Tìm tòi thể nghiệm

14/3
9:41 AM 2017

ĐẶC SẮC LỜI TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THỜI XA VẮNG CỦA LÊ LỰU

Hoàng Thị Lan Hương-Sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến tiểu thuyết không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng.

 Hệ quả tất yếu là tiểu thuyết Việt sau 1986 đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật. Lê Lựu là một trong những nhà văn có những tìm tòi, đổi mới về nội dung cũng như nghệ thuật tiểu thuyết, trong đó có nghệ thuật trần thuật. Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến những đặc sắc về lời trần thuật trong một tiểu thuyết nổi tiếng của ông: tiểu thuyết Thời xa vắng

 

 

Sơ lược về lý thuyết lời trần thuật

 

Trong các thành phần của lời văn nghệ thuật, lời trần thuật đóng một vai trò rất quan trọng. Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử) đã chỉ rõ, ngoài chức năng kể việc, “nó bao hàm cả việc mô tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật…”.

Căn cứ vào khoảng cách và góc độ quan sát của chủ thể với đối tượng trần thuật, người ta chia lời trần thuật thành các dạng cơ bản:

- Lời trần thuật khách quan: Là lời của người trần thuật đứng ở ngôi ba có khoảng cách với đối tượng. Ở dạng này, lời trần thuật mang tính khách quan, ít bộc lộ sắc thái biểu cảm.

- Lời trần thuật tham dự: Là lời trần thuật bộc lộ rõ tính chủ quan của chủ thể trần thuật. Vì vậy còn gọi là lời trần thuật nhân vật hóa.

Mỗi dạng đều có ưu thế riêng của nó. Lựa chọn hình thức nào còn phụ thuộc vào sở trường, cá tính sáng tạo của nhà văn và nhiệm vụ nghệ thuật của từng tác phẩm.

Là tiểu thuyết ôm chứa nội dung lớn về chặng đường lịch sử 30 năm oai hùng của dân tộc, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng toàn bộ đất nước. Tác phẩm nhiều tầng nghĩa và để lại những suy ngẫm, trăn trở cho bạn đọc nhiều thế hệ. Để chuyển tải được nội dung và ý nghĩa của tiểu thuyết này, Lê Lựu đã chọn cách trần thuật theo hướng khách quan hóa. Cụ thể là: Lời trần thuật của tiểu thuyết hòa vào lời của nhân vật, “ủy thác” lời trần thuật cho nhân vật.

Lời trần thuật hòa với lời nhân vật

Đây là một trong những lời trần thuật theo kiểu khách quan hóa. Lời trần thuật này khiến người trần thuật một mặt tách mình ra khỏi diễn biến của câu chuyện nhưng mặt khác, khi cần thiết lại hòa vào nhân vật để phô bày toàn bộ thế giới nội tâm của nhân vật. Lời trần thuật di chuyển theo điểm nhìn của nhân vật trong tác phẩm. Lúc bấy giờ, khoảng cách của người trần thuật và nhân vật rút ngắn tối đa.

Để đạt được hiệu quả trần thuật, tác giả sử dụng lời trần thuật ở ngôi thứ ba, đứng bên ngoài câu chuyện quan sát, kể lại. Nhà văn Lê Lựu còn sử dụng lời nửa trực tiếp, lời kể gián tiếp nhưng ngữ điệu, ý thức là của nhân vật. Lời nửa trực tiếp là lời tác giả phát biểu dựa trên tâm trạng, suy nghĩ của một nhân vật cụ thể. Nó làm cho lời kể thêm mượt mà, sâu lắng, gây ấn tượng với người đọc bởi câu chuyện được tái hiện bởi dòng ý thức của nhân vật.

Trong Thời xa vắng, Lê Lựu sử dụng rất nhiều lời nửa trực tiếp. Ví dụ, cùng kể về người lính, cũng dựng lên những năm tháng oanh liệt nhưng tiểu thuyết của Lê Lựu không chỉ đem đến những chiến công rạng rỡ mà còn giúp người đọc thấy được những tâm hồn nhỏ bé với những ước mơ bình dị, rất đời thường.

“Trước đây, đêm nào không ngủ được, Sài cũng nghĩ ra một chuyện gì đó có thể giúp Sài sống được ở đại hội những ngày bị hẫng, tưởng như không thể chịu được cuộc đời bộ đội tự mình buộc vào. Nghĩ đi nghĩ lại nhiều đêm, cứ thấy tiếc nó, anh dành những giờ hết phiên gác ghi lại nó mà tự nhận là nhật kí. Tưởng như đã phải đi ở tù về. Trời ơi, những đêm “diễn đàn” anh cứ run bắn lên vì những từ phản động, chống đối, phá hoại, tư sản, phong kiến, bóc lột, ăn bám… Không hiểu sao lại được trả và bảo không có gì..”.

Ở đoạn này, lời nửa trực tiếp đã cho chúng ta thấy rõ tâm trạng của nhân vật Sài. Đó là tâm trạng rối bời vừa băn khoan, vừa đau đớn, vừa có chút gì đó phó mặc, buông xuông. Tác dụng của lời nửa trực tiếp là kéo gần khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật. Nhà văn dường như thấu hiểu tâm trạng của Sài, đồng tình với anh, đau khổ cùng anh. Người trần thuật lúc này không còn là người chứng kiến nữa mà trở thành người trong cuộc nên vừa có thể dựng lên hiện thực khách quan, vừa phơi bày tâm tư của nhân vật. Đó là nỗi cay đắng trước thực tế phũ phàng trong thời chiến mà đôi khi người ta không dám đối diện hoặc cố tình không dám đối diện với nó.

Theo khảo sát, trong tiểu thuyết Thời xa vắng, nhà văn Lê Lựu sử dụng lời nửa trực tiếp với tần suất cao. Trong 13 chương của tiểu thuyết, không có chương nào mà không xuất hiện lời nửa trực tiếp. Nó khiến cho lời trần thuật như trôi theo dòng ý thức của nhân vật Sài, giá trị phơi bày hiện thực về một thời đã xa càng chân thực. Sử dụng lời nửa trực tiếp không phải là quá mới mẻ, song có thể nói, Lê Lựu đã thành công trên phương diện này. Người trần thuật có thể thâm nhập, đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn nhân vật, có thể biết rõ mọi chuyện, ở mọi lúc, mọi nơi. Với lời trần thuật hòa mình với lời nhân vật, người đọc như đồng cảm với tâm trạng nhân vật. Ví dụ như đoạn trần thuật tâm trạng anh Tính, anh trai của Sài:

“Thật lòng, mỗi lần về qua nhà thấy thằng em vốn ham mê học hành mà cứ mếu máo, nước mắt ngắn dài về cái tội cùng ăn cùng làm và trò chuyện với “vợ”, anh thấy tội nó quá…”. Người đọc như đồng cảm với tâm trạng của nhân vật một cách sâu sắc. Mạch truyện được kéo dài ra theo dòng tâm tư của nhân vật. Đó là lời của người trần thuật nhưng suy nghĩ, tình cảm là của nhân vật Tính. Để dựng lên một anh Sài chỉ biết sống hộ cho ý định của người khác mà vẫn tránh được sự đơn điệu buồn tẻ của kiểu trần thuật khách quan, một chiều. Lê Lựu đã sử dụng lời nửa trực tiếp để đạt tính khách quan cao độ và làm cho người đọc thích thú khi người trần thuật và nhân vật hòa nhập vào nhau. Chính sự hòa nhập đó đã dựng lên một Sài nhút nhát, không đủ khả năng phản kháng lại sự sắp đặt của người thân, của đơn vị để rồi một đời đau khổ vì cuộc chạy đua tìm hạnh phúc, chỉ dám sống thật với mình trong mơ trong ảo tưởng…. Điều đó có được là tác dụng của việc sử dụng lời nói nửa trực tiếp trong trần thuật.

Lời trần thuật “ủy thác” cho nhân vật

Lời trần thuật trong Thời xa vắng thường “ủy thác” mạch truyện cho nhân vật làm cho câu chuyện trở nên lôi cuốn. Đọc Thời xa vắng, xen kẽ lời trần thuật của người trần thuật là lời thoại trực tiếp của nhân vật. Lúc bấy giờ, người đọc có điều kiện giao lưu trực tiếp với nhân vật qua lời kể của họ, làm cho câu chuyện trở nên khách quan hơn, hiện thực đi vào lòng người đọc sâu sắc hơn, đáng tin cậy hơn. Khi nhân vật trực tiếp phát biểu, người trần thuật gần như mất khả năng điều khiển lời nói nhân vật của mình, nhân vật tự do phát biểu, tự do bộc lộ tâm tư, tình cảm với người đọc. Đây là những dòng nhật kí của Sài trong những ngày đầu tham gia kháng chiến để chạy trốn một cuộc tình mà gia đình sắp xếp cho anh đồng thời nuôi dưỡng tình yêu mà anh đã chọn:

“Đêm…Người tôi yêu không bao giờ tới được, kẻ tôi ghét không được ghét không được phép tránh xa…”

“Đêm…Anh thương yêu của riêng em. Từ khi anh ra đi đến nay đã được sáu tháng năm ngày. Em tự lần hỏi mà biết chứ anh nào có cho em hay biết gì ngày anh ra đi. Sao anh tàn nhẫn thế? Anh có biết rằng em đã khóc ròng rã hàng tháng trời không? Chỉ dám khóc về đêm…”.

Qua những dòng nhật kí, nhân vật tự bộc bạch tâm trạng, tình cảm sâu kín trong lòng mình, soi vào những nỗi niềm tưởng chừng được chôn sâu tận đáy lòng. Những lời trực tiếp của nhân vật khiến nhân vật tự bộc lộ, phơi bày hai con người trong một bản thân hình hài, một của ban ngày, tích cực chiến đấu, công tác vì người khác, ban đêm, vì bản thân mình, yêu ghét theo đúng tiếng gọi của tâm hồn. Đó là bi kịch của Sài mà người đọc nhận ra qua những lời trực tiếp, khi đối thoại cùng nhân vật.

Với việc “ủy thác” lời trần thuật cho nhân vật, thời gian kể được kéo dài ra với nhiều điểm nhìn khác nhau. Mỗi nhân vật sẽ đem lại những điểm nhìn khác về cùng một vấn đề. Điều đó làm cho câu chuyện có tính khách quan hơn. Xuyên suốt Thời xa vắng, điểm nhìn trần thuật kiên tục di chuyển qua các nhân vật. Khi thì của Sài, khi thì sang chính ủy, lúc lại là của Hương, lúc của Tuyết… Chẳng hạn:

“Chính bản thân anh chất đầy cách sống của một kẻ làm thuê. Sẵn cơm thì ăn, sẵn việc thì làm chỉ hong hóng chờ chủ sai bảo chứ không dám quyết đoán, định đoạt một việc gì. Lúc bé đã đành, khi học hành đỗ đạt anh đủ tư cách làm một công dân, một người chiến sĩ tại sao anh không dám nói thẳng rằng hoàn cảnh của tôi bị ép buộc như thế, nếu các anh bắt ép tôi, tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả trở về làm anh cày thuê….”.

Đây là lời của viên chính ủy, chính ủy nhìn Sài như một kẻ mang trong mình tư tưởng nô lệ, không tự mình cất nổi cánh để tìm đến tự do. Còn Châu thì nói Sài “…là một anh chàng nhà quê thô lỗ”. Rõ ràng, Châu luôn có ý coi thường, khinh rẻ Sài. Châu đến với Sài không vì tình yêu mà chỉ để hợp thức hóa cái thai trong bụng… Hay lời của chính Sài: “ Đừng ai ngu dại như tôi mà giết chết tình yêu đầu vào năm 18 tuổi”. Rõ ràng, Sài ý thức được mình, ý thức được thế nào là đúng sai nhưng anh không thoát nổi nó. Mỗi nhân vật đóng góp một cái nhìn khác nhau qua lời trực tiếp của mình. Qua đó, hình ảnh anh Sài của làng Hạ Vị hiện lên chân thực, rõ ràng với đầy đủ tốt xấu, đáng thương, đáng giận.

Có những chương, tần suất lời trực tiếp có ý nghĩa xuất hiện dày đặc. Ví dụ, trong chương 4, 1/3 dung lượng chương là những lời trực tiếp của nhân vật. Nhà văn ít khi sử dụng lời trần thuật vô can mà “ủy thác” cho nhân vật, mở rộng biên độ thời gian, không gian cho câu chuyện. Với kiểu “ủy thác” lời trần thuật cho nhân vật, nhà văn có nhiều cơ hội để thể hiện tư tưởng, tình cảm khác nhau khi phản ánh cùng một vấn đề, tạo cho câu chuyện nhiều viễn cảnh trần thuật. Vì thế, câu chuyện sinh động, hấp dẫn, dễ đi vào lòng người đọc.

Tóm lại, với lời trần thuật hòa mình vào thế giới riêng của nhân vật và lời trần thuật “ủy thác” cho nhân vật, nhà văn đã tạo ấn tượng sâu sắc cho người đọc về chất liệu riêng của từng nhân vật, làm cho lời kể trở nên uyển chuyển, linh hoạt, đem đến cho người đọc những trang viết sống động về hiện thực muôn màu của cuộc sống, của cá nhân con người - một hiện thực không được tỉa gọn, sửa sang như ý đồ của tác giả, một hiện thực phức tạp mà đáng yêu như nó vẫn thế.

Mỗi nhà văn đều có những sáng tạo của riêng mình để chạm khắc tác phẩm của mình vào trái tim bạn đọc. Với những đổi mới về lời trần thuật và nội dung hấp dẫn, tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu đã góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng của nền văn học Việt Nam hiện đại.

Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *