Tác phẩm chọn lọc

3/4
5:01 PM 2017

KỶ NIỆM 60 NĂM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM: NHỮNG ÔNG THẦY DẠY NGHỀ TRONG LÀNG VĂN

Trần Quốc Toàn-Những người viết văn học nghề như thế nào? Vào trường Quảng Bá như Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Trung Trung Đỉnh…trường Nguyễn Du như Văn Chinh, Thu Nguyệt, Nguyễn Khắc Thạch… hay cha truyên con nối như Chế Lan Viên – Phan Thị Vàng Anh, Trúc Chi – Khánh Chi, Hữu Mai – Hữu Việt, Bình Ca, hay chồng khoác tay vợ cùng bước như Phạm Khải - Lê Hồng Nguyên, Sương Nguyệt Minh - Vũ Minh Nguyệt hay anh dắt tay em như Trần Nhuận Minh – Trần Đăng Khoa?

                                                      Nhà văn, Trần Quốc Toàn

1.Những người viết văn học nghề như thế nào? Khi còn là phóng viên một tờ báo thuộc ngành giáo dục, tôi từng hỏi nhà văn Nguyễn Khải câu này, hỏi trong quán cà phê ông mở ngày nhà mình, gần một doanh trại bộ đội hải quân, bên quận 4 TP.Hồ Chí Minh. Trong câu trả lời, Nguyễn Khải, đưa ra cả một danh sách các ông thầy. Ông nói: “Tôi đã ngồi liền một ngày nghe và ghi những điều nhà văn Kim Lân dạy mình về thú chơi cây cảnh. Chẳng giấu gì, cứ mỗi khi thấy cạn chữ tôi lại lấy Nguyễn Tuân ra đọc. Tôi phục nhất Chùa Đàn.  Cụ  Nguyễn dạy  mình biết nâng cái nghề viết lên thành một tôn giáo, câu chữ là thánh thần chứ không phải tay sai để nhà văn sai vặt. Có chữ chưa đến lượt mình dùng, phải chờ lúc đủ tài đức. Ông Tô Hoài lại là bài học một đời tận tụy với nghề, ngày nào cũng phải đọc, phải viết. Những người viết sau mình cũng có thể là thầy mình. Mình phải viết  sao đừng  để quá  thua kém Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh. Tôi còn mang giấy bút vào học trong thực tế. Tôi ra đảo, vào trận, làm quen với giáo dân, hỏi chuyện các phạm nhân.. . những  việc ấy chính là học cuộc  sống mà  làm văn chương. Nhà văn giỏi đến  đâu thì những điều anh ta tưởng tượng ra vẫn rất nghèo nàn so với cuộc sống. Có điều kiện là tôi đi thực tế. Cho đến bây giờ lên lão rồi vẫn mơ những chuyến đi. Về xã tôi có  Tầm nhìn xa, tới nông trường thì viết được Mùa lạc. Ngay  khi ghi chép chuyện nhà mình, ghi chép ấy cũng có thể thành tiểu thuyết, đó là trường hợp tôi  viết Gặp gỡ cuối năm”.

Để nêu gương cầu thị trong việc học nghề văn, Nguyễn Khải còn kể: “Tôi vào bộ đội khi còn rất trẻ. Mặc áo lính mà học viết văn. Mùa đông năm ấy đơn vị cử tôi đi thực tế cùng nhà văn  Nguyễn Huy Tưởng một người đã rất nổi tiếng, lại là thượng cấp với mình. Sướng quá, vừa gặp tôi đã đưa cái kí mới viết nhờ đọc rồi  quẩy gánh gạo mắm theo liền”. Về những ngày truyền  nghề này, chính nhà văn Nguyễn Huy Tường, kể lại trong một bài báo : “Nguyễn Khải, hiền lành, thành khẩn đưa Nam Cao xem và phê bình mấy truyện ngắn vừa viết […] Cùng đi đường ra Nho Quan với tôi, Lê Mai loắt choắt, Nguyễn Khải cao gầy, áo hai anh nhiều chỗ vá. Chợ đẹp như sao sa, hai anh đi vào trong bóng tối. Nguyễn Khải nói: “Tôi sẽ viết nhiều mẩu căm thù và anh dũng, gửi lên Trung ương”. Trước mặt các anh, không xa mấy, đã là đất địch, thế giới của càn quét, của bóc lột, của tàn sát, của ngục tù. Chúng ta hứa với nhau công phá những ngục tù ấy, đem trở lại đấy tự do và tình yêu”. (Văn Nghệ số 33, 1-11-1951). Nguyễn Khải có kể thêm với tôi về đợt học nghề mùa đông năm ấy, tôi có ghi trong nhật kí học nghề của mình: “Lúc đi thì mình dẫn đường, lúc nghỉ mình hỏi nhà dân ngủ đậu, kiếm củi nấu cơm. Lại còn phải đun nước để nhà văn ngâm chân! Ngâm rồi,  ăn rồi người ấy thắp nến đọc sách. Cái kí gửi xin ý kiến, cả tuần sau,  trước khi chia tay mới phán cho một vài câu”.

2. Nhà giáo ưu tú, nhà văn Đặng Hiển, lại có cách dạy nghề văn theo nhóm. Năm 1960, Báo Người Giáo Viên Nhân Dân tổ chứccuộc thi viết văn thơ về đề tài thầy giáo và nhà trường. Thầy Đặng Hiển, đang dạy học tại cấp ba Vân Đình, Hà Tây (nay là Hà Nội) đã phát động cuộc thi hưởng ứng ở ngay trường mình dạy, chọn thơ hay của học trò và của chính thầy gửi tham gia. Kết qủa là thầy giáo Đặng Hiển và trò Đỗ Quyết học sinh lớp 9 cùng được giải khuyến khích,  đươc mời về Báo lĩnh giải. Và nhóm 2 người hình thành từ đây. Thầy Hiển đạp xe đèo trò Đỗ Quyết về Hà Nội lĩnh thưởng. Trong bài tổng kết, ban tổ chức có nêu chuyện này như một sự kiện của cuộc thi: một trường hai tân khoa, thày mới 21 còn trò 16 tuổi đều trẻ. Cử tọa vỗ tay đề nghị hai người đứng lên cho xem mặt. Ban tổ chức lại còn bất ngờ mời trò Đỗ Quyết phát biểu với tư cách là người dự thi nhỏ tuổi nhất.

Tới năm 2010 trong cuộc thi thơ “Thăng Long – Hà Nội”, hai thầy trò lại cùng xuống đường đua trong cuộc việt dã văn chương này, và cả hai cùng tiến bộ hơn cuộc thi trước, cả hai lại cùng có “huân chương” cho dù không cùng màu, thầy giải tư, còn trò, chắc là nhờ thầy truyền sức bút mà có được giải ba!

Cuộc đua đầy chất thơ hướng về vạch đích chân thiện mỹ của đôi bút thầy trò chưa dứt. Xin nghe thầy Đặng Hiển kể kĩ lưỡng hơn  câu chuyện thầy trò mình dạy nghề, học nghề:

Do hoàn cảnh gia đình, Quyết đã không học hết đại học phải lao vào kiếm sống. Nhưng em vẫn sáng tác với bút danh Đàm Khánh Phương. Em đã tặng tôi vài tập thơ và tôi đã viết bài giới thiệu thơ em: “Tôi là người thầy hạnh phúc / có những học trò hơn mình”. Mừng nhất là năm 2012, tôi đã được dự lễ kết nạp học trò Quyết - nhà thơ Đàm Khánh Phương của tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam. Tháng 6/2015, thày trò tôi lại gặp nhau ở Đại hội Hội Nhà văn khu vực Hà Nội. Tôi và Quyết - Đàm Khánh Phương đều trúng đại biểu, lại cùng có mặt ở đại hội đại biểu hội Nhà Văn Việt Nam khóa IX nhiệm kì 2015 – 2020 diễn ra trong các ngày đầu tháng 8-2015 tại Hà Nội.

3. Người viết bài này chưa một lần được dự đại hội nhà văn trẻ, chưa được học lớp bồi dưỡng người viết văn trẻ của Hội nhà văn (lớp Quảng Bá), nhưng cứ viết và cho tới năm gần bốn chục tuổi, đang dậy học dưới Đồng Tháp thì cũng được kết nạp vào Hội và trở thành “nhà văn  có thẻ” .  Chưa một lần như vậy nhưng sự truyền nghề trực tiếp từ các nhà văn bậc thầy, nhà văn đàn anh thì nhận được rất nhiều. Hồi  còn dạy  học ở trường cấp ba Sơn Tây ( ngôi trường tính tới nay có 6 nhà văn là hội viên Hội Nhà văn VN đã từng học hoặc dạy tại đây), viết được bài thơ mới, tôi lại chạy tới nhà kịch tác gia Nguyễn Khắc Dực ( cháu họ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, cha nhà thơ đoản mệnh Nguyễn Lương Ngọc) để đọc, nghe nhận xét và uống ké một tuần trà Mán hay chén rượu ba kích đào trên Tản Viên Sơn. Có khi hứng còn  đạp xe xuống Hà Đông làm việc này với nhà thơ Trần Lê Văn. Những ngày ấy, đạp xe chở nhà thơ Hoàng Tố Nguyên để đi ké những chuyến thực tế văn chương cùng với ông ( vừa đi vừa bắt cóc, rồi thực hành ẩm thực kiểu Nam Bộ) thì thường xuyên lắm. Nhờ dạy học ở  xứ Đoài,  tôi có  dịp "  thọ giáo" tác giả  Đôi mắt người Sơn Tây, đô con nhưng hiền khô - nhà  thơ Quang  Dũng.  (Gia đình ông sơ tán về vùng này hồi Mỹ làm chiến tranh phá hoại miền Bắc). Được Quang Dũng biết, cho nên lần đầu có thơ in trong sách của NXB Văn Học, lên lĩnh nhuận bút, chưa có chứng minh nhân dân,  tôi được  ông "bảo lãnh" để có thể kí sổ, bên chữ kí các nhà văn tên tuổi! Trong cách nhìn của tôi, việc học nghề văn mang tới nhiều kết quả chính là cách học truyền nghề như thế. Cho đến khi mình có chút nghề thì dù mới ngoài hai mươi tuổi, việc truyền nghề cũng được đến tay. Còn nhớ, vào những năm 70 của thế kỉ trước, cứ hè tới là Bế Kiến Quốc (cán bộ Sở Văn Hóa) mở các trại viết cho thiếu nhi và tôi cũng được dạy ké vào đấy. Nhà thơ họa sĩ Nguyễn Lương Ngọc, một trong những người tiên phong đổi mơi thơ Việt, đã bắt đầu vẽ và làm thơ từ một trại như thế.  Bạn  học cùng  trường viết văn Nguyễn Du với Ngọc là nhà thơ Thu Nguyệt lại có với chúng  tôi một kỉ niệm học nghề khác. Tại  Đồng Tháp  trong dịp sở Văn Hóa, mời các nhà văn từ Hội Nhà văn Việt Nam xuống cùng thập nhập thực tế, tìm đề tài  với anh em viết văn cấp tỉnh, Thu Nguyệt, Hoàng Kim, Thành Vạn, Bế Kiến Quốc, Nguyễn  Duy và  tôi ngồi trong một chiếc xe zeep “cựu binh” Mỹ, chạy hết tốc lực. Xe đang  chạy chữ  nhất bỗng chuyển sang chữ chi và hất tất cả xuống đồng nước nổi Lấp Vò. Lóp ngóp bò được dậy, Nguyễn Duy ứng khẩu ngay, dù ai  buôn đâu  bán đâu,  mười một tháng bảy giỗ nhau thì về! Nếu không có chuyến xe học nghề văn “lóp ngóp” như thế, nếu không có dịp, vừa đi vừa học với Nguyễn Duy, Bế Kiến Quốc như thế, chắc gì Đồng Tháp đã có những nhà văn, nhà thơ Trần Quốc Toàn, Thu Nguyện ngày ấy, rồi Thai Sắc, Nguyễn Hữu Nhân bây giờ!

   Cũng như bất cứ nghề nghiệp nào khác, học thầy không tày học bạn. Trong cách học này, riêng tôi học được ở bạn văn Bế Kiến Quốc rất nhiều. Năm 1970, Quốc là cán bộ Phòng sáng tác sở Văn Hóa Hà Tây, tôi là một giáo viên dạy trường huyện, Bất Bạt rồi Sơn Tây. Biết tôi có viết văn, Quốc tìm đến động viên một cây bút nghiệp dư. Động viên nhiệt tình đến mức chép thơ tôi gửi dự thi báo Văn nghệ, vì chữ tôi quá lem nhem. Nhờ chữ Quốc mà tôi được giải. Bản thảo đầu tiên tôi trình làng đã qua tay Quốc như thế. Quốc thành bạn. Dù Quốc tới cơ sở (Sơn Tây) với tôi hay tôi lên “trung ương” (Hà Đông) với Quốc thì chúng tôi đều viết chung một một bàn, ngủ chung một giường đơn phòng tập thể.

   Rồi hai bạn văn chúng tôi cùng thành học trò của một bạn văn khác. Đất nước thống nhất tôi vô Nam dạy học, năm 1984 Quốc vào đây, chúng tôi cùng đi thực tế với nhau ở vùng đất mới này như đã nói trên kia. Ở Cao Lãnh, Quốc mê vọng cổ do tôi soạn lời mà học rồi tập viết ca cổ với nghệ danh Nguyễn Chơn Thiệt. Trong chuyện “sáu câu” có dấu chấm là tiếng “xề” này, tôi là Nguyễn Chơn Chất, chúng tôi cùng học ông thầy đờn Nguyễn Chơn Thuần, quê Lấp Vò. Bài Điệu lý qua cầu Quốc viết (và đã thành ca từ trong một bài hát của nhạc sĩ Trần Tiến mỗi khi buồn muốn khóc, mình anh ca điệu lí qua cầu là Quốc việt trong những ngày cùng tôi học làm thơ theo cảm hứng dân ca này).

   Cho tới hôm nay tôi vẫn học các bạn văn bằng cách mỗi số bán nguyện san Tài Hoa Trẻ, bình thật kĩ lưỡng, một truyện ngắn mà các bạn từ khắp nước gửi tới. Còn việc dạy thì mỗi tuần một lần tôi tới câu lạc bộ Bút Mực Tím Q.5 TP.HCM, cùng viết truyện làm thơ với các bạn quàng khăn đỏ.

                                                                                 T.Q.T

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *