Ống kính phê bình

3/4
5:22 PM 2017

KỶ NIỆM 60 NĂM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM: NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH-TRÁI TIM YÊU THƯƠNG TRỌN VẸN VÀ ĐAU ĐỚN

Trần Hoàng Thiên Kim-Nếu được chọn một nữ sĩ của trái tim yêu thương trọn vẹn và đau đớn, của những nỗi khát khao hạnh phúc và những dự cảm không lành trong tình yêu... nhiều người chọn Xuân Quỳnh.

                                                Vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh

 Trong suốt một đời làm thơ ngắn ngủi của mình, trong những tháng năm yêu và sống trọn vẹn cuộc đời của mình, bà đã có những áng thi ca bất tử về khát vọng yêu và sống: “Em trở về đúng nghĩa trái tim/ Biết làm sống những hồng cầu đã chết/ Biết lấy lại những gì đã mất/ Biết rút gần khoảng cách của yêu tin.../ Em trở về đúng nghĩa trái tim em/ Là máu thịt đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi...”

 

Nữ sĩ Xuân Quỳnh sinh năm 1942 tại làng La Khê (Hà Tây cũ). Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Viena (Áo). Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam. Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III. Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ. Từ năm 1978 đến lúc mất, Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới. Nữ sĩ Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, tỉnh Hải Dương cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.

Tôi có dịp gặp anh Lưu Tuấn Anh, người con trai duy nhất của nữ sĩ Xuân Quỳnh và người chồng đầu tiên, nghệ sĩ violin Lưu Tuấn. Nói về mẹ, trong ký ức của anh Lưu Tuấn Anh, đầy ắp những kỷ niệm: “Những gì thuộc về mẹ luôn còn trong ký ức của tôi. Từ dáng hình, nụ cười, giọng nói, cách dạy dỗ, bảo ban, chăm sóc. Mỗi lần nhắc đến mẹ tôi thường không cầm được nước mắt. Tôi buồn và nhớ mẹ nhiều. Bà là một người phụ nữ luôn nhận phần hy sinh, thiệt thòi về mình. Con cái, đối với bà là thứ quan trọng nhất trên đời này và bà luôn khiến chúng tôi vui vẻ, yêu thương nhau. Tôi, Lưu Minh Vũ và Lưu Quỳnh Thơ (tên ở nhà là Mí) luôn coi nhau là anh em một nhà. Tấm lòng hiền từ, nhân ái của mẹ đã khiến những thằng con trai nghịch ngợm như chúng tôi, quậy phá như chúng tôi trở thành những đứa con ngoan, tử tế, biết sống vì người khác. Nhiều người vẫn thường nghĩ rằng những nữ thi sĩ luôn lãng mạn, bay bổng và chính vì thế, trách nhiệm làm mẹ, làm vợ đôi khi bị sao nhãng… thì ngược lại, mẹ tôi là một người hài hước và yêu thương con vô bờ bến.

Anh Lưu Tuấn Anh, mỗi khi nói về mẹ mình, thường không nhiều lời. Đối với anh, mẹ luôn là một mẫu hình lý tưởng. Anh vẫn còn giữ nguyên vẹn gia tài của mẹ dành cho mình, đó là một cuốn nhật ký viết tay giấy đã úa màu theo thời gian, năm tháng. Anh chia sẻ: “Cuốn nhật ký của mẹ tôi giữ gìn như một báu vật. Mẹ tôi là người sống thế nào thì viết thế ấy, giản dị lắm. Mẹ viết về tôi thì cũng kể những chuyện về tôi ngày bé thế nào, ăn ngủ, ốm đau ra sao, mẹ lo lắng cho tôi như thế nào… Rất nhiều chỗ viết về tôi với tình cảm của người mẹ đắm đuối vì con. Nói thật là tôi không đủ dũng cảm để đọc hết vì đọc đến đâu lại buồn thương mẹ đến đấy. Còn thơ thì mẹ tôi viết cho cả 3 con gồm tôi, Minh Vũ và Quỳnh Thơ chứ không riêng cho mình tôi đâu. Tôi là con cả nên được nhắc tới nhiều hơn vì lúc tôi ra đời năm 1966 tới năm tôi 7 tuổi là năm 1972 thì miền Bắc đã bị Mỹ ném bom 2 lần khiến tôi và mẹ phải đi sơ tán. Nhiều kỷ niệm mẹ con nảy sinh trong giai đoạn này. Bài “Tuổi thơ con” viết năm 1969 chẳng hạn là nói về tôi mặc dù không nêu tên. Bài thơ mở đầu với 2 câu “Tuổi thơ con có những gì? Có con cười với mắt tre trong hầm”. Năm 1972 là năm mẹ tôi viết bài thơ “Mẹ và con” tặng tôi. Đây là bài thơ tôi yêu thích vì nó gắn với tuổi thơ tôi với thời bom đạn của đất nước. Giữa cái dữ dội của chiến tranh là tình cảm dịu dàng vô bờ bến người mẹ dành cho con. Bài thơ kết với câu “Ừ của con nhiều quá. Nhưng mẹ lại nhiều hơn. Vì tất cả của con. Mà con là của mẹ”.

Trong cuộc sống đời thường, nữ sinh Xuân Quỳnh là một người đầy trách nhiệm, đối với thạc sĩ Lưu Tuấn Anh, dù bố mẹ anh chia tay khi anh còn quá bé, nhưng chưa bao giờ anh trách mẹ, cũng chẳng bao giờ hỏi bà về câu chuyện ấy. Bởi vì anh quá hiểu mẹ, hiểu bố anh. Hai người tính cách không hợp nhau thì chia tay nhau. Còn hơn, cứ cố ở với nhau mà tạo nên những ấn tượng xấu. Điều quan trọng nhất là sau khi họ chia tay, họ vẫn giữ được một mối quan hệ rất tốt. “Mẹ tôi và bác gái tôi, Đông Mai luôn nỗ lực để đi tìm cho bố tôi một người vợ. Còn bố tôi thì yêu em Lưu Quỳnh Thơ có khi còn hơn cả yêu tôi. Bố tôi suốt ngày sửa dây đàn cho em ấy. Ngày em ấy mất, bố tôi khóc ròng mấy ngày liền. Dù bố mẹ tôi chia tay nhưng chưa một ngày nào mẹ tôi để tôi cảm thấy mình bị thiệt thòi tình cảm. Chú Vũ là người sống rất có trách nhiệm với gia đình. Hồi mẹ tôi chưa sinh em Mí, thỉnh thoảng khi lĩnh được nhuận bút, chú ấy, mẹ tôi, tôi và Minh Vũ đạp xe đi chơi dã ngoại. Chúng tôi là trẻ con, cứ được đi chơi là thích lắm. Tôi cũng thích thơ của Lưu Quang Vũ, đặc biệt là hai bài “Tiếng hát ấy vẫn còn dang dở” và bài “Mây trắng của đời tôi”. Thơ chú ấy đầy chất triết lý, sâu sắc”.

Không chỉ đối với các con, mà đối với các bạn văn, những người còn lại vẫn nói về nhà thơ Xuân Quỳnh với rất nhiều tình cảm. Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn chia sẻ: “Quỳnh có đôi mắt đen láy trong sáng và cái miệng tươi tắn. Mỗi lần gặp Quỳnh, nếu không phải là chuyện tâm tình thì bao giờ chúng tôi cũng tha hồ mà cười vì Quỳnh rất hóm hỉnh và sắc sảo”. Với nhà thơ Ý Nhi, một người bạn thân thiết của nữ sĩ Xuân Quỳnh, cũng đã khẳng định: “Quỳnh thương con. Thương cả ba đứa. Nhưng có lẽ Quỳnh ái ngại cho Tuấn Anh hơn cả. Nhà Quỳnh rất chật. Quần áo, sách vở, tranh ảnh… bày hết cả trong gian phòng khoảng 10 mét vuông. Thế nhưng khi Vũ đã có nhiều vở diễn, Quỳnh đã có đồng ra đồng vào, tôi hỏi sao không tìm chỗ khác cho rộng rãi hơn, Quỳnh bảo, ở quanh quẩn để còn chăm cho Tuấn Anh (Tuấn Anh ở với bố Tuấn trong một căn phòng khác, cũng tại 96 phố Huế). Có hôm tôi gặp Quỳnh đến cơ quan sớm, Quỳnh bảo có hẹn với bà cụ anh Tuấn. Khi tôi hỏi có việc gì, Quỳnh bảo bàn với cụ tìm cho anh Tuấn một đám tử tế để anh ấy vui mà Tuấn Anh cũng được nhờ. Những bài thơ Quỳnh viết tặng cho các con không chỉ biểu lộ tình yêu của người mẹ mà còn có một giá trị văn học độc đáo (ở ta, nhiều người làm thơ thiếu nhi, hoặc tạt qua hoặc dành tất cả thời gian, tâm sức cho công việc này, trong đó có tôi, nhưng có được những bài thơ có giá trị văn chương thực sự thì không nhiều). Có cảm giác, ở Quỳnh, bên cạnh người phụ nữ đa đoan, say đắm, day dứt là đứa trẻ thơ trong trẻo, thông minh, tinh nghịch. Hay, cũng có thể nói như Thanh Tâm Tuyền: “Tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ/ Trong sạch như một lần sự thật”. Không phải ai cũng có thể “sống lại” như vậy. Không phải ai cũng có thể lưu giữ tâm hồn trẻ thơ như vậy. Con yêu mẹ, Mùa xuân mừng con thêm một tuổi, Cắt nghĩa, Con chẳng biết được đâu, Bầu trời trong quả trứng, Chuyện cổ tích về loài người… là một giá trị trong khối giá trị lớn của thơ Xuân Quỳnh. Nhờ tình yêu thương của mẹ Quỳnh mà bọn trẻ rất thân thiện, yêu quý nhau. Quỳnh là người mẹ tuyệt vời. Quỳnh được sinh ra để làm một người yêu, để làm một người mẹ”.

Tôi thích nhiều hình ảnh trong thơ của nữ sĩ Xuân Quỳnh, nhưng hình ảnh bàn tay khiến tôi luôn bị ám ảnh. Bà viết những câu thơ tự họa đầy hóm hỉnh: “Tôi giống các cô và lại khác các cô/ Trán tôi dô ra bướng bỉnh hơn, bàn tay thô lại còn vụng nữa/ Vụng đến nỗi không chỉ mó đến đâu là đổ vỡ/ Mà khi nói chuyện với ai, tôi thấy tay thừa không biết giấu vào đâu”. Sau này, khi gặp thạc sĩ Lưu Tuấn Anh được anh chia sẻ, thì càng hiểu và quý trọng hơn tâm hồn thơ Xuân Quỳnh: “Mẹ tôi gần như không có thời gian để nghỉ ngơi. Có lần tôi đi học về, thấy mẹ đang xách nước từ tầng 1 lên tầng 3, đến giữa chừng phải dừng lại ở cầu thang thở vì mệt. Tôi đã giành lấy mà xách đỡ cho mẹ. Nhưng tính mẹ thế, thương con và dành thời gian cho con học nên một mình mẹ làm hết. Tay mẹ chai đi vì xách nước”.

Bởi vậy mà mỗi lần đọc bài thơ “Bàn tay em” của bà, trong tôi vẫn hiện lên hình ảnh người phụ nữ đầy hóm hỉnh ấy và còn đau nhói sự trĩu nặng của lòng yêu: “Bàn tay em ngón chẳng thon dàiVệt chai cũ, đường gân xanh vất vả”… Nhưng bàn tay ấy: “Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ/ Trời mưa lạnh tay em khép cửa/ Em phơi mền và vá áo cho anh/ Tay cắm hoa tay để treo tranh/ Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc/ Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc/ Tay em dừng trên vầng trán lo âu/ Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau/ Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả”...

 Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *