển ngữ. Chủ đề chi phối thứ hai là “cuộc trò chuyện thân mật”, gồm rất nhiều các trò chuyện ái tình thuần khiết cũng như các cuộc thảo luận về tình cảm giữa Ana với Christian.

Nhưng có thực sự có một công thức để tìm kiếm? Jeffrey Archer bảo: “Có, có  công thức để viết một cuốn sách bán chạy. Chỉ cần đảm bảo cho độc giả phải lật từng trang, tuyệt vọng tìm kiếm những gì sẽ xảy đến tiếp theo. Thế thôi. “

Điều đó không ngăn được những tác giả tham vọng cố gắng suốt nhiều năm  - đôi khi với sự thành công ngông cuồng. Khi nữ diễn viên chuyên đóng các vai phụ Jacqueline Susann dốc sức viết cuốn tiểu thuyết duy nhất của cô vào năm 1962, cô muốn nó phải là một cuốn “bom tấn”, giống như các tiểu thuyết của Harold Robbins, tác giả bán chạy nhất thời đó. Cô mua các tiểu thuyết của ông này, mỗi tác phẩm ba cuốn, và lấy kéo cắt (theo nghĩa đen). Những nỗ lực của cô đã được đền đáp và cuốn tiểu thuyết ra đời từ đó, cuốn “Thung lũng Búp bê”, trở thành tác phẩm bán hết nhanh nhất trong lịch sử. Cuốn tiểu thuyết diễm tình bình dân độc đáo đó được tái bản vào tủ sách Kinh điển Hiện đại của nhà Virago.

Ở đầu kia của thị trường, các khóa học viết văn sau đại học dựa trên ý tưởng rằng việc viết ra một tác phẩm văn học tốt có thể, nếu không hoàn toàn dạy được, thì cũng nuôi dưỡng được. Một trong những cuốn sách cực “hot” mùa hè này là “Đắng ngọt ngào” (“Sweetbitter”) của Stephanie Danler. Một cuốn tiểu thuyết đầu tiên về cuộc sống và tình yêu đằng sau những cảnh trí một nhà hàng được ưa chuộng ở New York, pha trộn một chuyện kể kinh điển về tuổi trưởng thành với sự trợ giúp xa hoa của các món gợi dục.

Danler viết từ trải nghiệm - cô làm bồi bàn tại tổ hợp nổi tiếng Tổ hợp Café Quảng trường của Danny Meyer - nhưng văn chương của cô được rèn cặp bởi một MFA (thạc sĩ nghệ thuật)  ở New School, nơi cô được cộng tác viên về tiểu thuyết Helen Schulman, một tác giả “bestseller,” dạy dỗ. Tự coi thuộc trường phái cũ, Schulman dị ứng với ý tưởng về một nhà văn sử dụng “đồng-hồ-sách-bán-chạy” để nâng cao sáng tác của mình. Hơn nữa, cô thấy khó mà đoán định làm thế nào tài năng văn học và việc khó nhọc cần thiết để giúp nó triển nở lại có thể được kế hoạch hóa. “Con người của Stephanie từ cái đầu và trái tim cô ấy cho đến những ngón tay cô ấy chính là cái tạo ra tác phẩm Sweetbitter. Chẳng có gì có thể đoán trước được việc này “.

Ngay cả nếu có một bí quyết như vậy, liệu việc áp dụng nó vào văn xuôi có sẽ không gây tác động tồi tệ - tạo ra một loại tranh-văn-học bằng những con số? “Không có gì cản trở các nhà tiểu thuyết hơn là những giới hạn của trí tưởng tượng của họ”, Geller nói. Nhưng một nhà văn người thừa nhận cô đã tò mò muốn thử cái phần mềm đó, Naomi Alderman, tác giả nhiều tiểu thuyết bán chạy trong đó có cuốn “Bất tuân”, nói: “Chúng ta đều biết việc xuất hiện trên danh sách bestseller chỉ là một trong những thước đo thành công của một cuốn sách, và có một kiểu công thức cho sách có xu hướng bán chạy, giống như công thức âm nhạc cho nhạc pop. Người ta thường thích những gì họ đã quen thuộc. Tôi thực sự quan tâm nhất đến những cuốn sách bán chạy mà không công thức nào có thể dự đoán - và  đến những cuốn sách tuyệt vời mà không hề bán chạy.”

Thực tế là một vài tiểu thuyết đình đám đã lọt qua đồng-hồ-sách-bán-chạy. Archer và Jockers thừa nhận đồng-hồ-sách-bán-chạy đã nhầm lẫn khoảng 15% trong số những cuốn sách nó phân tích, trong đó có cuốn “The Help” của Kathryn Stockett, được đánh giá cơ hội thành công là 50-50. Như Geller lưu ý, khi được hỏi liệu ông có không bị cám dỗ để cho một thuật toán như thế tuột khỏi tầm kiểm soát trên cái đống lùng nhùng của Curtis Brown. “Các đồng nghiệp và tôi sử dụng các thuật toán để xác định tác phẩm chúng tôi muốn trình ra. Họ cũng chỉ là những con người. Tôi tin rằng có một không gian đáng quan tâm cho việc loại bỏ những cuốn sách rõ ràng sẽ không gây được tiếng vang với công chúng - nói cho cùng, có đến 184.000 cuốn sách được xuất bản trong năm 2014 và chúng tôi cần sự giúp đỡ. Thêm nữa, cái phân biệt chúng ta với loài vật là ngữ pháp. Chúng ta giao tiếp theo một cách có cấu trúc và cảm xúc, và cách đó chỉ có thể được đánh giá bởi người khác”.

Tuy nhiên, đồng-hồ-sách-bán-chạy dường như đã có được một khiếu hài hước. Chắc chắn nó có được tiếng cười sau rốt. Chỉ một cuốn sách được nó chấm 100% cơ hội: Cuốn tiểu thuyết “The Circle” của Dave Eggers năm 2013. Cuốn này có câu mở đầu chắc nịch, ba chủ đề tạo nên khoảng 30%  trong “công thức chiến thắng” - một cốt truyện ba hành động, một cốt truyện tình cảm đối xứng, một phong cách cân bằng và một nữ anh hùng mạnh mẽ từ một cơ quan lớn, tất cả khiến nó thành một hệ biến hóa “khủng.” Cũng tình cờ nó kể câu chuyện về công nghệ. Cụ thể, là cơn ác mộng về một thế giới công nghệ bạo tàn phi nhân, trong đó nữ nhân vật chính Eggers phải cải thiện một tài liệu nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Công việc của cô được đo bằng điểm phần trăm qua các cuộc điều tra dư luận. “Vâng, chúng tôi nhận thức được sự trớ trêu. Thuật toán của chúng tôi dường như  bằng cách nào đó đã chọn chính nó”, Archer và Jockers nói. “Chúng tôi không chắc liệu chúng tôi nên cho nó một nhát búa tạ hay mua bữa tối cho nó ăn”. Còn thực tế ra quầy sách thì sao? Trong lĩnh vực bán hàng, “The Circle” là một thất bại.

 Biên dịch, từ “The secret code to writing a bestseller”, By Hephzibah Anderson, The Guardian,12 August 2016

Nguồn Văn nghệ

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *