Tác phẩm chọn lọc

1/3
4:37 PM 2018

TƯƠNG LAI CỦA TIỂU THUYẾT

BÙI VIỆT THẮNG (Đề dẫn Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết). Cách đây 16 năm (2002) Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức thành công Hội thảo lần nhất Đổi mới tư duy tiểu thuyết. Nội dung cuộc Hội thảo này được in thành sách ĐỔI MỚI TƯ DUY TIỂU THUYẾT (NXB Hội Nhà văn, 2002). Công trình này được văn giới đón đọc nồng nhiệt.

                              Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

Giữa hai cuộc Hội thảo lớn này là các cuộc thi tiểu thuyết lần thứ II, III, IV do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công: 2002-2004, 2006-2009, 2011-2015; và cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V (2017-2020) đang trên đà tăng tốc. Qua năm cuộc thi tiểu thuyết (từ 1998 đến nay) đã có gần 1000 tiểu thuyết được in ra hoặc còn trong dạng bản thảo. Đó là một con số biết nói. Nhưng vì sao gần 20 năm đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết tuy tăng trưởng về số lượng nhưng chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu chính đáng của công chúng nghệ thuật, thậm chí chính nhà tiểu thuyết cũng kêu lên “có rừng mà không thấy cây to” (Bùi Việt Sỹ)? Phải chăng vấn đề cốt tử vẫn là “đổi mới tư duy tiểu thuyết” có ý nghĩa là yêu cầu sống còn như chính chủ đề cuộc Hội thảo hôm nay đặt ra? Sẽ có người đặt câu hỏi vì sao 16 năm rồi vẫn trở lại một vấn đề tưởng như không có gì mới mẻ? Thiết nghĩ, văn chương cũng như cách mạng, phải liên tục đấu tranh để phát triển và muốn phát triển bền vững thì phải triệt để và thường trực đổi mới. Đổi mới xã hội và nghệ thuật là một quá trình liên tục và biện chứng.

I. SỰ QUAN TÂM CỦA VĂN GIỚI ĐỐI VỚI THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT

Tiểu thuyết đương đại Việt Nam (sau 1975) là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình chuyên khảo cũng như tiểu luận, phê bình (về thể loại nói chung, về tác giả nói riêng). Xin nêu một vài công trình tiêu biểu của Vương Trí Nhàn (Khảo về tiểu thuyết/ Biên soạn, NXB HNV, 1996) Nguyễn Thị Bình (Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 – Những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, 2007), Mai Hải Oanh (Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, NXB HNV, 2009), Bùi Việt Thắng (Tiểu thuyết đương đại, NXB QĐND, 2005; Bàn về tiểu thuyết/Biên soạn, NXB VHTT, 2005), Hoàng Cẩm Giang (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI –Cấu trúc và khuynh hướng, NXB ĐHQGHN, 2015), Thái Phan Vàng Anh (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI - Lạ hóa một cuộc chơi, NXB Đại học Huế, 2017), Nguyễn Đức Hạnh (Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai, NXB ĐH Thái Nguyên, 2011), Đổi mới tư duy tiểu thuyết (nhiều tác giả, NXB HNV, 2002), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh (nhiều tác giả, NXB HNV, 2007), Tuyết Nga (Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải (NXB HNV, 2004),... Nhiều nhà nhiên cứu văn học có uy tín như Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan, Bích Thu, Trần Đăng Suyền, Lý Hoài Thu, Nguyên An, Trần Mạnh Tiến,... kể cả những tên tuổi rất mới như Hoàng Thụy Anh cũng đã có những loạt bài về tiểu thuyết có ý nghĩa vun đắp những công trình chuyên biệt về thể loại trong tương lai gần (chẳng hạn 2017 chúng tôi đã được nhà văn Tôn Phương Lan nhờ đọc bản thảo một tập tiểu luận phê bình, trong đó có quá nửa số bài bàn về tiểu thuyết đương đại). Chúng tôi không tính đến nhiều luận án tiến sỹ còn nằm trong kho lưu trữ quốc gia, vì ít người biết đến, chưa được in thành sách.

Như vậy rõ ràng tiểu thuyết đương đại Việt Nam đang được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng. Vì sao? Vì thực tiễn sáng tác tiểu thuyết hết sức phong phú, vì nó là một đối tượng còn được tiếp tục nghiên cứu không chỉ với tư cách một thể loại rường cột của văn học mà còn là một hình thức nghệ thuật đặc biệt có khả năng lưu giữ hình ảnh lịch sử và là chứng tích tâm hồn người Việt Nam trong một giai đoạn phát triển xã hội chưa từng thấy.

So với giới nghiên cứu, các nhà văn ít bàn trực diện hơn về tiểu thuyết. Nhưng không thể nói là  không quan tâm đến những vấn đề của thể loại trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn. Trên báo chí (đặc biệt trên các ấn phẩm như Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Nhà văn & Tác phẩm, Sông Hương,...) nhiều nhà văn đã viết phê bình tiểu thuyết với nhiều hứng thú nghề nghiệp ( có thể kể đến Nguyễn Khắc Phê, Văn Chinh, Phạm Phú Phong, Hoàng Thụy Anh,...). Trong hai cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức (2002, 2018) số lượng các tham luận của các nhà văn vẫn vượt trội so với giới nghiên cứu, lý luận, phê bình.

II. ĐỔI MỚI TƯ DUY TIỂU THUYẾT- SỰ SỐNG CÒN CỦA THỂ LOẠI

 Ngoài Đề dẫn Hội thảo Tương lai của tiểu thuyết (do nhà văn Bùi Việt Thắng viết), Ban Tổ chức đã nhận được 14 tham luận của các nhà văn bàn về nhiều vấn đề của  của tiểu thuyết vốn được coi là một thể loại  nòng cốt, hay còn được gọi là “máy cái” của văn học: Nguyễn Bắc Sơn (Nghĩ và viết về tiểu thuyết của tôi), Trần Mai Hạnh (Về một cách nhìn lịch sử trong tiểu thuyết đương đại), Nguyễn Thế Quang (Đề tài lịch sử và những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy tiểu thuyết), Bùi Việt Sỹ (Tiểu thuyết đương đại Việt Nam – Có  rừng mà không thấy cây to), Nguyễn Trọng Tân (Tiểu thuyết đang âm thầm trổ hoa kết trái), Phạm Hoa ( Hãy viết bằng kinh nghiệm của chính mình), Lê Hoài Nam (Sự mặc cảm “nhà quê” trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam), Trần Thanh Cảnh (Viết tiểu thuyết lịch sử), Nguyễn Hiếu (Từ thực tế sáng tác cá nhân nói đến sự đổi mới bút pháp tiểu thuyết), Phong Lê (Về văn học hôm nay – Ghi chép và cảm nghĩ), Lê Thành Nghị ( Một thể loại với những đòi hỏi rất cao), Tôn Phương Lan (Tiểu thuyết đương đại – Mấy cảm nhận), Nguyễn Bích Thu (Tiểu thuyết đương đại Việt Nam – Con đường và ngả rẽ), Nguyên An (Phong tục - Thế sự - Đối thoại trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam).

 Ý kiến của các nhà văn/ nhà nghiên cứu hết sức phong phú từ góc độ cá nhân nhưng đều quy tụ vào những vấn đề trọng tâm, có ý nghĩa thời sự và quan thiết đối với sự phát triển thể loại tiểu thuyết:

1.Vấn đề kế tục thế hệ

Quy luật “tre già măng mọc” thiết nghĩ là hữu dụng với bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống xã hội, có tính liên thời gian và liên thế hệ. Nhà văn Phong Lê trong tham luận Về văn học hôm nay – Ghi chép và cảm nghĩ đã bàn sát sao về vấn đề thế hệ của cả nền văn học nói chung. Ông chia sẻ về cái “khó”, cái “mắc” của các thế hệ đi trước (những nhà văn sinh vào các năm 30, 40 của thế kỷ trước) trong danh hiệu “kỹ sư tâm hồn” hoặc là “chiến sỹ trên mặt trận văn hóa”. Nhưng thực tiễn chứng minh “hiện tượng phong phú hơn quy luật”. Trong thế hệ có nhiều cái khó và cái mắc ấy từ những năm 80 của thế kỷ trước đã bất ngờ xuất hiện Nguyễn Minh châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Xuân Khánh,... Tác giả kỳ vọng vào những nhà  văn rạng danh nhờ ngọn gió Đổi mới như Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường và chậm hơn một nhịp là Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Lập, Võ Thị Hảo, Y Ban, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà,...Gần hơn là thế hệ 7X như Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Phong Điệp, Trần Nhã Thụy, Uông Triều, Nguyễn Xuân Thủy, Dương Thụy, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Thế Hùng, Thiên Sơn, Vũ Đình Giang, Nguyễn Ngọc Thuần,...Tác giả cũng hi vọng vào thế hệ 8X, 9X như Meggie Phạm, Huỳnh Trọng Khang,...đang có nhiều tiềm năng sáng tác tiểu thuyết. Nhưng tác giả vẫn cứ băn khoăn “Mặt khác, những gương mặt mới của thời đại cũng ít thấy có trong sáng tạo của giới trẻ nói riêng, và lực lượng hùng hậu hàng ngàn hội viên Hội NVVN nói chung”. Ông đưa ra con số 60 vạn doanh nhân hiện nay (năm 2020 sẽ lên tới 1 triệu) để so sánh. Nhưng mọi sự so sánh, như người ta nói, đều khập khiễng. Doanh nhân không nên so sánh với nhà văn. Đã đành! Vả lại, phép biện chứng cho thấy sự phát triển của văn hóa không tỷ lệ thuận với điều kiện kinh tế. Văn hóa phát triển theo quy luật tự thân và đặc thù.

Một thông tin ít người quan tâm nhưng với những người có trách nhiệm và tâm huyết thì đáng mừng: năm 2017, Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã phê duyệ Đề án Đào tạo tài năng sáng tác văn học. Đề án lớn này được giao cho Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thực hiện. Cũng không ít người cho rằng đã đến lúc không còn cần kế tục mà là thay đổi vai trò thế hệ (như là sự “đổi gác”). Thật ra thì, không có sự phát triển bền vững nào lại chỉ dựa trên sự đoạn tuyệt quá khứ và truyền thống, chỉ dựa trên sự đứt gãy thế hệ theo lối phủ định sạch trơn. Vấn đề thế hệ (kế tục hay thay đổi) sẽ là muôn thưở, sẽ còn được bàn luận nhiều hơn trong đời sống văn học nước nhà.

2.Quan niệm về tiểu thuyết

Lâu nay các nhà văn có thói quen khi viết tác phẩm văn xuôi dài hơi đều ghi tên thể loại “tiểu thuyết”. Nhưng thực tế thì không phải bất cứ tác phẩm dài hơi nào cũng được coi là tiểu thuyết. Trở lại một vấn đề tưởng chừng “cũ như trái đất”- tiểu thuyết là gì trong bối cảnh hôm nay lại có ý nghĩa thời sự sáng tác. Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn trong tham luận của mình mở đầu bằng ý kiến “Có nhiều quan niệm về tiểu thuyết. Có nhiều xu hướng viết tiểu thuyết [...]. Nhưng, gì thì gì, ngay cả tiểu thuyết giả tưởng cũng phải xuất phát từ hiện thực [...]. Tính hiện thực và nhất thiết phải có tính nhân văn [...]. Thế nên tôi thích định nghĩa: Tiểu thuyết là nơi lưu giữ bóng hình cuộc sống”. Nhà văn Nguyễn Trọng Tân nhấn mạnh “Nhưng tựu trung lại, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng là câu chuyện về cõi nhân sinh, lấy con người là cái đích cuối cùng của sáng tạo nghệ thuật”. Nhà văn Bùi Việt Sỹ tâm huyết “ Một cuốn sách thực sự được gọi là tiểu thuyết trước hết nó phải được viết từ tâm huyết, từ sự trải nghiệm cuộc sống đớn đau của người sản sinh ra nó. Sự hời hợt, dễ dàng không bao giờ sản sinh ra tiểu thuyết. Và cái gì cũng có tiêu chí của nó. Trong tiêu chí của tiểu thuyết, để đạt được thành công, phải bao gồm nhiều yếu tố như: phải  phản ánh được cái hồn thời đại mà tiểu thuyết phản ánh trong đó, phải có tính phản biện xã hội cao; phải đa nghĩa nói đây chết cây trên rừng; phải có tính dự báo chính xác. Và trên hết nó phải có tính triết học”. Nhà văn Lê Thành Nghị nhắc lại một quan niệm của nhà văn Ma Văn Kháng cho rằng “Tiểu thuyết là một bí ẩn”. Từ đó ông nhấn mạnh thêm “Có phải tiểu thuyết, một thể loại có quá nhiều ngẫu nhiên ngoại biệt, đôi khi không chiều theo quy luật, chứa rất nhiều những may rủi, tình cờ, một cuộc truy tìm cái đẹp vật vã trần thế nhưng cũng rất siêu thoát thăng hoa nhưng không phải cứ muốn là được”. Trở lại vấn đề căn cốt “tiểu thuyết là gì?” xem ra không hề lạc hậu bởi muốn sáng tác tiểu thuyết thì trước tiên nhà văn phải hiểu “nó” là gì? Tương tự có người làm thơ rất dài thì ghi là trường ca, nhưng không phân biệt được trường ca và thơ dài khác nhau căn bản ở điểm then chốt nào. Có lẽ định nghĩa “Tiểu  thuyết là một câu chuyện bịa như thật” vẫn luôn có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn văn học. Dường như nhà văn ta viết tiểu thuyết vẫn còn nặng “nệ thực”, sức mạnh của hư cấu và ý thức viết về “cái khả nhiên” chưa cao.

3. Đổi mới tư duy tiểu thuyết bắt đầu từ đâu?

Không phải ngẫu nhiên khi đây là lần thứ hai Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội thảo “Đổi mới tư duy tiểu thuyết”. Nhìn chung, Ban Tổ chức nhận thấy sự hồ hởi quan tâm của đa số nhà văn khi nhận lời tham dự và viết tham luận. Tuy nhiên cũng có ý kiến trái chiều khi nhà văn Tôn Phương Lan khẳng định “Ở thời điểm hôm nay mà nói đến vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật thì xem ra hơi cũ vì đó là những vấn đề đặt ra trong thời kỳ đầu đổi mới. Tuy nhiên, cũng cần thấy vai trò quan trọng của nó trong việc làm nên diện mạo tiểu thuyết hôm nay. Chính sự đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong văn chương, ở vào thời điểm ấy cũng trở thành nguyên tắc sống còn cho cả người viết và người đọc”. Chúng tôi cho rằng trong nghệ thuật không có chữ thời. Đổi mới tư duy văn học/ tư duy tiểu thuyết, thiết nghĩ là  công việc liên thời gian, liên thế hệ. Đổi mới phải liên tục và triệt để.

Nhưng vấn đề căn cốt của đổi mới tư duy văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng là gì? Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết 2002, nhà văn Ma Văn Kháng đã nói đến vấn đề “tình trạng không tải” (thiếu tư tưởng) của văn học và tiểu thuyết. Trong cuộc ra sách do DinhtiBooks tổ chức (nhân dịp Công ty này in lại 5 tiểu thuyết và 100 truyện ngắn của nhà văn Ma Văn Kháng) vào ngày 9-12-2017 tại Hà Nội, nhà thơ Hữu Thỉnh trong phát biểu của mình đã tâm đắc ý kiến này. Nhà văn Lê Thành Nghị một lần nữa nhấn mạnh “Một vấn đề cốt tử không thể không bàn tới khi nói về đổi mới tư duy tiểu thuyết là: người viết cần đặc biệt quan tâm đến tư tưởng chủ đề tác phẩm, điều mà tiểu thuyết Trung Quốc những năm gần đây rất quan tâm. Ma Văn Kháng có lần nói cần khắc phục “tình trạng không tải” trong tiểu thuyết chính là ông muốn nhấn mạnh vấn đề này. Một bài thơ nhỏ cũng cũng cần chuyển tải một nội dung nào đó, huống hồ một tiểu thuyết. Người đọc tiểu thuyết không chỉ là theo dõi một câu chuyện qua sự dẫn dắt bằng ngôn từ nghệ thuật điêu luyện, mà còn qua câu chuyện, họ muốn được rút ra bài học nhân sinh sâu sắc nào đó, có thể là từ ý nghĩa triết lý qua câu chuyện, có thể là vấn đề đạo đức thiết thân với mỗi con người, có thể là bài học về nhân cách con người”. Chính vì thiếu tính tư tưởng nên rất nhiều tiểu thuyết của ta hiện nay sa vào tình trạng kể chuyện tràng gian đại hải. Thiếu tính tư tưởng nên văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng chỉ còn là phiên bản của những “bóng” và “hình” của những câu chuyện khi thì quá ư rắc rối, tắc tị khi thì quá giản đơn, nông cạn. Thậm chí là bóng và hình của một cái “tôi” nhỏ bé và tội nghiệp khi tách rời khỏi cộng đồng.

4. Những nguyên tắc sáng tạo tiểu thuyết lịch sử

 Hoàn toàn có cơ sở thực tiễn khi trong Hội thảo này nhiều tham luận của các nhà văn quan tâm đến “đề tài lịch sử và những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới tư duy tiểu thuyết” như nhà văn Nguyễn Thế Quang trực tiếp đặt ra trong tham luận của mình. Hưởng ứng chủ đề này có các tham luận của các nhà văn Trần Mai Hạnh, Bùi Việt Sỹ, Trần Thanh Cảnh, Lê Hoài Nam. Vấn đề đặt ra là vì sao các nhà văn quan tâm đến vấn đề viết về lịch sử? Nhà văn Trần Thanh Cảnh trong tham luận Viết về lịch sử đã thẳng thắn “Cho nên tôi đã trả lời bạn đọc của mình là tôi không định giải thiêng cái gì trong cuốn tiểu thuyết của mình. Nhưng tôi giải mờ. Lịch sử của dân tộc chúng ta, của đất nước ta do điều kiện khách quan và chủ quan của nhà cầm quyền các thời đại, còn rất nhiều điểm mờ” ( đối thoại với bạn đọc của nhà văn Trần Thanh Cảnh trong buổi ra mắt tiểu thuyết lịch sử Đức Thánh Trần tại TP. HCM, ngày 27-1-2018). Nhà văn Nguyễn Thế Quang, tác giả của ba tiểu thuyết lịch sử xuất bản gần đây (Nguyễn Du, Thông reo Ngàn Hống, Khúc hát những dòng sông) quan niệm “Đổi mới là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống, cũng là yêu cầu khẩn thiết của hoạt động sáng tạo nghệ thuật [...]. Tiểu thuyết lịch sử là một bộ phận ngày càng có nhiều thành tựu, ngày càng có nhiều độc giả thì nhu cầu đổi mới ngày càng có những đòi hỏi cao hơn [...]. Viết tiểu thuyết lịch sử là khám phá về một thời đã qua, đã xa. Lịch sử có một, nhưng mỗi thời, mỗi người có một lượng thông tin khác nhau, có khi trái ngược nhau [...]. Viết tiểu thuyết lịch sử, không chỉ quay lại tìm vẻ đẹp của người xưa mà cái chính là để đối thoại với hiện tại, chia sẻ cùng bạn đọc, hướng tới cái tiến bộ”. Nhà văn Lê Hoài Nam nhấn mạnh “Đề tài lịch sử Việt Nam, do những đặc thù riêng mà nhiều vấn đề hãy còn khuất lấp, cũng đang rất cần sự khám phá”.

Viết về lịch sử, vấn đề thường trực được đặt ra với  nhà văn là giải quyết tốt quan hệ giữa sự thậthư cấu. Nhà văn Nguyễn Thế Quang từ kinh nghiệm của mình đặt vấn đề “Tỷ lệ giữa sự thật và hư cấu nên như thế nào?”. Ông lý giải “ Với chúng tôi đơn giản hơn nhiều. Từ mục đích tác phẩm, chúng tôi chọn sự thật nhiều hay ít. Viết để giải trí, để giễu nhại thì hư cấu, phóng đại phải nhiều hơn. Viết để người đọc tin thì yếu tố thực phải nhiều hơn. Chúng tôi không tính tỷ lệ, chỉ biết lựa chọn viết cái gì để đạt được ý tưởng của mình”. Vấn đề hư cấu và sự thật cũng được đề cập trong tham luận của các nhà văn Bùi Việt Sỹ, Trần Mai Hạnh, Trần Thanh Cảnh. Nhà văn Bùi Việt Sỹ (tác giả các tiểu thuyết lịch sử thành công gần đây như Chim ưng và chàng đan sọt, Chim bằng và nghé hoa) có một ý hay về tương quan giữa sự thật và hư cấu khi viết về lịch sử “ Viết về Lý Thường Kiệt, có thể tả 1001 lý do Cụ phải tịnh thân (tự thiến). Nhưng không thể không viết về bài thơ Thần Nam quốc sơn hà. Bài thơ mà năm 1973, Ngoại trưởng Mỹ, Tiến sỹ Henry Kitsinhgiơ thăm Việt Nam, đến Hà Nội, được đồng chí Lê Đức Thọ đưa đi thăm quan Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ông ta đã hóm hỉnh nói rằng “Đây là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của Việt Nam”. Nhà  văn Trần Thanh Cảnh thì rộng rãi, cởi mở hơn  “Đã là tiểu thuyết lịch sử [...] thì việc hư cấu của nhà văn là không có giới hạn nào cả. Tuy nhiên, hư cấu thế nào, hư cấu đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào cá nhân nhà văn [...]. Anh ta đứng ở đâu là quan trọng nhất”. Nhà văn Trần Mai Hạnh, tác giả tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 ( Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2014, Giải thưởng ASEAN 2015) khẳng định “Lịch sử tự nó viết ra – đó chính là sự thật [...]. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp giá trị sáng tạo, khả năng dung tưởng phong phú và sự hư cấu của nhà văn [...]. Chỉ có điều, khả năng sáng tạo, hư cấu của nhà văn phải hướng tới việc khắc họa trung thực và nâng tầm sự thật của các sự kiện lịch sử chứ không xuyên tạc, bóp méo, đổi trắng thay đen các tình tiết, các sự kiện và các nhân vật lịch sử nhằm phục vụ ý đồ riêng của mình”.  Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến phê phán tiểu thuyết lịch sử Hội thề của nhà văn Nguyễn Quang Thân xung quanh vấn đề sự thật lịch sử và quyền hư cấu của nhà văn, mặc dù nó nhận Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết lần thứ III của Hội NVVN.

5. Vị thế của tiểu thuyết tư liệu trong văn học đương đại

Trong xu hướng “trương nở” của văn học tư liệu hiện nay, tiểu thuyết tư liệu đang có những gặt hái thành công. Quan tâm tới thực trạng tiểu thuyết đương đại không thể không nói đến vị thế mới của tiểu thuyết tư liệu trên văn đàn hiện nay. Nhà văn Trần Mai Hạnh trong tham luận Về một cách nhìn lịch sử trong tiểu thuyết đương đại đã trình bày cặn kẽ quá trình viết cuốn tiểu thuyết tư liệu – lịch sử thành công về thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trong suốt hơn 20 năm (1954-1975). Đặc biệt là thời khắc lịch sử cuối cùng sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng hòa. Nhà văn đã nêu lên 4 nguyên tắc của tiểu thuyết tư liệu – lịch sử: 1/ Phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, 2/Phải chinh phục niềm tin của người đọc, 3/Viết về đề tài lịch sử đương đại phải rất khắt khe về sự thật, 4/ Yêu cầu về tính chân thật của các sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập đến phải đảm bảo bốn yêu cầu cơ bản (sự kiện, tình tiết lịch sử đó đúng là đã diễn ra; sự thật về con người, kể cả hành động, tâm trạng, tính cách, thậm chí cả ngôn ngữ giao tiếp khi họ tham gia vào các sự kiện, tình tiết lịch sử đó; sự thật về bối cảnh đa chiều của cuộc sống trong không gian sự kiện lịch sử đó diễn ra;  sự thật về những tác động tức thì, kể cả hệ lụy lâu dài nếu có của sự kiện lịch sử đó). Có thể nói, tham luận của nhà văn Trần Mai Hạnh như là một “cẩm nang”  trình bày các nguyên tắc và kỹ thuật viết tiểu thuyết tư liệu – lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà cho đến nay tiểu thuyết này đã được tái bản nhiều lần (số lượng in lên tới hơn 10.000 cuốn, đã có phiên bản tiếng Anh).

Vấn đề vai trò và hiệu quả nghệ thuật của tiểu thuyết tư liệu, nhất là tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng cũng được đề cập khá thấu đáo trong các tham luận khác của nhà văn  Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan. Tham luận của các tác giả đã tiếp tục khẳng định đóng góp của các nhà văn Trần Mai Hạnh, Trầm  Hương, Nguyễn Bảo, Văn Lê,... vào việc làm giàu bộ sưu tập tiểu thuyết tư liệu – lịch sử về chiến tranh. Thiết nghĩ trong tương lai gần và xa, văn học/ tiểu thuyết tư liệu sẽ tiếp tục phát triển và có những thành tựu đáng khả quan.

6. Có hay không chủ nghĩa hậu hiện đại trong sáng tác văn chương/tiểu thuyết đương đại Việt Nam?

Hiện nay đang có một “cơn sốt nhẹ” về cái gọi là “hậu hiện đại” trong văn giới ở ta (cả người sáng tác cũng như giới nghiên cứu - lý luận - phê bình). Hậu hiện đại là một thứ “cũ người mới ta”. Nhưng không phải không có người bảo hộ nó. Nhà văn Nguyễn Bích Thu trong tham luận Tiểu thuyết đương đại Việt Nam – Con đường và ngả rẽ đã không ngần ngại cổ súy cho hậu hiện đại trong thực tiễn sáng tác tiểu thuyết “Với những tiểu thuyết viết theo hướng hiện đại, hậu hiện đại đã cho thấy hiện thực là phong phú, đa tầng [....]. Tiểu thuyết viết theo xu hướng này có thể còn xa lạ, làm “mệt” hoặc thậm chí đánh đố người đọc nhưng nó mở ra một lối viết mới, một cách cảm thụ và tiếp nhận mới, kích thích liên tưởng và đồng sáng tạo”. Những tác giả tiểu thuyết được nhà nghiên cứu xép vào ô “hậu hiện đại” có Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà,... ở trong nước và Thuận, Đoàn Minh Phượng, Lê Minh Hà,...ở nước ngoài. Công tâm mà nói thì, nhà nghiên cứu có quyền xếp loại sáng tác. Nhưng theo ý kiến của nhiều người thì hậu hiện đại sớm muộn cũng sẽ tàn phai ở Việt Nam, vì xứ sở này không phải là “thung thổ văn hóa” của nó. Nhà văn Tôn Phương Lan trong tham luận của mình Tiểu thuyết đương đại – Mấy cảm nhận cũng đã đánh giá cao công trình nghiên cứu của Thái Phan Vàng Anh  (Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI – Lạ hóa một cuộc chơi) “Thái Phan Vàng Anh đã nhận diện tiểu thuyết từ đầu thế kỷ XXI dưới con mắt của lý thuyết hậu hiện đại. Đây là một góc nhìn. Toàn cảnh nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại rộng hơn, đa dạng hơn”. Đây là một cách gián tiếp phù trợ cho hậu hiện đại trong sáng tác tiểu thuyết. Tuy nhiên tất cả những gì mà tác giả Tôn Phương Lan viết, theo quan sát của chúng tôi, lại đứng về phía thành tựu văn học truyền thống nước nhà (tiêu biểu là công trình nghiên cứu về Phong cách nghệ thuật  Nguyễn Minh Châu)

Nhưng hậu hiện đại gặp phải sự “kháng cự” khá mạnh mẽ chính từ các tác giả tiểu thuyết. Nhà văn Lê Hoài Nam trong tham luận Sự mặc cảm “nhà  quê” trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã thẳng thắn “Không chỉ các cây bút trẻ, một số nhà văn đã thành danh cũng bị cuốn vào không khí ngưỡng vọng hậu hiện đại phương Tây [...]. Nếu chúng ta ngưỡng vọng văn chương hậu hiện đại phương Tây mà chúng ta làm được như Nguyễn Du: viết hay hơn, sáng tạo hơn tác phẩm gốc thì cũng nên làm. Nhưng rất tiếc, một số tiểu thuyết của chúng ta bắt chươc hậu hiện đại phương Tây chỉ là một thứ bán thành phẩm, một thứ hàng kém cỏi”. Tác giả đồng thời đưa ra khái niệm “thuần Việt” (nhà văn sáng tác không quay lưng lại những vấn đề lớn của thời đại, cách hành văn phù hợp với thẩm mỹ của người Việt Nam). Nhà văn Bùi Việt Sỹ trong tham luận Tiểu thuyết đương đại Việt Nam – Có rừng mà không thấy cây to cũng hô ứng “Một số tiểu thuyết của một số nhà văn vốn có ngoại ngữ thường hay khoe các phương pháp sáng tác tân kỳ của phương Tây trong các tác phẩm  của mình. Tôi không dám chê bai nhưng quả thật cảm thấy rất khó đọc”. Rõ ràng vấn đề tiếp biến văn hóa đối với nhà văn rất quan trọng. Thiếu bản lĩnh văn hóa và nghệ thuật nhà văn sẽ dễ bị tâm lý “a dua”, đưa đẩy đến những bến bờ xa lạ với chính mình và công chúng nghệ thuật. Hậu hiện đại bản thân nó chỉ tốt tươi ở tên mảnh đất sinh ra nó, không phải ở Việt Nam. Nhưng đáng tiếc là, nhiều nhà văn chưa thấu triệt rằng văn chương/ tiểu thuyết của ta chưa đi hết con đường hiện đại thì làm sao đặt chân lên hậu hiện đại được (?!).

7. Xu hướng đối thoại chính trị trong tiểu thuyết đương đại

Nhà văn Nguyễn Bắc Sơn trong tham luận Nghĩ và viết về tiểu thuyết của tôi đã trình bày quá trình sáng tác tiểu thuyết của mình trong thời gian qua, từ Lửa đắng, Luật đời & Cha con, đến Gã Tép Riu (2 tập), Vỡ vụn Cuộc vuông tròn. Trong một bài viết gần đây chúng tôi định vị tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn là tiểu thuyết chính trị xét về cảm hứng và là tiểu thuyết – phóng sự xét về hình thức thể loại. Nhà văn cũng tự nhận đôi khi tác phẩm của mình gặp nguy hiểm vì có “xu hướng đối thoại chính trị” (ví dụ đối thoại về nhất thể hóa lãnh đạo), vì thế mà Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết duy nhất mà Hội Nhà văn Việt Nam tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi ông về làm việc với Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTVN, năm 2016. Nói về tiểu thuyết Gã Tép Riu (2 tập) nhà văn nhấn mạnh “Dù là đề tài gia đình, nhưng đối thoại chính trị vẫn cứ hiển hiện, nhất là ở tập 2”. Đến bộ tiểu thuyết thứ ba (Vỡ vụnCuộc vuông tròn) thì đối thoại chính trị vẫn đậm đặc (có những tên chương rất trực tiếp: Tôi không phải đảng viên, Ông Quy Trình). Nhà văn tự nhận tiểu thuyết giàu cảm hứng đối thoại chính trị của mình là “ba bộ tiểu thuyết luận đề”.

Nhà văn Nguyên An trong tham luận Phong tục - Thế sự - Đối thoại trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam nhấn mạnh “Nguyễn Bắc Sơn với một loạt cuốn tiểu thuyết ra đời trong khoảng mươi năm đầu thế kỷ XXI đã cho thấy: quả thực ở Việt Nam bây giờ đang có một dòng tiểu thuyết đối thoại với xã hội rộng lớn, và đặc biệt  là đối thoại với nền chính trị hiện hành. Với Nguyễn Bắc Sơn, cuộc đối thoại chính trị trong tiểu thuyết được trình ra thật trực diện mà khéo léo, có lý và có tình. Cái tình và cái lý ở đây cùng được ấp ủ và thể hiện trong mục đích xây dựng [...]. Đọc dòng tiểu thyết chính trị này, ta nhận ra khá rõ cái khát vọng muốn có một nền chính trị hiền minh, một hệ thống pháp luật thực sự nhân bản, nhân quyền”. Thiết nghĩ, tiểu thuyết tư liệu – lịch sử Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của nhà văn Trần Mai Hạnh cũng nhuốm màu sắc đối thoại chính trị. Đối thoại giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Đối thoại giữa quá khứ và hiện tại. Đối thoại giữa người thắng cuộc và thua cuộc. Đối thoại giữa lực lượng xâm lăng và lực lượng kháng chiến. Và cao hơn là đối thoại giữa hai nền văn hóa tiến bộ, nhân văn và phản tiến bộ, phản nhân văn.

8. Kỹ thuật tiểu thuyết

Dường như trong Hội thảo lần này các nhà văn ít bàn về kỹ thuật tiểu thuyết. Rất có thể đây cũng là một khoảng trống của đổi mới tư duy tiểu thuyết. Chúng ta vẫn nói nội dung và hình thức là hai mặt của một vấn đề. Tác phẩm văn học cần có tư tưởng thâm sâu, tất nhiên. Nhưng tư tưởng nghệ thuật không thuần lý. Nó phải trở nên sinh sắc trong những hình thức nghệ thuật đa dạng, nhiều màu sắc thẩm mỹ. Nói ít chứ không phải là không có những ý kiến khá tâm huyết về nghề văn, về kỹ thuật tiểu thuyết. Nhà văn Phạm  Hoa với tham luận Hãy viết bằng kinh nghiệm của chính mình đã bàn riêng về kỹ thuật tiểu thuyết. Dẫu rằng sở  hữu  năm tập truyện ngắn và chỉ một tiểu thuyết nhưng điều đó không ngăn cản ông bàn sâu về kỹ thuật viết tiểu thuyết. Mối quan tâm hàng đầu của nhà văn vẫn là nhân vật nhưng với tiểu thuyết thì phải “xoay nhân vật nhiều chiều” (hiểu là tính đa nhân cách của nó). Ông cho rằng phải tạo ra hình ảnh “lập thể” về nhân vật. Mối quan tâm thứ hai của nhà văn là “đưa nhân vật vào các tình huống, để thấy được toàn bộ các chiều hướng mà nhân vật sẽ bộc lộ”. Thêm vào, nhà văn cũng nhấn mạnh quan hệ giữa nhân vật và cốt truyện. Cuối cùng nhà văn nhấn mạnh đến cái gọi là “giọng văn” (giọng điệu). Giọng văn và văn phong đi liền với nhau. Ông nhấn mạnh “văn của tiểu thuyết phải tươi và mềm như chính cuộc sống hàng ngày của nhân vật”. Xem ra những vấn đề kỹ thuật tiểu thuyết mà nhà văn Phạm Hoa đề xuất không có gì là phát kiến. Nhưng thiết thực và hữu ích. Nhà văn Trần Thanh Cảnh nhấn mạnh “ Tiểu thuyết  cần phải có một giọng điệu đủ để hấp dẫn độc giả, khiến cho họ  muốn theo dõi dòng câu chuyện [...]. Thứ hai, kết cấu cần phải hiện đại, nhưng vẫn phải mạch lạc sáng rõ, không đánh đố bạn đọc. Kết cấu kiểu nhiều câu chuyện nhỏ hợp thành một câu chuyện lớn, cả cuốn sách là một xu thế,  mà tôi thấy rất nhiều tiểu thuyết gia trên thế giới đã áp dụng thành công [...]. Và thứ ba, theo tôi là chúng ta cần phải chọn chi tiết, dồn nén sự kiện tinh gọn, đủ, đặc sắc để cho bật được hình tượng nhân vật trung tâm của cuốn sách nhưng vẫn đủ độ...ngắn cần thiết để cho độc giả khỏi hoang mang khi nhìn thấy cuốn sách to, dày, nặng nề theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng”. Nhà văn Nguyễn Trọng Tân thì cho rằng “Kỹ thuật dòng ý thức, mô-tip giấc mơ, đồng hiện hay cuộc song hành với hoài niệm, ký ức...đặc biệt là lối hành văn nhanh, tư duy tự do và hành ngôn phong phú, sáng tạo không bị ràng buộc bởi thi pháp cổ điển hay những quy ước chặt chẽ của cấu trúc thể loại góp phần tạo nên sắc thái mới cho tiểu thuyết đương đại”. Nhà văn Nguyễn Hiếu trong tham luận Từ  thực tế sáng tác cá nhân nói đến sự đổi mới bút pháp tiểu thuyết đã lưu ý văn giới quan tâm hơn tới các hình thức bút pháp huyền thoại và hài hước với hiệu quả nghệ thuật cao trong sáng tạo tiểu thuyết từ chính kinh nghiệm cá nhân. Ông đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết khôi phục văn chương hài vì “Đó cũng là một nỗ lực cho sự sáng tạo của dòng tiểu thuyết hiện nay”. Đây không phải là lần đầu nhà văn nói đến sự thiếu vắng tiếng cười  (như là “vũ khí của người mạnh”) trong văn học hiện đại Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.

III. TƯƠNG LAI CỦA TIỂU THUYẾT/THAY LỜI KẾT

 Văn học/Tiểu thuyết đang trong cuộc cạnh tranh sinh tử với truyền hình và nghệ thuật thứ bảy. Đó là một thực tế không thể làm ngơ. Văn hóa nghe nhìn như con khủng long đang ngoạm dần thị phần tinh thần của xã hội. Phim ảnh với chức năng giải trí cao ngất đang giành giật công chúng trong tay các nhà văn ngày càng quyết liệt và hiệu quả. Văn học đang bị đẩy xa khỏi trung tâm văn hóa. Văn học/Tiểu thuyết đang đi về đâu là một câu hỏi lớn không dễ trả lời ngay lập tức. Không có gì là chậm. Chậm còn hơn không. Những tiếng chuông báo động đang gióng lên khi một cuốn tiểu thuyết dù hay nhưng in ra với số lượng 1000 bản không dễ bán hết trong một năm. Chúng tôi muốn mượn lời nhà văn Mỹ Filip Roth để nói về số phận của tiểu thuyết hiện đại “Độc giả của tiểu thuyết sẽ chỉ còn những người thật sự sùng bái tiểu thuyết mà thôi”. Để cứu vãn tình thế không mấy lạc quan này, nói như nhà văn Banglades Zia Rahman “Ngay cả người sáng tạo còn không muốn cứu tác phẩm văn học, làm gì còn ai cứu nữa” (theo Báo Văn nghệ, số 3, ra ngày 20-1-2018). Tương lai của tiểu thuyết. Tiểu thuyết đang đi về đâu nằm chính trong tay các nhà văn./.

 

                                                                               Hà Nội, tháng 2-2018

                                                                                        B.V.T

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *