Tác phẩm chọn lọc

5/2
2:51 PM 2018

THƯỢNG ĐẲNG THẦN-TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN CHIẾN

Phạm Vĩnh Nhiên, người tổng Hào Hiệp, Sơn Nam Hạ, là con một bác phó cối. Nhiên hồi nhỏ hay đáo khăng, suốt ngày trèo cây bắt cá, lớn lên đốc chứng thích chữ nghĩa. Được cha gửi học các danh sư, mười tám tuổi Nhiên đã tiếng tăm thơm phức.

                                                                  Ảnh minh họa: nguồn Internet

Thi nhân đến nhà tha hồ đố chữ, khảo kinh, Nhiên trả lời rành rẽ, giải các tầng nghĩa nông sâu đâu ra đấy. Bèn đều cùng đoán một tương lai rõ ràng, phải nuôi dậy cho dầy cả phần đức độ để rồi sáng danh thiên hạ.

Năm hai mươi tuổi, Nhiên thi hương trúng thủ khoa. Lên thi Hội rồi vào kinh thi Đình, chàng làm một lèo tới Á nguyên, mà năm ấy không có giải nguyên. Các chủ khảo dâng quyển của Nhiên lên Ngài Ngự, được khen rằng ý tứ đậm đà, hùng tráng mà sâu xa, lại không khiêm nhường vờ vĩnh, đúng là có chí trị quốc bình thiên hạ. Đặc biệt, văn phong như ẩn như hiện, có đấy mà lại không, không động đến cái gì mà lại cứ nhắc người ta phải nghĩ đến cái đó, huyền hoặc vô cùng. Vua Hiến Tông bảo thái sư: “Người này văn tài lai láng, nhưng chưa qua việc cụ thể”. Lời tâu lại: “Bẩm, nên bổ vào một chân sở tại cho quen việc hương xã, huyện nhậm đi. Mà phải luôn đổi chỗ, đi những thổ ngơi khác nhau mới vừa phong phú kiến văn, lại vừa tránh được thiên hướng phiêu phiêu phưởng phưởng rất có hại. Bây giờ nên cho một chức gì hèn hạ thôi, sau mươi năm mà không chìm đắm thì đúng là chân tài”.

Tháng ba năm sau, ăn Tết xong, Nhiên bái tạ cha mẹ, căn dặn các em rồi lên đường vào châu Sơn Đương mãi trong Hoan Ái, nhậm chân thư lại tại huyện đường. Nhiên không  việc nhỏ đấy là phí tài mình, rất chăm chỉ ghi chép, cần mẫn sưu tập cả những huyền tích, phong tục từng làng xã, gia phả các dòng họ, khiến quan phụ mẫu ưng ý lắm. Ngày nọ, tri huyện gặp vụ kiện khó: hai chi họ Nguyễn ở làng Bá Đàm đâm nhau lòi ruột, ai cũng nhận mình là chi trên. Cùng một gốc đấy nhưng bây giờ mỗi anh mỗi bàn thờ, hương hoa bề bề bên cạnh, ra đình cứ chiếu trên đòi ngồi, đâm nhau đổ máu. Mà chẳng biết lấy đâu căn cứ để xem xét. Vĩnh Nhiên bèn giở những ghi chép riêng, biết cách đấy ngoài trăm năm, cụ cao tổ Nguyễn nhiều vợ đông con, sau này có một chi li khai, lập bàn thờ riêng, viết lại gia sử. Chiếu theo biên khảo ấy thì phân ra chi nào dưới, chi nào trên rất dễ. Quan huyện cho người về Bá Đàm đọc gia phả, những hoành phi câu đối trong cả hai nhà thờ họ thì thấy lời Nhiên quá đúng, theo nhẽ ấy mà xử thì cả hai bên đều phải tâm phục. Ngài lại cao hứng, bảo Nhiên: “Thầy ngồi chân thư lại này phí tài, để ta biện lời nói với trên cho một chỗ khác”. Nhiên vâng dạ, ngày đêm lo việc phủ đường, đêm về chong đèn biên chép, khảo cứu các thư tịch đầy rẫy trong vùng. Việc nghiên cứu là một hứng thú chả bao giờ cạn.

Quá một năm ở Sơn Đương, Nhiên có trát đổi làm huyện lệnh Phác Hộ, một vùng cửa sông Cái. Chỗ ấy phù sa cuồn cuộn ra biển, dòng sông cứ bên lở bên bồi đổi hàng năm. Các vụ kiện của dân làng đôi bờ nhiều vô kể, vì bãi sông lúc thì nhập vào tả, lúc lại dời sang hữu ngạn. Vĩnh Nhiên bày cho hai làng cử người rời đồng ra giữa sông lập trại, hoa lợi hưởng chung. Sau này, trai gái hai bên lấy nhau, sinh thành đàn đống, hiềm thù chấm dứt. Thấy huyện lệnh được cả việc quan lẫn việc dân, quan tuần phủ bèn gả con gái yêu cho. Nhiên lấy được vợ sang nhưng băn khoăn, thưa với bố vợ: “Số con phải lênh đênh, trong mươi năm chưa đứng chỗ được, sợ là vợ con phải di chuyển vất vả”. Nhạc mẫu cười ha hả: “Biết thế là hiếu đễ, thơm thảo rồi. Còn chuyện gái theo chồng thì kể gì!”.

Hiến Tông là một vì vua anh minh, giữ kỉ cương, trọng hiền tài rất mực. Nhờ vậy ma dần dà giặc giã dẹp yên, dân chúng chỉ lo canh cửi cấy cày. Dù lụt bão mất mùa, dù đồng khô cháy hạn, lúc nào dân gian cũng một lòng tin tưởng vào người chăn dắt. Trên dưới đều chăm chỉ nên đất nước thịnh vượng, thanh thế dần dần vượt ra ngoài bờ cõi. Dăm bảy năm ấy cũng là thời gian Vĩnh Nhiên cùng vợ con chuyển hết từ huyện này sang phủ nọ. Chuyên cần, khiêm cẩn, ở đâu chàng cũng tròn việc quan, lại nhặt nhạnh được vốn kiến văn sung túc, trưng cất thành nhiều bộ sách quý. Chàng cả tiếng đến nỗi dù ở nơi sơn lâm cùng cốc, tết lễ nào cũng có người đến xin chữ, còn ngày thường phải chỉ giáo nhiều vô kể.

Bác phó cối ốm nặng, gọi Nhiên về bảo: “Con đã làm được nhiều việc cho đời, rồi sẽ đến lúc về Kinh ấm chỗ. Hành văn là nghiệp của con, nhưng nên nhớ nó rất gần chỗ khốn khó”. Nói rồi nhắm mắt xuôi tay.

Nỗi đau mất cha chưa nguôi thì Nhiên được gọi về Kinh nhậm chức tham tri bộ Lễ, chuyên biên chép lịch sử. Những việc hàng ngày trước mắt, những sự cách mấy trăm năm chàng đều vào sổ, ngày ngày cần cù như con ong. Những đánh giá phân loại của chàng có lẽ có tình, đích đáng, ai nấy đều cũng chịu. Đến nỗi nhà vua, một ngày thăm thư viện họ Phạm, đã  ban cho hai chữ “Biệt Nhỡn” treo vách.

Về kinh được hơn năm, nhân khuyết chân ở bộ Lễ, Nhiên được cất thẳng lên thượng thư. Ba mươi sáu tuổi, học rộng tài cao, nên đồng liêu không mấy kẻ thắc mắc, đều cùng gọi là Phạm Công. Công được chức trọng mà không mảy may huyênh hoang. Nhớ lời cha, chàng coi đó là nghiệp chứ không phải nguồn lộc. Nỗi buồn phiền duy nhất gặm nhấm chàng là muộn con, dẫu đã cùng phu nhân thuốc thang hết thày này sang thày khác.

                                              #

Một Trung thu sáng đẹp, vua Hiến Tông mở tiệc thưởng trăng ngoài ngự uyển cùng thái sư đầu triều. Ngài vừa vi hành bốn cõi, thấy đâu đâu cũng sung túc kiện khang, bao nhiêu hoan hỷ tuôn tràn. Rồi một chốc, mặt rồng thoáng đăm chiêu: “Muôn dân no đủ, lễ hội mở ra liền liền, hết Nguyên Tiêu, Xá tội vong nhân lại tết cơm mới. Có điều quy củ chưa được chỉnh đốn lắm. Làng nào có thần làng ấy, nhưng nước chưa có đấng chung để thờ tự. Phải có các thượng đẳng thần để ai ai đều trông vào, cả nước chung một niềm tin”.

- Tâu hoàng thượng, đấy là việc của bộ Lễ. – Thái sư kính cẩn tâu.

- Khanh mau tìm người, giao viết lại công tích những vị định chọn, tấu lên ta xem xét.

- Tâu hoàng thượng, thần đã nghĩ sự ấy từ lâu, thật vô cùng khó khăn. Định tội sai cho một người đã là có lỗi, mà viết công đức không đúng cho ai cũng tổn âm đức vô cùng. Việc này…

- Khanh cứ nói, nhà vua thúc giục.

- Phải tận tay thượng thư bộ Lễ tự làm.

- Trẫm cũng tin người ấy. Họ Phạm vô tư, chỉ biết chính đạo mà hành. Ngoài kiến văn vô cùng đầy đặn, thì đó là đức tính tối cần cho người dựng lên gương sáng cho cả bờ cõi trông vào, noi theo.

Nói rồi thảo ngay chỉ, truyền Phạm Vĩnh Nhiên thảo ra hệ thống thượng đẳng thần, đặng cả nước thờ tự.

Phạm Công về thư viện khảo các biên chép, đi lại những địa phương ngài đã biết, lục tung từng thần tích gia phả. Những làng dệt vải, những làng cầy cấy, những làng đục chạm, làm thợ ngoã, Công đều đi tận nơi. Các thành hoàng rất nhiều công tích: tỉ như bắc hành học Lỗ Ban đục gỗ chí chát, ra Hòn Gai buôn bán với thương nhân Chà Và, hoặc giả chỉ mang giỏ đi khắp nơi chuyên cần nhặt phân trâu đem về bón ruộng. Lại chẳng ít nham nhở dở hơi: có công đấy nhưng tham bát bỏ mâm, dựng nghiệp rồi mà còn xơi con thầy vợ bạn, thậm chí gièm pha, dìm đồng sự trong đắm chìm…

Bao nhiêu lao tâm, bao nhiêu đăm chiêu, so bì, dằn vặt.

Cuối cùng thì được hai vị để tâu lên, trước hết với thái sư.

Một là Minh Quang Đại vương ở Lao Xá, tỉnh Đông. Gốc tích làm ruộng, thần lực tráng kiện vô kể, ngài đã dẫn đầu trai tráng trong vùng đuổi giặc Ngô phía Bắc, bình nhà Hầu phương Nam. Thế binh hùng mạnh, đến nỗi chẳng còn quan binh triều nào dám sang cướp đất ta nữa. Ngài chỉ gươm xuống đâu thì đấy là bờ cõi. Cương vực vững mạnh, đất ta có dân ta, dân ta có vua ta, sánh ngang với lân bang, chẳng ai coi thường được.

Hai là Linh Thảo Sơn Thần, xuất thân làng Đoài, tổng Phù Vân, Sơn Nam Hạ, nơi đất lầy thụt, ngập úng, chẳng trồng cấy gì được. Gặp năm đói kém, trời bắt mất đứa con, ngài giận bỏ nhà đi lang thang, học được phép đắp đê trị thuỷ. Ngài trở về dạy lại dân hàng tổng, cả nghìn người đổ ra chắn triền sông Cái. Cánh đồng bớt ướt át, có thể gieo được hạt thóc xuống. Rồi ngài đến các tổng lân cận, hai bên tả hữu ngạn, đâu đâu cũng hô hào đắp đê, thau chua rửa mặn.

Cây lúa nước mọc lên, thóc gạo ùn ùn chất về kho. Sự ấy làm thần sông Cái nổi giận, dâng nước đục thủng một khúc đê. Linh Thảo bèn chỉ huy cả vạn người vác đất đá ném xuống, chỗ nào sạt đắp chỗ ấy, nước hết đường xông vào phá hỏng ruộng bờ. Thần sông phải nén giận, lui xuống. Nhưng nhớ đến quyền lực cũ, năm nào cũng dâng nước lên. Thì chỗ nào cũng gặp phải con đê kiên cường che chở cho làng mạc thanh bình thịnh vượng.

Ngài ấy sau lên núi, tôn xưng Sơn Thần, chỗ nào cũng lập bàn thờ bái vọng, lấy bát cơm mới mà dâng. Cả một vùng dân cư trồng cấy lúa nước, tạo lập nên lời ăn, tiếng nói, câu hát, nền văn hiến chẳng giống ai.

Minh Quang Đại Vương và Linh Thảo Sơn Thần, một người dựng xây nước, một người giữ lấy nước, giang sơn gấm vóc từ đấy. Thử hỏi còn ai xứng đáng hơn.

Ba là…

Bốn là…

Phạm Công cũng nghĩ đến vài bốn vị có công tích khác, nhưng thảy đều chẳng hoàn toàn, đề lên làm Thượng đẳng thần nó không tề chỉnh thế nào. Nghĩ vậy, bèn dâng biểu lên thái sư. Ra vào, nghe ngóng, phấp phỏng. Đợi.

Chưa được dăm hôm, đã có lệnh truyền. Thái sư mặt mũi xầm xì, cho thi lễ xong rồi hỏi sõng:

- Thầy soạn hết chưa?

- Bẩm, hạ quan mới làm được hai vị, chưa nghĩ thêm được ai. – Ngài thượng thư trả lời, rất áy náy về chữ “thầy”.

- Khi quân!

Tiếng thét của thái sư làm Phạm Công giật nẩy người, xuất hãn đầy mình. Bèn cúi đầu, chờ cơn thịnh nộ.

- Thầy có biết ai đẻ ra Ngài Ngự ta?

- Dạ, là Đức Đoan Tông.

- Thế ai đẻ ra Đức Đoan Tông?

- Là Thái Tổ khởi nghiệp.

- Làm sao mà thầy lại quên ơn Thái Tổ, không ghi vào hàng Thượng đẳng thần?

Quan thượng thư nhẹ cả người, từ tốn đáp:

- Bẩm, hạ quan có nghĩ đến chuyện ấy. Thái Tổ dẹp bỏ triều cũ thối nát, khởi nên nghiệp đế tới nay và cho mãi sau này. Đó là một công tích vĩ đại. Nhưng quả là có đôi tì vết. Một, là Đức Thái Tổ xuất thân hoạn lợn. Hai, là khi đã thành nghiệp, do nghi kị, Người xuống tay giết oan năm khai quốc công thần. Ba, là…

Thái sư chạy thẳng từ trên án xuống bịt miệng Phạm Công. Mặt mũi thất sắc, ngài nhìn quanh, thấy không có ai mới khẽ nhủ: “Không ai sáng láng như thầy. Không ai thậm ngu như thầy. Đây là việc vua truyền, làm sao thiếu được những bậc sinh ra mình rồng”.

- Bẩm, thiết nghĩ…

- Không được cãi. Nghĩ như thầy đã đáng chém ngang thân. May là thầy nộp bảng văn cho ta trước, chứ dâng thẳng lên hoàng thượng thì đã chu di tam tộc. Mà ta tiến cử ngươi, thử hỏi có tránh khỏi vạ lây…

Phạm Công tuy sợ hãi nhưng tấm tức, mặt hết đỏ dồn sang tái, cứ ngây ra mà chả biết bảo sao. Thái sư xem chừng đã xong chuyện, phẩy tay áo rộng loạt xoạt: “ Người chết rồi, phết phẩy vài nét thêm cho thơm tho mà cũng không biết đằng. Rõ là đổ hủ sinh!”. Rồi hầm hầm đi vào.

Phạm Công về dinh thượng thư, mặt tái dại như phải cảm, vợ càng hỏi càng ú ớ. Được ba hôm dở cười dở khóc thì vùng trở dậy, nửa đêm mài mực viết. Viết rằng “…”. Rồi lại khóc, lại nhăn nhó như táo bón rặn ỉa, cầm bút phết phẩy.

Quyển nộp lên. Thái sư xem những chỗ Phạm Công cho là “tì vết”, thấy sửa: Một, Thái Tổ thời hàn vi là người cần lao, làm nhiều nghề bình dân, nhờ vậy biết rất rõ phong tục bách tính. Hai, những người đã cùng ngài vun trồng nghiệp đế, đến lúc bình thời chẳng may bạo bệnh chết cả. Ba,…

Thái sư bảo đem vuông lụa và mươi đĩnh bạc cho Phạm Công, phán: “Thầy theo hướng này là đúng, nhưng hãy làm cho văn chương thơm nức lên. Bằng không thì lấy vuông lụa mà tự xử”.

Lại về trầy trật mài mực, rỏ thêm vào nghiên vài giọt nước thơm, rồi lấy hết sức bình sinh nhuận sắc.

Nộp. Duyệt. Trả lại. Nhuận sắc thêm.

Đến lần thứ ba thì vừa ý thái sư. Quyển văn được vua ưng chuẩn ngay, rằng chọn lựa chuẩn xác, hàm ý xúc tích, văn chương sang trọng, xứng với công tích các vị ấy. Một đạo dụ thảo ra, các đình làng, miếu mạo đều đặt bàn thờ mới có bài vị tam vị Thượng đẳng tối linh thần. Thờ riêng, ở trên cùng. Còn những ông thành hoàng cũ tuốt lượt sắp từ trung đẳng trở xuống.

Thảng hoặc có phe giáp bướng bỉnh giữ nguyên Thượng đẳng thần cũ, thì quan quân về đấm đá đạp, cho cạch mặt.

Trật tự thờ cúng xếp đặt xong, thượng thư bộ Lễ được phong tước hầu. Công có những trang trại ở Hưng Hoá, Hoan Diễn, được thu thuế khu chợ vải, khu thuốc nam ở Kinh Bắc, lộc ăn đời đời không hết. Mùa nào thức ấy, người nhà hương cam Canh, vải thiều, nhãn lồng, chim ngói, sâm cầm, đem so với ngự thiện chẳng kém mấy nỗi. Nhưng ngài tính khiêm nhường, hay gọi bọn sĩ tử lại cùng thù tạc. Chúng thấy Công thật đáng trọng, chỉ thỉnh thoảng hơi ngây ngây như mất hồn. Hỏi, chẳng thấy nói sao.

                                                       #

Đêm sau rằm tháng tám, Phạm Công dọn tiệc nhỏ ngoài vườn, đối ẩm với phu nhân.  Chốc nhát sương sa, phu nhân kêu lạnh, lui vào. Công nửa nằm nửa ngồi trên ghế đu bâng khuâng, cứ một câu thơ lại một hớp rượu, buồn vui lẫn lộn, rất xao xuyến mà chả hiểu vì sao. Bỗng có người đi vào, ăn vận lối nho sinh, mặt trắng sáng sủa, có sợi lông  màu xanh cỡ ngón tay trỏ trên mày trái. Người ấy thi lễ, rồi đứng yên. Công cũng hờ hững chỉ tay vào chén rượu rồi cứ tì tì một mình. Được một canh giờ, sương đã ướt vai, thấy nho sinh vẫn đứng, bèn hỏi:

- Người cần mảnh tú tài kì thi tới à?

- Thưa không.

- Hay muốn một chân ở nha tu thư? Ta chắc ngươi đã đỗ đạt…

- Thưa không.

- Thì nói đi.

- Nhưng chửa chắc bề trên đã đáp ứng, nên tôi băn khoăn.

- Đã nói gì mà chắc với lép.

-Tôi biết quan ngài chính trực, không giúp người để nhận lộc hèn hạ bao giờ. Hiềm vì chủ tôi thúc quá.

- Chủ ngươi là ai?

- Là Vân Vi trại chủ, ở phủ Sinh Đồng.

- A, cái người trông coi chợ vịt cách đây ba trăm năm chứ gì? – Phạm Công thốt lên.

- Thưa vâng. Chủ tôi muốn làm Thượng đẳng thần, can thế  nào cũng không được.

- Chủ ngươi gian trá lắm. Cả làng Vân Vi chuyên nghề mua vịt gầy, trước khi bán tọng bánh đúc cho đầy diều cho nặng thêm. Lại còn treo những đinh sắt, móc đồng vào quả cân, đổ thuỷ ngân vào cán cân. Bậy bạ thế, làm thành hoàng Vân Vi đã là quá đáng, sao dám sánh với các bậc dựng nước, giữ nước.

Nói rồi rũ áo đứng dậy, vào nhà ngủ ngon.

Đêm sau, Phạm Công có việc ở bộ Lại, khi về muộn người đã nẫu vì rượu. Phu nhân sai đầy tớ rửa mặt nước nóng, đổ nước gừng, bôi vôi rồi lui ra. Một lúc nho sinh tối qua lại đến, lần này bộ dạng nhăn nhúm, trên mặt thâm tím không còn sợi lông xanh dài. Thoạt thấy, Công mắng ngay: “Đã bảo rồi, mà chủ ngươi còn cố đấm. Láo thế là ta tước cái thành hoàng đấy”.

- Bẩm, tôi cũng không muốn lại phiền, nhưng bị mấy đấm mấy đạp, còn cắt cả lông mày bảo mạng.

Công định gọi người nhà đuổi đi thì nho sinh quỳ thụp xuống, thì thầm rất khẽ. Công lặng người, đổ mồ hôi hột lấm tấm, hết nóng chuyển sang lạnh rồi lại hầm hập như ngồi phải hoả lò. Một lát thì trầm tĩnh, hỏi:

- Chủ ngươi sao có quyền lực thế được?

- Bẩm, vì kiếp trước ngài lỡ tay tát người bán vịt điêu hộc máu mồm, nên kiếp này phải trả nợ vô sinh. Chỉ có chủ tôi là giải được cái hạn ấy.

- Ta không tin.

- Thế thì tiếc lắm.

Nho sinh dợm đi, Công giật lại: “Nhưng ta không thể làm việc ấy một mình. Bên trên có quan thái sư, mà ta không muốn đưa của đút, bẩn tay lắm”.

-Quan thái sư đã có chủ tôi lo. Ai mà chả thích bạc.

- Hoàng thượng biết thì ta bị chu di.

- Hoàng thượng lại càng dễ. Ngự trên cao, nói sao mà chả tin. Vả quan ngài gây dựng được uy tín rồi còn gì.

- Lại còn đồng liêu quyến thuộc, bịt sao được mắt những kẻ ấy.

- Chủ tôi liệu cả rồi. Bọn kẻ sĩ chỉ là đám thối mồm. Chỉ cần quan ngài, thái sư với Hoàng thượng đồng ý thì xong.

Nói rồi đi hẳn. Công quay vào trong, ngắm dáng nằm của phu nhân, vẫn thắt đáy lưng ong, tóc dài chấm gót mà sao cô quả quá. Hết đền phủ này đến miếu mạo nọ, kì sóc vọng, tết lễ nào nàng cũng ngồi cầu tự mà kết quả gì đâu. Ngắm mãi rồi thở dài thườn thượt, quay ra ngồi vào án thư, xắn tay áo lên mài mực.

Văn sách nộp lên thái sư, Phạm Công tay cứ run bắn lên, ấp úng chả ra sao. Bốc phét đến là trắng trợn, tâng Vân Vi trại chủ thành bậc phú hào mở mang nghề buôn, khiến một vùng giàu muôn ức muôn triệu. Lại còn xắn tay từ thiện xây những đình những chùa, trợ giúp kẻ khó, lúc nào trong nhà cũng nuôi một tổng ăn mày. Lạ thay, thái sư chả hỏi han gì, cứ nhận quyển rồi bảo về. Sau mấy đêm,Công phải bảo vợ nhổ tóc trắng trên đầu cho vợi.

Rồi một đạo dụ ban ra, sắc phong Vân Vi trại chủ làm Thượng đẳng linh thần, sánh cùng Thái Tổ Hoàng đế, Linh Thảo Sơn thần và Minh Quang Đại vương. Bộ Công, bộ Hộ, bộ Hình, nhất là bộ Lễ, bộ Học đều giật mình. Nhưng ai dám cãi vua?

Phạm Công đến nhiệm sở, đi lại các nơi bị lạnh nhạt, chế giễu nhiều hơn. Nhưng ngài không chấp. Sự bẽ bàng cũng chẳng bằng niềm vui riêng: phu nhân đã tắt tháng, nôn khan, lông mày dựng ngược. Cái núm vú của nàng trước đỏ tươi, rất đẹp, dần dần trở sang thâm đen, mọc gai gạo. Ngắm nàng mình mẩy tròn trịa, Công khoan khoái, thấy những tiếng tăm, danh vọng chẳng là gì với hạnh phúc nhỏ nhoi này.

Một đêm sau cái đêm trăng muộn nọ, phu nhân sinh con trai, đặt Nguyệt Phùng. Đứa bé càng lớn càng khôi ngô, mới năm tuổi đã thuộc khối  mặt chữ. Công yêu Nguyệt Phùng vô cùng, ra sảnh đường thì chớ, về nhà là nâng niu đùa giỡn, đi đâu cũng cho theo cùng.

“Cái nợ của cha đây, cái nợ của cha đây”. Nghe chồng nựng con thế, phu nhân thường nặng mặt, phỉ phui cái mồm. Nhưng mặc lòng, Công không thể âu yếm con theo cách khác.

                                                       #

Ngày tháng thoi đưa, thấm thoắt Nguyệt Phùng đã lên năm. Lời trẻ bi bô mà bịn rịn, Phạm Công đi đâu cũng nhớ con. Ngài không thể ngờ mình lại yếu đuối, tầm thường làm vậy. Vẫn chăm chỉ, nghiêm cẩn trong công việc, ngài dần lấy lại sự kính trọng của đồng liêu. Nhưng buông đèn sách ra, ngài gắn chặt lấy con, bị lệ thuộc vào nó, buồn thấy cứt nó xanh, khi chuyển sang vàng, ngửi thấy thối là đã mừng rỡ lắm. Đã có lúc ngài thấy giấc mộng kinh bang tế thế thuở nào thật cỏn con so với niềm vui thế tục này. Chà, Nguyệt Phùng, cái nợ của cha, sao con ra đời oái oăm làm vậy. Nhưng dẫu thế nào, cha chẳng thấy ăn năn cắn rứt.

Ngày Nguyệt Phùng tròn sáu tuổi, Phạm Công mở tiệc lớn khoản đãi từ viên thư lại tầm thường nhất đến bà con xa xôi. Quà cáp chả mấy hậu hĩ nhưng toàn những gương mặt chất phác, những chúc mừng đôn hậu. Ròng rã những bữa đạm bạc, những buổi ê hề, đến đêm thứ năm, sau tuần rượu cuối, ngài đương lơ mơ thì có người dựng giường dậy, hất cho ngã sóng soài. Trước mặt, một cái bóng trắng cầm cành dâu quất túi bụi. Ngài che mặt mắng rằng “Yêu ma cút ngay! Ta bình sinh chưa biết sợ là gì!”. Cành dâu quất càng khoẻ, yêu nữ áo trắng mắm môi mắm lợi trút căm hờn: “Sao ngươi chẳng nghĩ đến ta? Sao ngươi chẳng nghĩ đến ta?”. Ngài đã lấy lại bình tĩnh, từ tốn nhủ: “Con giặc cái này đành hanh quá, làm sao mà cho ngươi cái gì được”. Yêu nữ đáp đanh nọc: “Không biết đến ta thì liệu hồn!”, rồi bỏ đi. Phạm Công chỉ hơi lấy làm lạ, ngẫm nghĩ một tí rồi ngủ tiếp.

Qua ngày sau, người nhà báo trâu bò ở những trại ấp của ngài, từ Hoan Diễn lên thượng du đều bị lở móng chết hàng loạt. Ngày sau nữa, mấy dãy chợ bên Kinh Bắc cháy rụi, chẳng thu được một xu thuế. Rồi dịch bệnh nổi lên, giếng ăn sau nhà có xác chết, người ăn kẻ ở tâm phúc lễnh loãng việc nhà, đêm đêm lên cơn mộng du, cứ trèo lên mái nhà tru như đực cái gọi nhau. Chỉ trong mấy hôm, tài sản ức triệu của Công vợi hẳn. Phu nhân hoảng hốt. Công vẫn thản nhiên, biết rằng thế nào yêu nữ cũng đến.

- Thì muốn gì, đấy cứ nói cho đây biết chứ!

Thấy Phạm Công bỡn cợt, yêu nữ tức vằn mắt. “Ta chỉ nói khi ngươi đã biết quyền lực của ta”. “Thì cũng đến khánh kiệt nhà cửa là cùng. Ta đâu có sợ. Ta khinh ghét quyền lực của mi”. Nghe Công nói cứng, yêu nữ cười nhạt, bỏ đi ngay.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi mà quá khốc liệt. Sáng hôm sau, Nguyệt Phùng đang tươi rói bỗng hoá ra tàu lá hơ trên lửa hồng. Công mời danh y phục thuốc, uống được mươi thang thì hồi sức trở lại, nhưng đường ăn nói đã tắt hẳn. Thấy con hết bi bô mà chỉ u ơ, vợ chồng héo hon. “Chẳng biết kiếp trước nợ nần gì mà khốn nạn thế”, phu nhân bảo. Công lặng ngắt như tờ, đêm nào cũng thức đợi.

Sắp gục vì kiệt sức thì người áo trắng ấy quay lại, xưng danh là ma cái ở tổng Bình Dương, vẫn thường tới các đoạn đèo hiểm trở từ Nam chí Bắc, giả mỹ nhân dụ dỗ rồi xô khách qua đường xuống vực. Người ấy độc ác và quỷ quyệt khôn lường, chỉ lấy độc hại mà chi phối chúng sinh, làm người ta khiếp sợ mà thần phục, nay muốn vào bậc Thượng đẳng thần.

Từng năm lăn lộn khắp nhân gian, quá biết những thủ đoạn của ma cái, Phạm Công nhất mực vâng dạ. Ngày sau, ngài thảo quyển thư, dùng những lời ngợi ca tuyệt vời nhất bồi đắp công tích bà ta thành núi cao biển sâu, lại còn đặt mĩ tự Bình Dương thần nữ.  Như lần trước, thái sư đồng ý tăm tắp với tờ trình. Rồi đức Hiến Tông chuẩn y, sắc phong vị Thượng đẳng thần thứ năm.

Bàn thờ dân gian lại có thêm một bài vị. Ngày giỗ tế, tết lễ, ai nấy kính cẩn hương khói, ngợi ca công đức cả năm vị theo thần thái những bản sắc phong triều đình ban ra. Những lời cầu khẩn giống nhau, những thành tâm bằng nhau, nhất mực tin tưởng nhẽ vua truyền.

Chỉ có điều ở bộ Lễ, đám liêu thuộc không còn dịp dòm ngó, mỉa mai Phạm Công nữa. Ngài đã cáo quan trở lại nghề đóng cối gia truyền, âm thầm như một nông phu. Hàng tháng trời ngài xa gia đình, đung đưa gánh đồ nghề trên vai, nay làng này mai tổng khác. Trở về nhà, hễ thấy thằng con câm cầm cái bút, thì giằng lấy bẻ vụn, vùi luôn xuống đất.

                                                                          T.C

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *