Thời sự văn học nghệ thuật

11/3
8:39 PM 2017

DƯỚI CÂY HOA ĐẠI NHÀ SỐ 4

HOÀNG VIỆT HẰNG-Hơn mười năm trước, vào một ngày vừa mới có gió bấc, dù chưa có mưa bụi và sương muối lãng đãng nhạt nhòa, nhà văn Triệu Bôn hỏi tôi: “Bao giờ thì đến ngày chủ nhật? Ngày chủ nhật thì tòa soạn không có người, em đèo anh lên đó chơi với cây đại già. Các anh Nhà số 4 đã đi vãn cả”.

                                                            Vợ chồng nhà văn Triệu Bôn- Hoàng Việt Hằng

     Hơn mười năm trước vào một ngày vừa mới có gió bấc, dù chưa có mưa bụi và sương muối lãng đãng nhạt nhòa, nhà văn Triệu Bôn hỏi tôi : “ bao giờ thì đến ngày chủ nhật. Ngày chủ nhật thì tòa soạn không có người, em đèo anh lên đó chơi với cây đại già. Các anh nhà số 4 đã đi vãn cả.”

 Chiều chủ nhật mùa đông, anh Triệu Bôn ngồi dưới gốc cây đại già chỗ bậc thềm chỉ cách mấy bước chân là  lên căn phòng trị sự của tạp chí thân thuộc. Anh nhớ vào năm 1969 khi vừa ở chiến trưởng B2 ra Hà Nội, lúc 10 giờ đêm, phải  ngủ ở Bến Nứa một đêm chờ sáng trong  gió rét cong keo cả người vì đói, rồi để hôm sau, vào ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế họp cộng tác viên. Nhà văn  Từ Bích Hoàng đã  hỏi: “ Triệu Bôn là cậu đấy à, thế còn cậu Lê Văn Sửu là ai?” đáp: “ dạ, cũng là em đấy ạ”. Nhờ cái truyện ngắn “Đường chân trời ” nhờ văn chương cứu cánh anh không phải ngủ ở Bến Nứa nữa; nhờ văn chương mà anh được đón tiếp nồng hậu, rồi sau đó anh Triệu Bôn không dạy toán ở đại học sư phạm Vinh, để rẽ  sang làm báo, làm  biên tập văn xuôi ở Tạp chí VNQĐ. Mười năm sau,năm 1979 khi viết xong  bút ký: Phía bắc sục sôi, viết đến đâu vứt từng trang  bản thảo xuống sàn gỗ; nhà văn Nguyễn Trọng Oánh cúi lom khom đi nhặt từng trang bản thảo đem đánh máy, đưa đi nhà in. Thật ra văn chương dành cho cuộc đời anh, vừa có chút lộc mọn và cũng vừa có những tai họa từng phủ xuống gia đình anh Minh, chị Ngọ ở làng quê cổ Bôn.

     Có lần anh Triệu Bôn ra đảo Sủ Vàng ở Cồn Vành tỉnh Thái Bình, khi cả đoàn  nghe có  nói có tên nhà văn Triệu Bôn ra đảo. Mấy cậu trồng phi lao ở đảo Cồn Vành nghe chuyện đêm khuya trên đài tiếng nói Việt Nam, họ thuộc tên Triệu Bôn,  tranh nhau ra cõng Triệu Bôn để đi xem mặt nhà văn. Họ cõng anh để đưa ra thuyền lớn không phải lội biển ướt chân. Văn chương lúc đó nổi tiếng kể cũng oách thật. Tôi nhớ lại rồi chợt nhớ tới cảnh cõng chồng đi bệnh viện với bao cám cảnh tủi buồn trong ba năm. Vừa lủi thủi vừa cô độc, không dễ san sẻ được với ai. Cái đêm duy nhất ấy, sau dài dặc những ngày đưa anh vào viện như cơm bữa. Chiều thứ 7 đi cấp cứu, đêm khuya còn cõng anh đi chụp não, chụp tim, máu túa ra ra đầy người tôi. Dấu ấn đó còn hằn trong tâm trí rất lâu, một đêm ở hành lang bệnh viện Bạch Mai.Anh Triệu Bôn nằm như  cái cây dầy đặc vết thương sau cuộc chiến đã bị đốn gục hẳn. Chủ nhật hôm sau, anh  đi mãi mãi. Không cần đến viên đạn súng ngắn năm nào,ở nhà số 4.

   Chiếc cầu thang gỗ nhà số 4, gỗ lim, sạch bong, đen bạc; nơi in bao dấu chân nhà văn người lính. Nơi in dấu  kỷ niệm về nhà thơ Thanh Tịnh; có bận ông chun mũi, cho tay lên miệng thổi lên một điệu khèn diệu vợi dọc hành lang, ông gọi đó là điệu khèn Châu Phi. Khi đó nào ai đã đến Châu Phi, nào ai nhìn thấy dàn nhạc chơi ở Châu Phi ra sao, nhưng  ai cũng tin bác Thanh Tịnh thổi điệu khèn của Châu Phi  rất tuyệt. Còn lão “ Khúng” kia nữa, nhà văn Nguyễn Minh Châu thì hút thuốc lào lọc xọc ở chỗ gần cây đại già, ngồi chán lại lên phòng đóng cửa viết tiếp. Khi viết, rất ít ai trò chuyện với ai. Anh  Nguyễn Trọng Oánh thì viết tiểu thuyết, bận mấy cũng phải kho cho được nồi thịt lợn kho tàu thật nhừ thật ngon, để ăn lấy sức ngồi viết. Phòng của ông nhà văn đồ nghệ còn rất hay có lạc đỏ Nghệ An, quê ông gửi cho. Có  hẳn một lồng bàn lạc đỏ; Phòng Triệu Bôn và anh Nguyễn Trọng Oánh có chung một chìa khóa mở cửa được vào nhà của nhau. Hôm anh Oánh vắng nhà, Triệu Bôn có khách, anh bảo tôi sang xin anh Oánh ( không cần hỏi)một bò lạc về rang đãi bạn rượu. Chuyện đó ngỡ cho qua;  ai ngờ khi anh Oánh bị  ốm, anh nằm  ở viện Quân y 108, Triệu Bôn đã đưa tôi vào việnkhông chỉ thăm anh mà còn một việc quan trọng, đó là một lời xin lỗi anh Oánh, chuyện hôm  xưa em đã xui cái Hằng vào xúc vài ống  bơ lạc đỏ nhà anh về để  đãi bạn rượu, “ khi đó em chưa hỏi anh, chưa xin anh. Em áy náy anh ạ.” Anh Oánh cười ngất: “ ông này nhớ lâu nhỉ, tôi lạ gì, đến chơi cờ tôi còn chấp ông một con xe kia mà.”

  Vào cuối  năm 1979, tôi viết xong  cái truyện ngắn về cuộc chiến ở biên giới phía bắc tỉnh Lạng Sơn, rồi gửi đến tòa soạn . Anh Triệu Bôn nhận bản thảo đọc xong chỉ cười. Anh cười lâu, mặt ửng đỏ tím tái. Thuở đầu, một người viết văn ngơ ngác như tôi không hiểu vì sao người  biên tập lại cười lâu như vậy. Nhưng nhìn Triệu Bôn cười, tôi rất xấu hổ chỉ muốn có cái hố chui xuống đất cho xong.Thì ra, sau này anh Bôn mới bảo:

 “ Em không viết về chiến đấu, súng ống, bom đạn được đâu”. Lại cười ngất.Nhìn anh cười tôi cúi gằm mặt.

  Rồi số phận hình như đã dự phần cho tôi. Một chiều heo may. Sau buổi đi học về, tôi lên nhà số 4 gửi bản thảo viết tay. Khi gõ cửa phòng biên tập, không thấy có tiếng người.Một phản xạ rất quen của con người là dùng tay vặn thử nắm đấm  xem cửa có khóa không? Thì cửa lại bật mở. Giật mình nghe thấy tiếng cạch, khô khốc vang lên trên sàn gỗ.Thì ra viên đạn súng ngắn rơi từ trên tay Triệu Bôn đang định lắp vào súng thì rơi xuống sàn. Hồn nhiên, tôi nghĩ là anh đang lau súng nên tôi cúi xuống nhặt hộ viên đạn. Lúc ngẩng lên, thì nhìn thấy mặt Triệu Bôn thất thần, ngơ ngơ mà tôi không rõ vì sao anh lại có vẻ mặt thờ thẫn sẫm tối ấy. Anh như cái cây chờ đổ, rồi thấy anh vòng  tay ôm sau lưng tôi, hơi thở rất dồn dập

  “ Em. Em vừa kéo anh thoát khỏi địa ngục!”. Tôi ngơ ngác không hiểu.Liền  hỏi lại: “ địa ngục gì?”, lại nghĩ láng máng trong đầu,kiểu này chắc khi lau súng anh nhớ lại cảnh máu đổ của đồng đội ở chiến trường đó thôi.

Không nói gì rất lâu, người anh vã mồ hôi, rồi anh đi đun nước để pha trà. Chi tiết của viên đạn, rơi trên sàn gỗ cũng phải rất nhiều năm sau, cái ngày anh mất đi, những trang  nhật ký của anh tôi mới đọc được. Mới biết, mới vỡ òa ra phút giây đó anh rất muốn tự sát.Tôi đã đến sớm hơn một tích tắc. Tích tắc khi anh chưa kịp lắp đạn ấn cò súng. Tích tắc anh ôm vội lấy lưng tôi, cập rập không phải vì  “lão ta khùng hay lão ta muốn gì” mà lão ta vừa  từ vực chết đi lên! Ngày ấy, mới ngoài hai mươi tuổi tôi nông nổi, ngây ngô, chưa đủ hiểu ra vấn đề nghiêm trọng của giây phút tuyệt vọng  một người lính như anh. Một người lĩnh ba bốn vết thương thành sẹo trên người, chưa kể bao thứ dây dợ đường đời buộc vào anh. Chưa kể phút giây anh bế tắc, không  lối thoát ra. Rốt cuộc khi  anh đã  bình tâm ngồi xuống ghế thấp, bình tâm hơn khi bắt đầu pha trà rót nước mời khách.

  Rồi một  lần khác lên gửi bài tạp chí, tôi chạm trán một mâm cơm toàn rau muống luộc. Lõng bõng mấy quả cà,và đĩa dưa muối còn xanh. Anh vừa dùng cơm với sắn và khoai khô ở Hòa Bình trở về. Nghe nói nhà thơ Phan Quế, nhà văn Phạm  Ngọc Chiểu hay mua giúp hàng bao tải khoai, sắn khô chuyển từ  Hoà Bình về Hà Nội cho anh để nuôi con.Thời gian  chờ quyết định ly hôn, gương mặt Triệu Bôn nhiều  lúc như tàu lá hơ lửa.Héo. Anh bảo anh Oánh thương yêu hai đứa mình nên anh cũng tránh được bị kiểm điểm. Có lần sau kiểm điểm anh lại yêu em hơn em ạ. Nhưng ám ảnh nhất, không sao quên được nhất là mỗi lần lên cầu thang gỗ nhà số 4, tôi luôn luôn run sợ, luôn luôn nín thở; bàn chân như phản xạ phải nhón ngón chân, không để cho chiếc guốc nhựa vang ra tiếng động trên cầu thang gỗ. Nếu nghe thấy, hẳn là  ông nhà văn H, hay ông nhà văn T…sẽ thò đầu ra cửa phòng làm việc, thì hôm sau anh Triệu Bôn sẽ lại lôi ra họp kiểm điểm.Một thời, mà đời sống vợ chồng đã ly hôn cũng không được yêu đương,tôi mãi không hiểu ra.

Bao nhiêu lần  run rẩy sợ hãi, tôi thường phải nín thở. Nín thở leo lên cái cầu thang gỗ. Có lần khôn ngoan hơn, tôi biết nhón chân đi đất, không quên nhấc guốc nhựa, kẹp nách rón rén, nhẹ nhàng, nhẹ nhàng và nín thở.Thời đó mốt guốc nhựa, nếu rút guốc ra khỏi chân, đi nhẹ nhàng vào phòng anh Bôn ở cuối hành lang,là thoát một lần anh Bôn không bị khiển trách. Khi được ngồi bên nhau, có khi chỉ  ăn một tý cơm cháy ở bếp tập thể và được nói chuyện văn chương, cũng thích lắm.Tuyệt lắm.

Đó là căn phòng cuối cùng của ngôi nhà cổ, nhà số 4 Lý Nam Đế; lên cầu thang rẽ phải, vẫn  còn có một ngăn rất nhỏ dùng làm bếp. Nhưng anh Bôn chỉ để toàn bản thảo loại. Tôi hay ngồi  trong cái phòng xép để bản thảo loại mỗi khi anh Bôn ra tiếp cộng tác viên; hoặc anh Nguyễn Trọng Oánh bàn về chuyện tạp chí, chuyện thời sự, chuyện anh Oánh đọc thơ  bằng tiếng pháp, có bài thơ  hay anh Oánh khoe ngay với Triệu Bôn.Tôi nhận ra, khi nói chuyện với nhau, các nhà văn mặc áo lính rất kiệm lời.

  Họ hay để những khoảng im lặng rất dài, rồi xen vào đó là  chuyện con người và chuyện  trận mạc của những  năm Mậu Thân 1968 đến  năm 1971, hồi các anh làm báo văn nghệ quân giải phóng  hay nhắc đến cứ Lộc Ninh.

  Cái ngày đi câu cá gặp con suối đầy màu trắng sữa đùng đục, mấy ngày, mấy tháng sau những trận dải thảm chất  độc màu da cam vẫn còn nghi ngút trong rừng. May thay cái chất màu trắng nhờ nhờ ấy chưa quật ngã các anh.

May thay bệnh tật cũng  không chạm đến số phận con cái của họ.

Nhưng không thể không nói đến cuộc chiến rất khốc liệt của Trường Sơn mà họ đi qua.Một cuộc chiến mà ba chiếc võng dù  mắc thành một hình tam giác. Một viên bom bi từng phạt ngang chiếc bi đông đổ hết nước ngọt trên cánh võng của anh Oánh, mảnh bom lớn sau nữa cắt phăng  hai đầu võng, hất tung anh Nam Hà và Triệu Bôn xuống giao thông hào. Lúc mà hai người lồm cồm bò lên,thì ôi thôi cái  võng đã tan ra trăm mảnh , mắc lên trên cái cây cũng xám trụi màu chì. Sau này không ai tả dữ dội về chiến trường, với không gian sống  động , đầy bi tráng  như thơ , văn của  nhà văn Nguyễn Trọng Oánh. Anh Triệu Bôn nhận xét ông  Oánh chậm chạp mắc võng cũng chậm chạp,  quan sát cũng chậm chạp như viết.Trên trang  bản thảo, anh Oánh viết chữ  rất đẹp, chữ rất chân phương. Rất ít gạch xóa.Trang bản thảo mà người viết đã nghĩ rất kỹ mới viết lên máu và nước mắt như chan vào chữ nghĩa.Mỗi dòng chữ đánh đổi biết  bao nhiêu gian nan, có khi đánh đổi cả hy sinh, tính mạng của mình nữa.Một thời ở Đường 9, rồi những chặng chạy bom trên cánh đồng Chó ngáp ở Nam bộ.

 Gốc cây đại già vẫn thầm thì ra rễ đã bám chắc và sinh sôi cả trên thân cây, cây như nhân chứng chứng cho bao nhiêu sự sống của cuộc đời người lính cầm bút ở nhà số 4.

Tôi vẫn nhớ chiếc cửa sổ cũ kỹ, cái ánh sáng mờ mờ hắt ra khi chập tối, khi Triệu Bôn có nhà, khi anh cởi trần mặc chiếc quần đùi cỏ úa ngồi viết. Không thể tính hết những bài báo anh Triệu Bôn viết theo đơn đặt hàng để nuôi mấy đứa con ăn học. Nghèo xác xơ, mà khổ cũng xác xơ.Triệu Bôn từng triền miên hấp rau muống và mì  đen rồi  ăn chay tới hai ba ngày liền chỉ để ngồi viết. Nhìn những bữa ăn đạm bạc này tôi không thể không  xót xa, không thể không u uẩn nghĩ về một con người cầm bút. Tôi hay giúp anh nấu một bát mì có thêm vài quả cà chua và bát mì có thêm ít ngọn rau cải, một bát xúp rau nêm gói nhỏ mỳ chính.Lại có bữa thì  xào mì với vài miếng thịt ba chỉ, đĩa mì có hương vị để anh ăn ngon miệng hơn.

  Nhiều năm anh Triệu Bôn từng chịu ăn đói, để dành cả xuất  cơm trắng ở bếp tập thể, phơi cơm khô gói lại gửi về cho con nhỏ ở quê nhà ăn dần.

Những day dứt ấy ám ảnh tôi.Nhưng sau rất nhiều trải nghiệm thực tế phũ phàng, thì tôi cũng nhận ra tình thương yêu con chồng mãi mãi là một bài toán khó. Bài toán khó giải nhất trên đời. Đừng nên hy vọng gì,dù có bao nhiêu yêu thương thật lòng, dù có  bao nhiêu  tủi buồn cũng không đếm xuể. Mọi thứ  trong mắt con chồng, giá trị yêu thương cũng cũng chỉ xô dạt mà thôi. Con chồng, vẫn đứng về phe  không nước mắt. Phải rất nhiều năm trôi qua, tôi đi học thiền, đi chữa bệnh cho chính tâm hồn của mình.

Những tiểu thuyết Đèo mưa bay, anh Triệu Bôn viết trong 15 ngày.Tập  bút ký: Nơi xa  21 giờ bay, viết  1 tuần. Viết từ sớm đến tối khuya. Không nghỉ, thi thoảng anh đi dạo. Có chăng sau này anh hay đi dạo bên hồ Tây, anh lại viết chuyện ngắn Người đi dạo bên hồ, chuyện ngắn rất nổi tiếng một thời như hồi anh viết Mầm sống.

  Tôi  cũng bắt đầu nhìn nhận cách lao động  cực kỳ khó nhọc của nhà văn từ những năm 1980, khi anh Nguyễn  Trọng  Oánh viết Đất trắng, anh Triệu Bôn viết Đèo mưa bay, Sao chiếu mệnh bay lạc, Một phút và nửa đời người.Gắn bó với anh Triệu Bôn là gắn bó với sự xa cách, sự đam mê đi, và khi anh trở về, là thời gian dính chặt người trên chiếc ghế và chiếc bàn viết.

Triệu Bôn viết trên tàu chợ, viết dưới ánh sáng lờ nhờ của toa xe. Triệu Bôn viết trên chiếc chuồng gà ở Son Bá Mười, viết ở Pù Luông, viết ở miền Bá Thước miền núi Thanh Hóa. Hiếm có ai yêu  quê và nặng lòng vì quê hương như anh. Những truyện ngắn Đêm đuốc máu; tiểu thuyết Cơn co giất của đất; truyện ngắn: Họa văn chương; Tung bay dải yếm lụa đào, đều mang hình bóng  quê hương anh, hình bóng mẹ anh,và  một làng cổ Bôn, tường đá cao, ao sâu, của nửa cuối thế kỷ XX, vẫn nghèo của một huyện lỵ tỉnh Thanh .

Có lần sau chén rượu anh lý giải câu chuyện của anh trước  tòa. Sau tất cả những đau đớn ấy, anh vẫn thương, vẫn xót cho con người từng là vợ anh.Truyện ngắn: Dưới gốc cây duối già là một sự trả nợ  ân nghĩa cho tình xưa nghĩa cũ của anh. Anh Triệu Bôn khóc như cái “cây đổ về nơi không có vết rìu”( thơ Hữu Thỉnh).

Anh cũng không thể gạt hết nỗi đau khi anh đi thực tế ở trại tù Phú Sơn. Khi anh vào nhà tù, cũng gọt đầu trọc như phạm nhân, da dẻ đen đúa và gầy rộc, sau đó anh ngồi viết trong 20 ngày, tiểu thuyết : Một phút và nửa đời người. Năm 1983, nhà văn Nguyễn Đình Thi đã cho in tiểu thuyết này ở hai số  tạp chí Tác phẩm mới.Trong  câu chuyện văn chuơng của Nguyễn Đình Thi và Triệu Bôn ở nhà số 4, cả hai người đều có một mối quan tâm đó là cách viết khai thác nội tâm của con người. Hai ông đều cho rằng mình luôn thiếu thốn thời gian để ngồi viết. Cái khát khao viết của nhà văn ngồi viết như một thứ đam mê bùa ngải, mà tôi không sao lý giải được. Nhớ  một lần  anh Triệu Bôn đi họp trong Thành cổ Hà Nội, anh để dành được 3 điếu thuốc 3 số( điếu thuốc lá 3 con 5). Khi gặp Nguyễn Đình Thi anh dúi cho ông tất cả 3 điếu thuốc. Nguyễn Đình Thi bẻ đôi điếu thuốc, ông vào ngay căn phòng Triệu Bôn chui vào dưới gầm giường,thò đầu ra phì phèo điếu thuốc và bảo: “ tớ để dành điếu thuốc cậu cho, về cơ quan hút tiếp, không dám đem về nhà,  bà Trường (vợ tớ) cấm vận. Anh cũng sợ vợ?.  Cả hai người cười phá lên. Hình như họ không sợ gì cả. Thì ra đàn ông chỉ thể tất cho đàn bà mà thôi. Khi hai nhà văn  trò chuyện, tôi mới thấy điều đó. Ông Thi khuyên: “ Triệu Bôn này, mua  gạo ngon ngon mà ăn cho đỡ tốn thức ăn”. Triệu Bôn đáp: “ em kiếm khoai khô  còn khó, nói gì đến gạo trắng để ăn. Khi sốt em mới dám ăn xuất cơm gạo trắng”.

Năm đó những trang viết tiểu thuyết : Gã đau đời, Triệu Bôn viết để dành tặng anh Thu Bồn. Chả hiểu sau lần tặng sách,Thu Bồn đọc xong liền gọiTriệu Bôn đi uống rượu. Về đến nhà rõ khuya . Anh Bôn kể với vợ, “anh  thương Thu Bồn lắm!”. Thu Bồn nói thế này “ Tao đã yêu nhiều đàn bà, đàn bà có tài như côT, xinh đẹp như cô Đ, tốt nết như bàT cũng không chịu nổi tao,và rồi đến nàng X, diễn chèo, vừa đi ra khỏi cuộc đời tao. Bôn, mày biết không?”. Khi sang bên trời Nga trở về, Thu Bồn vào phòng Triệu Bôn khóc rống lên như đứa trẻ bị đòn roi. Nhà số 4 chứng cho phút giây hai người lính từng trải qua bao nhiêu trận mạc, đang khóc như  đứa trẻ kia. Khóc chán thì họ rủ nhau đi tắm, lông nhông ở tầng 1 nhà số 4. Cây đại già biết cả.

  Tôi kiên nhẫn nghe anh kể. “Này, em nên chịu khó nghe, nghe khó đấy. Nghe nhé, nhà văn là phải biết nhẫn để nghe, phải biết nghe thì  may ra sau này em mới viết văn được”.Thu Bồn nói :“Tao thấy mày viết hiền lành quá Bôn ạ. Hay là tao với mày thử  đấm nhau đi xem thằng nào thắng.”  Triệu Bôn đáp: “ Anh liệu hồn, anh biết em đấm cỡ nào mà ”. Hai nhà văn lại dội nước ào ào. Chả rõ khóc hay cười. Nhưng vẫn nhớ hỏi nhau: “Tối nay mày viết gì?” “ tối nay anh viết gì?”

  Sau khóc, sau tắm, nhà văn lại nghĩ đến viết.

Sau này anh Triệu Bôn sang làm báo người Hà Nội rồi Tổng biên tập tạp chí Du lịch Việt Nam. Đời một người lính không gắn sao trên cổ áo lại gập ghềnh ở một nhẽ khác. Nhưng anh luôn mong ước “vợ anh đừng bỏ viết, hãy thay anh viết nuôi con”. Tôi  cũng không thể ngờ  cây đại già làm chứng cho cuộc tình của hai chúng tôi; nếu không có anh Triệu Bôn biên tập truyện ngắn cho tôi, nếu không có anh anh luôn gạch xóa trên trang viết của tôi, chắc tôi bỏ cuộc từ lâu, ngoài một sở thích duy nhất là nấu cơm và đi chợ . Vậy thôi.     

 Hoàng Việt Hằng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *