Tác phẩm và dư luận

26/9
8:17 PM 2018

TỰ TRUYỆN: SỰ THẬT-HƯ CẤU VÀ GIÔNG BÃO DƯ LUẬN

HOÀI NAM-Trước khi cuốn tự truyện Một đời giông bão - do diễn viên điện ảnh và kịch nói Thương Tín kể về chính cuộc đời mình, Đinh Thu Hiền chấp bút - được công bố, có lẽ, hiếm ai biết rằng giông bão của cuốn sách rồi đây sẽ phá tan khung khổ trang giấy để thực sự thành bão trong dư luận người đọc.

Trên báo giấy, báo điện tử, nhất là trên các trang mạng xã hội, cả một dòng thác những lời chỉ trích đậm mùi và vị của đạo đức “nghiêm chỉnh” đã ào ào đổ xuống cuốn sách và các tác giả của nó. Nào là “ăn mày dĩ vãng một cách mạt hạng”, nào là “không đáng mặt đàn ông khi kiếm tiền bằng cách đem chuyện những người đàn bà đã ăn nằm với mình ra mà kể”, nào là “muốn kể gì thì kể, không được mang sóng gió tới cho cuộc sống bình lặng hôm nay của những người xưa, như thế là tàn nhẫn, hèn hạ” v.v…

Thật ra, một sự phản ứng dữ dội kiểu như thế, nếu ai đó còn nhớ, đã từng diễn ra cách đó mười năm (2006) với cuốn tự truyện Yêu và sống của Lê Vân (người kể) - Bùi Mai Hạnh (người chấp bút). Hồi ấy, lấy mấy câu tục ngữ “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”, “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, “Yêu nhau đóng cửa bảo nhau” v.v… làm điểm quy chiếu, người ta đã phẫn nộ kết tội Lê Vân bất hiếu, khi trong Yêu và sống chị đã không ngần ngại phơi ra trước mắt bàn dân thiên hạ những góc khuất nhất, tối nhất, xấu nhất của chính gia đình mình, một gia đình nghệ sĩ nức tiếng đất Hà thành. Bất hiếu, và bất nghĩa nữa, vì cũng trong cuốn sách đó Lê Vân còn “vạch áo” cho công chúng biết chị từng lần lượt quan hệ với ba người đàn ông đã có vợ, để rốt cuộc, cả ba đều bỏ vợ, gia đình tan nát. Một trường hợp khác cũng có thể nêu ra ở đây, là Hồi kí Phạm Duy, gồm bốn tập, công bố rải rác từ 1990 đến 2001. Chiếm khá nhiều trang trong bộ sách này là việc nhạc sĩ Phạm Duy kể về những người đàn bà đã đi qua đời mình - nhiều đến mức đáng ngạc nhiên - và kể bằng một giọng điệu khoe khoang không che giấu, một sự tự đắc vọt trào trước những chiến tích ái tình mà, hẳn rồi, không phải người đàn ông nào cũng làm được như ông. Phạm Duy hưởng thụ đàn bà đến tận độ trong khả năng ông có - về mặt này Thương Tín có lẽ chỉ đáng là học trò bé mọn của họ Phạm. Thỉnh thoảng, Phạm Duy vẫn nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa đàn bà và nghệ thuật, với ông, như một lời giải thích, như một sự biện hộ: “Không có người nữ tôi không làm sao sáng tác được”. Thế nhưng, Phạm Duy không phải là một “người quen” của công chúng Việt Nam đương đại như Lê Vân và Thương Tín - ông sống xa đất nước trong một thời gian khá dài, từ năm 1975 đến năm 2005, tác phẩm âm nhạc của ông cũng ít được phổ biến. Vả lại, bộ Hồi kí Phạm Duy lại đủ dày để khiến người ta phải ngại đọc, nên thực tế là rất ít người biết đến những sự thật không mấy mượt mà này. Có thể nói, với độc giả Việt, Hồi kí Phạm Duy là một trận bão bất thành.

Tại sao nhỉ? Có lẽ, nguồn cơn của mọi sự thể là ở chỗ thiên hạ cứ hay mắc cái bệnh… mù mờ vui tính, hay nhầm lẫn trước hai khái niệm, dẫu gần nhau nhưng vẫn cứ khác nhau, là hồi kí và tự truyện. Nếu ở hồi kí, người kể chuyện/ tác giả chỉ đóng vai một người quan sát để kể lại những chuyện đã thực sự xảy ra ở đâu đó, với những ai ai đó, trong một khoảng thời gian nào đó mà anh ta được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, thậm chí anh ta còn là một thành phần can dự vào diễn biến của các sự kiện, thì ở tự truyện, người kể chuyện/ tác giả là nhân vật chính của mọi chuyện được kể lại. Yếu tính của tự truyện có thể được phát biểu ngắn gọn: “Tôi kể những chuyện đã thực sự xảy ra với tôi, trong một quãng đời hoặc trong toàn bộ cuộc đời, và nó là những chuyện của tôi, chỉ của tôi mà thôi”. Theo nghĩa ấy thì Yêu và sống của Lê Vân và Một đời giông bão của Thương Tín không phải hồi kí, chúng là tự truyện. Hồi kí Phạm Duy, mặc cho tác giả đã nhanh tay dán ngay hai chữ “hồi kí” lên nhan đề của bộ sách, thì nó vẫn cứ là tự truyện chứ không phải hồi kí, vì ở đó, ngoài một vài sự kiện lịch sử và một vài ca sĩ, nhạc sĩ được nhắc đến, người đọc chỉ còn thấy một con người Phạm Duy thôi, với từng chặng, từng chặng trong sự nghiệp âm nhạc và sự nghiệp ái tình. Phải phân biệt cho rõ như vậy để đi đến vấn đề mấu chốt: người ta có thể làm được gì với tự truyện và nhận được gì từ tự truyện?
 

17182739

le 300x424 w b

Thuong Tin

 


Tự truyện, tự trong bản thân nó đã ngầm ẩn hai khả năng, là “tự thỏa mãn” và “tự thú nhận”. Hồi kí Phạm Duy thuộc về trường hợp thứ nhất. Tự truyện của ông cho thấy nổi bật một tầm vóc vượt ngưỡng, cả về tài năng trong sáng tạo nghệ thuật lẫn sự bê bối trong đời sống ái tình. Phạm Duy yêu cái tôi của mình đến mức, dù là mặt tốt hay mặt xấu, ông cũng đều nâng niu nó, phóng đại nó và lấy nó làm sự hãnh diện với đời. Viết tự truyện, với ông, dường như là một cách đền ơn đầy hào phóng cho cái cuộc đời mà ông đã sống. Về tự truyện của Phạm Duy, nhà nghiên cứu John C. Schafer nhận định khá chính xác trong cuốn Đọc Phạm Duy và Lê Vân: “Có thể vì ông kiêu ngạo, không hề có một chút mảy may thiếu tự tin, nên hồi kí của ông thiếu cái nhìn lại về chính mình. Ông hầu như không bao giờ tự chất vấn các hành động của mình”. Cái thiếu ấy ở tự truyện của Phạm Duy được làm đầy lên ở tự truyện của Lê Vân và tự truyện của Thương Tín. Đó là những tự truyện thuộc về trường hợp thứ hai - “tự thú nhận”. Thử lấy Yêu và sống làm ví dụ. Đọc tự truyện này, ở bên trong và ở đằng sau những câu chuyện được kể lại, về một gia đình thời thơ ấu, về những mối tình và những cuộc hôn nhân của một người đàn bà, người ta thấy có cái gì như là sự tuôn trào của một tiếng nói lâu nay bị nén lại. Trải nghiệm tất cả, chứng kiến tất cả, luôn đau đớn vì sự trải nghiệm và chứng kiến, và vì cả cái “mệnh lệnh nhất quyết” là không được nói ra, nên lúc Lê Vân kể để Bùi Mai Hạnh chấp bút thì cũng chính là lúc chị quyết định rằng mọi điều cần giấu nhẹm phải được bạch hóa trước con mắt người đời. Những điều mà Lê Vân kể trongYêu và sống, có thể nói, là những sự thật được lộn trái, những sự thật của sự tự thú. Trong ánh sáng của những sự thật trần trụi ấy, nhiều đương sự hiện lên với diện mạo khác xa những gì mà người đời vẫn hình dung về họ: tầm thường hơn, nhếch nhác hơn, ích kỉ và lắm toan tính vụn vặt hơn, vẻ nghệ sĩ hào hoa gần như không còn gì. Lê Vân đã dũng cảm thú nhận sự thật cũng như chị đã dũng cảm hứng chịu giông bão dư luận, một dư luận luôn biết cách tìm ra trong đạo đức truyền thống những thứ vũ khí lợi hại để đánh gục kẻ nào cả gan bước qua cấm kị. Đổi lại, Lê Vân được. Được rũ bỏ những sự thật khủng khiếp đã giày vò chị suốt tuổi thơ ấu và tuổi hoa niên. Được là chính mình một cách nhẹ nhàng, thanh thản. Và, cũng không nên quên một cái được khác: trên mặt bằng sách vở èo uột của khoảng hai mươi năm nay, Yêu và sống là một trong số ít cuốn sách có thành công rất lớn về phương diện phát hành. Một đời giông bão của Thương Tín đang phát hành trên thị trường, đang bầm dập bởi giông bão dư luận, nhưng biết đâu đấy, có thể vì thế mà rồi đây cuốn sách này cũng sẽ đạt thành công lớn về thương mại.

Sở dĩ phải nhắc tới phương diện lí tài của tự truyện, là bởi: muốn hay không muốn thì tò mò hiếu sự vốn là căn bệnh sâu gốc bền rễ của người đời. Người ta sẵn sàng, thậm chí háo hức, bỏ tiền ra mua sách để đọc xem tác giả - đặc biệt khi tác giả là “người của công chúng”, tức những người mà lời nói, việc làm của họ tạo ra một sức ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống cộng đồng - còn có cái gì mới và khác so với những gì công chúng đã biết. Sức hấp dẫn của tự truyện, xét cho cùng, nằm ở đấy. (Ở Việt Nam, hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến và rõ nét hơn khi rất gần đây nhiều nhân vật đình đám của làng giải trí - thể thao, người trước người sau đều xuất bản tự truyện: Tôi là Hà Anh của siêu mẫu Vũ Hà Anh, Từ Vàng Anh đến Phượng Hoàng của ca sĩ Hoàng Thùy Linh, Phút 89 của cựu tuyển thủ quốc gia Lê Công Vinh). Trên nguyên tắc “tôi kể những chuyện đã thực sự xảy ra với tôi, những chuyện chỉ của tôi mà thôi”, tác giả tự truyện làm rõ những điều còn mù mờ, cải chính những chi tiết sai lệch, cung cấp những sự kiện đang còn nằm trong bóng tối của bí mật, chỉ cần nó là sự thật. Những điều như thế, cộng với những điều đã trở nên hai năm rõ mười và ai cũng biết, mỗi tự truyện sẽ là một bản tường trình về cuộc đời và con người tinh thần của bản thân người viết. Tiếp nhận một tự truyện, người đọc có thể vui sướng, thỏa mãn khi thấy người mà họ hâm mộ vẫn cứ ngời sáng, không chút tì vết. Trường hợp ngược lại, họ cũng có thể có cái cớ hợp lí để được làm mặt phẫn nộ trước những “sự thật thối tha” đến lúc này mới được công khai. (Ví như trường hợp tự truyện của Thương Tín, liệu có thể nói rằng trong số những người đang ào ào lên án kia, ai là kẻ tuyệt đối chưa từng có bê bối tình ái trong đời? Và nếu bảo rằng “kiếm tiền bằng cách mang chuyện những người đàn bà từng ăn nằm với mình ra kể” là hèn hạ, thì hình như người ta quên rằng, thật ra, người đời đã và sẽ có những cách kiếm tiền còn hèn hạ hơn nhiều, đê tiện hơn nhiều). Dẫu sao mặc lòng, xét ở một phương diện nào đó, viết tự truyện vẫn cứ là biểu hiện cho một “khát vọng được thành thực” (chữ của Hoài Thanh). Điều đó chỉ có thể xảy ra trong một xã hội mở, khi con người có ý thức cưỡng chống việc bị hòa tan vào cộng đồng, thậm chí, còn muốn được cộng đồng nhìn nhận về mình như một cá nhân toàn quyền đơn trị. Để thực hiện khát vọng ấy, trong những trường hợp cực hạn, hẳn là người viết đã chuẩn bị sẵn cho mình tâm thế để đương đầu với giông bão từ dư luận. Ở đây, tác giả tuyệt đối không được phép nói “tôi không ngờ”.  

Tự truyện, cũng như hồi kí, từ trước đến nay vẫn được xếp vào chủng loại văn chương phi hư cấu (non-fiction). Đạo đức của nó là nói ra sự thật, chỉ sự thật mà thôi. Nhưng cái gọi là “sự thật” trong tự truyện, cũng như trong hồi kí, ở nhiều trường hợp là rất khó, thậm chí không thể xác minh được (chỉ có Chúa và tác giả mới biết). Vì thế, nếu khôn ngoan, rất nên có một “thỏa thuận mang tính lưỡng lự về sự thật” giữa người đọc với cuốn tự truyện mà họ cầm trên tay. Ấy là chưa kể đến việc, khi những sự thật đời tư kia được viết không nhằm để nói rằng nó là sự thật đúng như đã xảy ra, mà chỉ là nguyên liệu cho một mục tiêu sáng tạo nghệ thuật cao hơn, thì tính đáng ngờ của tự truyện lại càng trở nên rõ nét. Trong các tác phẩm Lời bộc bạch của một thị dân của Marai Sandor, Hội hè miên man của Ernest Hemingway, Đời tôi của Marcel Reich Ranicki, Người tình của Marguerite Duras, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Phù dung ơi, vĩnh biệt của Vũ Bằng, Cát bụi chân ai của Tô Hoài… sự thật đã được tái cấu trúc, thậm chí được đánh bóng, được làm mờ theo nhiều cách. Tuy nhiên, với những tác phẩm loại này, người ta sẽ ít quan tâm đến chuyện tìm kiếm đâu là sự thật, đâu không phải sự thật. Đơn giản, là vì người ta còn phải để thời gian, tâm trí thưởng thức những vẻ đẹp khác biệt mà nghệ thuật ngôn từ của chúng mang lại. Điều đó, có lẽ quan trọng hơn tất thảy.
 

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *