Tìm tòi thể nghiệm

6/8
3:22 PM 2017

HƯỚNG TỚI ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI: VĂN XUÔI HÔM NAY

(Tham luận tại Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội,)-BÙI VIỆT THẮNG- Nói “văn xuôi hôm” nay là giả định về tình hình sáng tác văn xuôi trong vòng dăm năm trở lại đây. So với các lĩnh vực sáng tác khác như thơ, kịch, lý luận - phê bình, dịch thuật thì văn xuôi có thể coi là “mặt tiền” của văn chương đương đại Việt Nam (đặc biệt từ 1986 đến nay).

                                                                   Nhà văn Bùi Việt Thắng

Số gần 600 hội viên Hội Nhà văn Hà nội có đến gần nửa đồng thời là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Vì thế tham luận của chúng tôi tuy đề cập đến tình hình sáng tác văn xuôi nói chung, nhưng đã bao hàm tình hình đặc thù của Hà Nội. Xin được Quý vị gần xa rộng lượng với những ý kiến có tính chất quan điểm cá nhân trong việc bình giá văn chương.

1.SỰ SONG HÀNH NHIỀU THẾ HỆ

 Đó là dấu hiệu đáng mừng. Thế hệ U90 không còn đông đảo, tất nhiên. Nhưng họ vẫn còn gây dựng niềm tin với độc giả (Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng,…), U80 vẫn còn bám trụ trên văn đàn (Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Ngọc Tiến, Bão Vũ, Vũ Oanh, Trần Nhương, Tôn Ái Nhân, Chu Lai, Bùi Việt Sỹ, Đào Thắng,..), U70 vẫn còn giàu nội lực ( Nguyễn Trí Huân,Tô Hải Vân, Hoàng Minh Tường, Lê Minh Khuê, Từ Nguyên Tĩnh, Nguyễn Trọng Tân, Đức Ban, Trung Trung Đỉnh, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Hiếu,Khuất Quang Thụy, Vũ Thị Hồng, Dạ Ngân, Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Luân, Đỗ Kim Cuông, Triệu Xuân, Trần Chiến, Trần Thùy Mai, Đỗ Phấn,Nguyễn Đăng An, Phạm Ngọc Tiến,…), U60 đang là ‘niềm hi vọng thiêng liêng” của độc giả (Nguyễn Việt Hà, Sương Nguyệt Minh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Trầm Hương, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Phước, Đàm Quỳnh Ngọc, Lê Hồng Nguyên, Bùi Anh Tấn, Nguyễn Hồng Thái... ). Đặc biệt là “giàn” 7X – đang được coi là chủ lực quân: Phạm Duy Nghĩa,Trần Thanh Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Vũ Đình Giang, Phong Điệp, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Một,Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Uông Triều, Nguyễn Xuân Thủy, Đỗ Bích Thúy, Phùng Văn Khai, Thiên Sơn, Doãn Dũng, Dili, Trần Đức Tĩnh, Tống Ngọc Hân, Như Bình, Nguyễn Phương Liên, Kiều Bích Hậu, Hoàng Công Danh, Vũ Thanh Lịch,…Giàn 8X đã ló rạng một số tên tuổi như Đinh Phương, Chu Thị Minh Huệ, Nguyễn Thị Kim Hòa, Nguyễn Văn Học. Thậm chí thế hệ 9X đã ló rạng một vài gương mặt sáng giá như Meggie Phạm (sinh 1991, được kết nạp vào Hội NVVN, năm 2016), Huỳnh Trọng Khang (sinh 1992) – tác giả cuốn tiểu thuyết đang được tìm đọc nhiều – Mộ phần tuổi trẻ (2016). Sự “điểm danh” của chúng tôi không  hoàn toàn đủ. Đó chỉ là những ví dụ điển hình cho thấy đội ngũ viết văn xuôi là hùng hậu, nhiều hứa hẹn những vụ mùa văn chương bội thu. Sự kế tục các thế hệ nhà văn là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển văn chương của bất kì quốc gia nào, thời đại nào. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng trong sáng tạo nghệ thuật không nên nói đến thế hệ, chỉ nên nói đến các cá nhân – những chủ thể nghệ thuật. Đây là hai quan niệm khác nhau nhưng đều đúng, theo ý chúng tôi. Có cá nhân mới có thế hệ. Tất nhiên. Nhưng thế hệ là một phạm trù lịch sử, không chỉ trong sáng tác văn chương mà trong tất cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

2. SỰ TRỞ LẠI CỦA ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH VÀ LỊCH SỬ

Nhìn gần Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2015) trao cho Mình và họ   (2014) của Nguyễn Bình  Phương. Một cuốn tiểu thuyết xuất sắc viết về cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979. Giải thưởng tiểu thuyết  lần thứ tư (2011-2015) của Hội Nhà văn Việt Nam trao cho Mảnh vỡ của mảnh vỡ của Vĩnh Quyền. Một cuốn tiểu thuyết chiến tranh theo đúng nghĩa của nó – tiếp cận những số phận con người (mỗi người là một mảnh vỡ) trong và sau chiến tranh. Năm 2014, như là một cơ duyên xuất hiện nhiều tiểu thuyết thành công về chiến tranh: Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh. Tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2014) và sau đó nhận Giải thưởng văn học Đông Nam Á, (năm 2015). Đã in tới 10. 000 bản tính đến năm 2017, đã có phiên bản tiếng Anh. Tiểu thuyết của Trần Mai Hạnh đánh dấu sự thành công của văn học tư liệu, văn họckhông hư cấu (non-ficition). Nhìn sang Giải Nobel văn chương 2015 cũng thấy sự “lên ngôi” của văn học tư liệu với Chiến tranh không có một khuôn mặt nữ của nữ nhà văn, nhà báo báo Belarus -  Svetlana Alexievich (Nguyên Ngọc dịch, NXB Hà Nội ấn hành, 2016). Năm 2014, có thể nói là năm được mùa tiểu thuyết chiến tranh. Ngoài tác phẩm được giải của Trần Mai Hạnh, còn phải kể đến Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, Xác phàm của Nguyễn Đình Tú, Cơ bản là buồn của Nguyễn Ngọc Thuần.

Từ năm 2012 đến 2017, trong vòng năm năm, những sáng tác văn xuôi về chiến tranh có tiếng vang trên văn đàn, tính riêng tiểu thuyết, cần phải kể thêm:Dòng sông mang lửa (2012) của Hồ Sỹ Hậu, Ký ức gã ăn mày (2013) của Tôn Ái Nhân, Cát trọc đầu (2013) của Nguyễn Quang Vinh,Sống được là may (2014) của Từ Nguyên Tĩnh,Tình cát (2015) của Nguyễn Quang Lập,Mưa đỏ (2016) của Chu Lai, Rừng đói (2016) của Nguyễn Trọng Luân, Thư về quá khứ (2016) của Nguyễn Trọng Tân, Trong cơn lốc xoáy (2016) của Trầm Hương, Trang trại hoa hồng (2016), Những  chiếc mặt nạ (2017) của Đỗ Kim Cuông,Đỉnh cao hoang vắng (2016) của Khất Quang Thụy,Trái tim người lính (2016) của Nguyễn Thị Anh Thư,Mộ phần tuổi trẻ (2016) của Huỳnh Trọng Khang, Tình không biên giới (2017) của Kim Quyên, Triền dâu xanh ngát (2017) của Châu La Việt, Người trên đảo vắng(2017) của Dương Thiên Lý.

Phải kể đến một số tập truyện (trong đó đa phần viết về chiến tranh) có tiếng vang xuất hiện trong thời gian này như Nhiệt đới gió mùa (2012) của Lê Minh Khuê, Hành trình của người lính (2015) của Lê Hoài Nam, Người yêu dấu và những truyện khác (2016) của Dạ Ngân, Chuyện lính sau 40 năm kể lại (2015) của Nguyễn Trọng Luân, Bóng anh hùng (2013) của Doãn Dũng.

Gần nhất, Gải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2016, trao cho tiểu thuyết Mưa đỏ của Chu Lại,Làn gió chảy qua của Lê Minh Khuê.Mưa đỏ viết về chiến dịch lịch sử Quảng Trị, mùa hè đỏ lửa 1972, về sự hi sinh vô bờ bến của quân và dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ. Làn gió chảy qua tuy không trực diện viết về chiến tranh mà về thời hậu chiến với những hậu quả chiến tranh đã thấm vào tận “chân tơ kẽ tóc” đời sống của cả cộng đồng cũng như mỗi cá nhân. Đọc Lê Minh Khuê thấy đau đớn một cách âm  thầm và quyết liệt.

Vì sao vẫn cần thiết viết về chiến tranh dẫu cho nó đã lùi xa hơn 40 năm?Có lẽ con người hiện đại đang rất cần cái chìa khóa mở cánh cửa tìm câu trả lời cho những vấn đề về nhân cách – mối quan hệ giữa cái tôi và cái ta, tinh thần dấn thân vì nghĩa lớn, sự lựa chọn đạo đức như một ứng xử văn hóa. Cuộc sống hiện đại với cơ chế thị trường, với tâm lí hưởng thụ và tiêu dùng, với sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân vị kỉ,… tất cả đang có nguy cơ làm tan rữa nhân cách. Đôi khi những bài học quá khứ lại có thể bổ ích cho việc trau dồi và  nuôi dưỡng đạo đức thời hiện đại.

Đồng thời xu hướng “ôn cố tri tân” qua văn chương cũng đang ngày càng thuyết phục độc giả. Tiểu thuyết lịch sử đang trở lại địa vị của mình trên văn đàn. Đợt sóng này không cao và mạnh như hồi Nguyễn Xuân Khánh và Hoàng Quốc Hải tạo dựng nên với những Hồ Quý Ly (2000), hay Bão táp triều Trần(gồm 4 tập, 1987-1996). Nhưng cũng rát đáng quan tâm với những tiểu thuyết lịch sử của Hà Phạm Phú (Trưng Trắc, 2012), Nguyễn Vũ Tiềm (Bắc Cung hoàng hậu, 2014) Lưu Sơn Minh ( Trần Khánh Dư , 2015, Trần Quốc Toản, tái bản, 2017), của Nguyễn Thế Quang (Nguyễn Du, 2012, Thông reo Ngàn Hống, 2015), của Bùi Việt Sỹ (Chim ưng và chàng đan sọt, 2015), Uông Triều (Sương mù tháng giêng, 2015), Vũ Ngọc Tiến (Quỷ Vương, 2016), Phùng Văn Khai (Phùng Vương, 2015), Đất Việt trời Nam (2016) của Đan Thành,….Tiểu thuyết lịch sử ngoài tái dựng chân thực lịch sử còn giúp độc giả hiện đại tìm lại hào khí dân tộc, khí phách con người trước mọi biến thiên của đời sống xã hội; nó giúp rút ra những bài học về lòng yêu nước thương nòi, về chống cường quyền bạo lực, đốt nóng lại phẩm tính tiết tháo của kẻ sỹ trước thời cuộc. Con người hiện đại đang có những dấu hiệu bế tắc lí tưởng, hoài bão. Đôi khi chính lịch sử lại có thể “mách nước” cho hành động của nó, thậm chí có thể dẫn dắt nó đi đúng đường trong hiện tại và tương lai.

3.ĐỀ TÀI THẾ SỰ - ĐỜI TƯ PHÁT TRIỂN

 Chưa bao giờ các xung đột đời sống lại bộc lộ rõ ràng, sâu sắc, quyết liệt như hôm nay. Chưa bao con người lại bộc lộ hết các cung bậc xấu, tốt như hôm nay. Chưa bao giờ con người lại bi quan và sợ hãi bởi vô vàn điều bất an, hiểm họa như hôm nay. Đời sống xã hội hôm nay là một kho nguyên liệu dồi dào cho sáng tác văn chương, đặc biệt văn xuôi. Nguyễn Huy Thiệp gọi đây là “thời của tiểu thuyết”.Cái hôm nay là một phạm trù  thực tiễn. Nó ứng với cái gọi là tư duy tiểu thuyết – cái chưa hoàn tất. Nhà văn Nguyễn Khải trong tiểu thuyết Gặp gỡ cuối  năm (1984) đã viết: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai phá”.  Những “cơn sốt” trên văn đàn lâu nay nếu có thường được tạo nóng bởi những  tác phẩm về thế sự - đời tư. Trong vòng năm năm qua có những cuốn sách nào đốt nóng dư luận? Hãy nhìn thật gần đến xa dần. Dĩ nhiên là không bằng cái thời Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp làm náo động văn đàn vào những năm tám mươi của thế kỉ trước. Cũng không bằng được khi tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu xuất hiện. Khác nào tiếng sét giữa thinh không. Cũng không bằng Giải thưởng Hội NVVN, năm 1991, trao liền cho ba cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh (Thân phận của tình yêu), Dương Hướng (Bến không chồng) và Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma). Đó thực sự là một “bữa tiệc văn chương” như ai đó nói quá đi. Nhưng khung cảnh văn xuôi thế sự - đời tư hôm nay cũng không có gì đáng bi quan. Trái lại. Trước tiên phải kể đến tiểu thuyết Đêm núm sen (2017) của Trần Dần, được in sau hơn 50 năm mai phục trong im lặng.Có thể coi đây là sự kiện văn chương quan trọng nhất năm 2017. Nguyễn Xuân Khánh vào độ “rửa tay gác kiếm” được ưu ái in lại Hoang tưởng trắng (2015, tên ban đầu Miền hoang tưởng, xuất bản đầu những năm 90 thế kỉ trước) và Chuyện ngõ nghèo (2016, nguyên bản Trư cuồng, cũng phải chờ sau 30 năm mới xuất hiện được). Ma Văn Kháng, tưởng đã lui vào hậu trường,nhường chỗ cho các “đệ tử ruột”. Nhưng hóa ra vẫn kiên cường bám trụ - năm 2016 vẫn  ra mắt tiểu thuyết Người thợ mộc và tấm ván thiên (Giải thưởng của Hội LHVHNTVN). Đây là cuốn tiểu thuyết thứ 17 của nhà văn. Không thể không “tâm phục khẩu phục” được. Một “U80” như Nguyễn Bắc Sơn khiến độc giả ngẫm thấy câu nói của Nguyễn Khải là có ngụ ý – “gừng càng già càng cay”. Mấy năm vừa qua, Nguyễn Bắc Sơn đã liên tiếp tung ra Gã Tép Riu ( Tập một, 2013), Vỡ vụn (2015) và Cuộc vuông tròn (2016). Gã Tép Riu (Tập 2) sắp sửa ra mắt bạn đọc. Một ví dụ khác về “U80” là Trần Nhương. Năm 2016 ra mắt tiểu thuyết “5K” – Kim Kổ Kỳ Koặc Ký. Một cuốn tiểu thuyết hoạt kê, trào lộng, lấy tiếng cười làm vũ khí của người mạnh. Chưa hết, lại công bố Khúc khích Văn nhân (2 tập, 2016). Tập sách gồm 200 chân dung nhà văn hiện đại. So với cách viết của Xuân Sách, Đỗ Hàn, Nguyễn Khôi thấy Trần Nhương độ lượng hơn. Mấy ví dụ về các “trưởng lão” trong văn xuôi như thế để thấy đáng lạc quan.

Cũng cần kể đến những bộ tiểu thuyết làm nóng văn đàn như Đại gia (2 tập, 2013) của Thiên Sơn, nhà văn thuộc thế hệ 7X. Một cái mạch ngầm, một thế lực ngầm đang làm khuynh đảo xã hội lâu nay như một bức màn bí mật được vén ra cho độc giả thấy hết cái tàn bạo của nó (nó là quyền lực đen). Bộ tiểu thuyết (3 tập) có yếu tố tự thuật Kiếp người  (đã ra mắt 2 tập, 2015-2016) của Hữu Ước cũng có thể coi là một sự  kiện văn xuôi hôm nay. Nếu có ít xôn xao là về tác giả của nó hơn là chính bản thân tác phẩm. Chúng tôi nghĩ văn chương như vườn hoa muôn sắc. Hoa nào cũng có vẻ đẹp riêng của nó.

Nhìn vào thế hệ trẻ, có những dấu hiệu đáng lạc quan. Những cây bút văn xuôi thế hệ 7X đang làm chủ văn đàn. Đã đành. Ngay thế hệ 8X, 9X cũng đã lóe lên một vài tên tuổi đáng quan tâm. Đinh Phương tốt nghiệp Khoa Viết văn – Báo chí (Đại học Văn hóa Hà Nội). Đầu quân về Hội VHNT Quảng Ninh chưa ấm chỗ thì đã được một cơ quan văn nghệ trung ương mời lên Hà Nội nhận việc. Tiểu thuyết Nhụy khúc (2016) của anh có tiếng vang. Và không ít người nghĩ, chủ nhân của nó chắc phải già dặn!? Meggie Phạm (tên thật là Phạm Phú Uyên Châu, sinh 1991, hiện là giảng viên khoa Ngữ văn, Đại học khoa học Huế). Năm 2016, chị được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (có thể coi là hội viên trẻ nhất Hội). Chị đã sở hữu một “xê - ri” sách bán chạy và được tái bản ngay (Chàng và Em, Tôi và Em, Hoàng tử và Em, Giám đốc và Em, Người xa lạ và Em). Có người gọi là sách “ngôn tình”. Nhưng  riêng tôi đọc hết và thấy trong sáng, hướng thiện.

Nói văn xuôi thế sự - đời tư có đất phát triển chính vì hiện thực đời sống đang hết sức ưu đãi và mời gọi nhà văn. Đặc trưng của hiện thực đời sống hôm nay là ở tính chất chưa từng có của nó (các mâu thuẫn xã hội chưa bao giờ dữ dội quyết liệt như thế, cái ác chưa bao giờ tột cùng như hôm nay, con người chưa bao giờ lúng túng và bế tắc như hôm nay, chưa bao giờ tiềm tàng nhiều bất an và hiểm họa khôn lường như hôm nay, và cơ hội để thay đổi toàn diện và triệt để cũng chưa bao giờ hội đủ như hôm nay).

4. ĐỔI MỚI ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP

Không thể nói là văn chương nói chung, văn xuôi hôm nay nói riêng không có thành tựu. Vấn đề là thành tựu ở mức độ nào và triển vọng của nó sẽ như thế nào? So với giai đoạn 1986- 2000 thì văn chương/văn xuôi hôm nay có vẻ như chững lại. Chững lại về chất lượng chứ không phải là số lượng. Những vấn đề nóng bỏng của đời sống dường như còn ít “bước vào” văn xuôi (ví như vấn đề môi trường, nạn tham nhũng như những quốc họa). Nói cách khác, văn xuôi hôm nay ít đi những vang hưởng xã hội. Đang có xu hướng đào bới cái tôi một cách thái quá, thậm chí đi vào những vùng miền ẩn ức của đời sống bản năng của một thiểu số người, nhân danh cái gọi là “đa dạng sinh học” (đồng tính chẳng hạn). Thậm chí có cây bút viết ngợi ca cái chết (dĩ nhiên là những cái chết vô nghĩa lí). Dường như nhà văn chúng ta đang bối rối. Yếu tố thương mại, giải trí đang chi phối ngặt nghèo người viết. Sách bán chạy chưa hẳn đã là sách hay. Sách hay đôi khi lại không phải là best- seller. Đó là một nghịch lí trong hoạt động văn hóa hiện nay.

Thời thế đã khiến chúng ta phải suy nghĩ về vấn đề chống lại “nhập siêu” văn hóa, trong đó có văn chương. Chúng ta chưa cầu tới Nobel văn chương, vì con đường tới đó còn nhiều vinh quang và cay đắng. Trước hết, phải có “cái” để người ta đọc ta. Cũng đã có một ít xuất khẩu văn chương, chủ yếu là văn xuôi. Cái khát vọng viết cho hơn 90 triệu người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) đọc, là một khát vọng thành thực. Nhưng trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển thì Việt Nam tất yếu phải vươn mình ra thế giới, trong đó có văn chương. Sẽ đến một lúc có một nền văn chương mang nhãn hiệu “made in Vietnam”. Tại sao không?! Đã có một số thành tựu khiêm tốn khi những Nỗi buồn chiến tranh  của Bảo Ninh, Thời xa vắng của Lê Lựu, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, truyện và tiểu thuyết của Hồ Anh Thái,… “đổ bộ” được vào những thị trường văn chương khó tính như Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Nhật Bản,…

Làm thế nào để phát triển và hội nhập? Câu hỏi tưởng chừng không khó trả lời: Nâng cao chất lượng nghệ thuật. Nhưng làm thế nào để nâng cao chất lượng nghệ thuật trong phạm trù văn chương? Một vấn đề rất căn cốt đặt ra là nhà văn cần được “nâng cấp”. Nâng cấp về văn hóa. Nhìn chung mặt bằng thì, học vấn của nhà văn ngày nay là không hề thấp so với trước 1945 (ngày ấy rất ít người tốt nghiệp đại học). Nhưng văn hóa của một người không phải bao giờ cũng tỉ lệ thuận với học vấn. Muốn có một cái “phông” văn hóa,  nhà văn phải phấn đấu nỗ lực rất cao. Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân đã nói về công việc của người làm “nghề chữ” là “đi- đọc- viết”. Sự đọcđi của nhà văn ta hiện nay rất đuối. Loanh quanh luẩn quẩn nơi mình ở. Không thấy nhà văn đi vào những nơi “tuyến lửa” của đời sống. Nhà văn hình như mải lên facebook? Nhà văn dường như lạc vào thế giới ảo. Hơi thở đời sống trong tác phẩm vì thế rất loãng, nhẹ, dễ khuếch tán. Còn đọc, có lẽ cũng đuối nốt. Nhà văn mà không đọc các bậc tiền bối, lại còn không đọc của nhau cùng thời. Vậy nên sự viết cũng vì thế mà nhẹ tênh, không có dư ba, dư vị. Muốn bồi đắp cái nền văn hóa, thiết nghĩ nhà văn cần hướng tới cái nguồn folklore (văn hóa dân gian) và văn hóa dân tộc truyền thống (kết tinh rõ nhất trong văn viết). Hiện tại số nhà văn viết bằng trải nghiệm văn hóa chưa nhiều, mới chỉ ỷ vào kinh nghiệm sống, vào bản năng.Trong không gian văn chương đương đại, theo ý chúng tôi, hiện song hành ba hình thức: văn viết – văn mạng – văn học dân gian. Nó tương hỗ phát triển. Nhưng văn viết vẫn là chủ đạo. Văn viết lấy văn xuôi làm “mặt tiền”. Vì thế, đẩy văn xuôi lên một trình độ mới tức là đấy văn chương lên cao.

Văn chương/ văn xuôi Việt Nam hôm nay có thể hội nhập với khu vực và thế giới không? Câu trả lời là có. Nhưng đó là thế khả năng. Nhưng đó là hiện thực trong tương lai gần và xa. Đồng thời phải rời bỏ tư duy viết văn “nghiệp dư”, thậm chí là một “trò chơi vô tăm tích”.Phải là chuyên nghiệp. Phải là một nghề (có cao quý hay không thì tùy người, tùy thời). Với sự lạc quan có cơ sở, chúng tôi nghĩ, trong vòng một thập kỉ tới, văn chương/văn xuôi Việt Nam sẽ có cơ hội “cất cánh”./.

 

                                                                    

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *