Tìm tòi thể nghiệm

28/5
4:51 PM 2017

KHÁT VỌNG VÌ HẠNH PHÚC CON NGƯỜI

Trần Đương-Với Hermann Hesse, năm nay, nhân dân Đức và loài người tiến bộ kỷ niệm hai sự kiện quan trọng của đời ông: ngày sinh lần thứ 140 (1877-2017) và ngày mất lần thứ 55 (1962-2017).

Nghĩ đến ông, nhà thơ và nhà văn xuất sắc- từng được trao giải thưởng Nobel về văn chương (1946) và nhiều giải thưởng quan trọng khác- người ta lại thấy hiển hiện trước mắt mình con đường sáng tác lâu dài đầy hiệu quả của ông, bắt đầu từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn rộng lớn, có trách nhiệm đối với toàn xã hội và niềm tin mãnh liệt vào hành động cũng như tương lai ngày càng tốt đẹp hơn của con người.

 

Toàn bộ tác phẩm của ông, dù đó là thơ hay tiểu thuyết, tạp văn hay truyện ký, là tấm gương phản chiếu một giai đoạn lịch sử quan trọng của nước Đức và của châu Âu từ cuối thế kỷ XIX đến 60 năm đầu thế kỷ thứ XX. Qua "tấm gương" ấy, người đọc cảm nhận một gương mặt nhân hậu, đầy tình yêu thương con người, một tiếng nói sắc xảo chống xã hội tư bản. Có thể khẳng định: Hermann Hesse là đại diện tiêu biểu cho nền văn học nhân đạo - tư sản Đức, thoạt đầu có khuynh hướng siêu hình, tìm quan hệ giữa thiên nhiên và con người, rồi dần đã trở thành một chiến sĩ chống chiến tranh, bị coi là "phán quốc". Cũng vì vậy, từ năm 1919- ở giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới lần thứ nhất- ông phải lánh nạn sang Thụy Sĩ, xin cư trú và nhập quốc tịch nước này.

So với các thế hệ văn hào Đức, ở Hermann Hesse có một nét rất riêng biệt, nêu không nói là đặc sắc: ông và tác phẩm của ông là điểm hẹn, là nơi gặp gỡ và giao lưu của hai nền văn hóa Đông Tây trên cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.

Nét độc đáo này được quy định trước hết bởi hoàn cảnh gia đình ông: ông ngoại của Hesse vốn là một học giả về khoa học nhân văn Ấn Độ; thân phụ và thân mẫu ông nhiều năm được giao nhiệm vụ truyền giáo ở Ấn Độ. Trong họ hàng ông, có những dịch giả xuất sắc, như Wilhelm Kundert, người anh họ thân thiết, với bản dịch tác phẩm Bi Yan Lu (Bích Nham Lục, một kiệt tác Phật học của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần đầu thế kỉ 12), được coi là một trong những người truyền bá văn hóa Viễn đông xuất sắc của nước Đức. Theo cha mẹ sang Ấn Độ từ lúc thiếu thời, sau này ông lại cùng bạn bè tiến hành một cuộc hành trình dài ngày tới đó. Không những thế, ông miệt mài nghiền ngẫm các tác phẩm của văn học và triết học Trung Hoa. Về sau, ông đã có lúc tự nhận: "Và rồi chuyện bất ngờ xẩy đến cho tôi, kẻ mãi đến lúc ấy chỉ biết văn học Trung Hoa qua tác phẩm dịch Kinh thi của Rükert, qua các tác phẩm mà Richard Wilhelm và một vài người khác đã dịch, tôi được tri ngộ một điều mà nếu không có nó thì tôi không biết phải sống ra sao nữa. Đó là lý tưởng Lão Trang của các nhà hiền thánh. Bay qua hai nghìn rưỡi năm, một niềm may mắn hạnh phúc đã đến với tôi, kẻ không biết một chữ Hán và cũng chưa bao giờ đặt chân trên vùng đất Trung Hoa, đã tìm thấy trong văn chương cổ Trung Hoa sự xác nhận linh cảm của chính mình, tìm lại được bầu không khí và quê hương tinh thần, như không có một lần thứ hai trong đời ngoài bầu trời sinh quán và tiếng mẹ".

Gặp gỡ, giao lưu, thật ra nói cho chính xác thì đó chính là sự hòa nhập nội tâm, một sự dấn thân mang tính tất yếu làm cho Hesse trở nên thật sự độc đáo, riêng biệt. Ấy là nhờ sự tiếp thu có chọn lọc, có suy nghĩ, có thể nghiệm công phu của ông. Một nhà nghiên cứu và dịch Hesse trong nhiều năm qua, chị Thái Kim Lan, tâm sự: "Khi đọc tác phẩm của Nhà thơ, điều ngạc nhiên kỳ thú của chúng ta là dưới ngọn bút của nhà văn người Đức này không khí của câu chuyện- chứ không riêng nội dung- lại có thể 'Tàu' đến thế. Hình như Hesse còn cảm nhận hơn chúng ta- những người Á Đông- nét chủ yếu trong lối nhìn Đông phương: không phải yếm thế, mặc cảm mà là lạc quan, cứu rỗi, tự nhiên. Sự hóa kiếp là một tiếng reo vui bất tử, là chiến thắng mọi lo âu già cỗi, mỗi phút ngắm hoa là một lần chứng ngộ chân lý, mỗi chút yêu người quên mình là một hiện thực niết bàn hạnh phúc, và làm thơ là con đường vượt thời gian hay ngậm thời gian cả quá khứ, hiện tại, vị lai vào trong chốn bất diệt..."

Là một người Đức- một "người Đức nguyên thủy", Hermann Hesse say mê văn hóa và triết học Ấn Độ, Trung Hoa, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc hành văn của Dostojewski, một văn hào Nga, với cốt cách của nhà phân tâm học. Do sự ảnh hưởng này, Hesse bỏ qua các vấn đề xã hội bề nổi, hướng thẳng vào cái tôi riêng lẻ và những xung đột nội tâm của nó.

Tất cả những nét riêng biệt trên được thể hiện ở mọi tác phẩm của Hesse, dù thuộc thể loại nào, kể từ năm ông bắt đầu cầm bút (1896). Với Những bài ca lãng mạn (tập thơ in năm 1898 khi ông 21 tuổi), Hesse đã xuất hiện với tư cách một tác giả được bạn đọc rộng rãi trân trọng. Tiếp đến là: Một giờ sau nửa đêm (văn xuôi-1899); Những văn bản và thơ di cảo của Hermann Lauscher (Nhật ký-1900); Peter Camenzind (truyện- 1904); Dưới bánh xe (ký- 1905); Những người láng giềng (truyện ký- 1912); Từ Ấn Độ (phóng sự- 1913); Nghệ sĩ Rosshalde (tiểu thuyết- 1914); Ba câu chuyện từ cuộc sống Knulp; Bên đường (truyện ký); Bản nhạc của kẻ cô đơn (tập thơ)- (cả ba tác phẩm này đều ra đời năm 1915); Mùa hè cuối cùng của Klingsor (truyện ký 1920); Siddharta và Sự hóa thân của Piktor (1922); Ghi chép của Sinclair (1923); Hành trình của Nuernberg và tiểu thuyết Sói đồng hoang (1927); Krisis (thơ tự bạch- 1928); Narziss và Goldmund (tiểu thuyết- 1930); Chuyến xe ở làng quê lúc ban mai (ký-1932); Tập thơ mới (1937); Những viên ngọc bằng thủy tinh (tiểu thuyết- 1943); Những chuyến đi mơ mộng (tuyển tập văn xuôi - 1946); Văn xuôi muộn mằn (1951)... về cuối đời, ông lâm bệnh nặng (tai biến mạch máu não), không sáng tác được nữa, nhưng, nhiều nhà xuất bản chọn lọc và xuất bản các tuyển tập tác phẩm của ông. Ngoài giải thưởng Nobel, ông còn được trao tặng giải thưởng Goethe, Giải thưởng Hòa bình của Hội xuất bản Đức... Một người bạn của ông, Hugo Ball, cho ra đời tác phẩm: Hermann Hesse, cuộc đời và tác phẩm. Ngoài viết văn, làm thơ, ông còn là một họa sĩ, từng tổ chức triển lãm các tác phẩm tranh màu nước, kèm theo 10 bài thơ về các bức tranh ấy, dưới tựa đề Thơ của họa sĩ.

Lướt qua danh mục sách trên đây, ta đủ thấy Hesse đã có một cuộc đời hoạt động văn học hết sức phong phú và đa dạng. Nói đến tác phẩm của ông, trước hết người ta khẳng định giá trị sâu sắc của Những viên ngọc bằng thủy tinh. Tác phẩm này ra đời trong Chiến tranh thế giới thứ II, vừa phê phán vừa có tính chất không tưởng và tượng trưng, nói lên khả năng và sự cần thiết phải hành động vì tương lai tốt đẹp của loài người. Điều này cũng được thể hiện ở Mùa hè cuối cùng của Klingsor- có thể coi như một tự truyện- tìm đến sự giải thoát có ý nghĩa đặc sắc: Tình yêu con người phải được thể hiện bằng hành động!

Như đã nói, điều mà Hesse quan tâm trước hết là nhân vật phải giải quyết các xung đột của chính mình, cố gắng biến đổi nội tâm của con người để vươn tới hành động. Có thể thấy rõ điều này qua mâu thuẫn giữa Emil Sineclair và Max Demian, giữa Siddharta và Gowilda, giữa Harry Halo và Hermin... Các mâu thuẫn ấy, như một nhà nghiên cứu cho thấy, tưởng đối nghịch một mất một còn, nhưng rốt cuộc chỉ là hai phía của một cá thể mà thôi. Cá thể ấy là con người mang niềm khát vọng cháy bỏng được hành động vì hạnh phúc, vì tương lai của con người. Cả các truyện ngắn mà Hesse gọi là "cổ tích" như Huệ tímBèo tím và nụ hồngBích thảo hóa thân..., đã được sáng tạo bằng sự tưởng tượng phong phú, đầy chất thơ, sự biến hóa đầy tính huyền thoại. Chúng ta nhớ đến ông già Binsswanger với hộp đồ chơi âm nhạc, đã biến điều ước về tình yêu thành sự thật, đã không chết sau khi uống ly rượu có chất độc... đến những biến hóa kỳ diệu: hoa biến thành bướm, thành cánh chim, thành voi, thành sâu, thành sao trời... đến “nhà thơ" gặp người tiên. Tuy nhiên, những truyện của ông - dù là "cổ tích" - không diễn ra theo nghệ thuật truyền thống: các nhân vật của Hesse không đi tìm kho báu hay lên ngôi vua, trở thành ông hoàng bà chúa, mà đuổi theo một lý tưởng thoát tục, một lý tưởng hành động, nuôi ý chí lên đường đi tìm chân lý. Đây chính là chỗ cần nhấn mạnh khi tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm của Hermann Hesse. Điều đó sẽ được lý giải bằng ý kiến của chính ông khi đề cập việc sử dụng và kết hợp các yếu tố văn hóa dân tộc khác nhau trong truyện cổ tích: "Trên mỗi nấc thang vươn đến chân lý, theo tôi, không có gì quan trọng và an ủi bằng khi nhận thức được rằng nằm sâu dưới sự phân chia các chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và văn hóa có một tính nhất thể, rằng không có những con người, những tinh thần khác nhau- mà chỉ có một nhân loại, một nhân loại hành động để vươn tới và một cái Tâm".

Nhận thức như vậy, ông miệt mài nghiên cứu, học tập, tiếp thu các nền văn hóa, song trước sau ông vẫn là một nhà văn người Đức, đã thổi vào văn học Đức, văn học châu Âu một luồng sinh khí mới, không máy móc, khuôn sáo; đằng sau những bóng dáng quen thuộc vẫn lung linh những gương mặt, những tiếng nói cao quý và mới mẻ hơn. Qua ông, dường như người phương Đông và người phương Tây vẫn có những "tri âm", rất gần gũi và không ngừng bổ sung cho nhau. Ngoài nội dung, Hermann Hesse còn mang đến cho độc giả nước mình một thứ tư duy mới- tư duy hình tượng phong phú, đầy âm thanh, màu sắc. Từ ngôn ngữ, từ vựng Đức, ông đã cho xuất hiện những hình ảnh của vạn vật, những chân trời thấp thoáng gió và cỏ cây, nắng và sóng biển... Tất cả đều dào dạt, ngân vang trong một thứ hành văn đầy chất thơ, những câu thơ văn xuôi có vần, đọc lên người ta như muốn hát, muốn thả tâm hồn bay bổng.

Nguồn Văn nghệ số 21/2017

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *