Ống kính phê bình

18/12
9:13 AM 2016

ĐẤT THIÊNG-BÚT KÝ TẠ VĂN LUÂN

Trên đường từ thị xã Sơn Tây về đến dốc Văn Miếu (Văn Miếu xứ Đoài) đã nhận ra cây nhãn này vượt lên trên các cây khác trong vùng. Năm 1947-1948 giặc Pháp tấn công lên Sơn Tây, du kích xã Đường Lâm lập chòi canh trên đỉnh ngọn cây.

                                                      Ảnh tư liệu

 Miếu Đông Thịnh là một ngôi miếu cổ toạ lạc giữa xóm Đông Thịnh. Những năm 70 thế kỷ trước miếu đã bị phá dỡ huỷ hoại không còn một dấu tích gì. Miếu chỉ còn tồn tại trong tâm tưởng của người già và một số người dân có tâm với ngôi miếu. Vài chục năm trước, ngay đến cái tên Đông Thịnh cũng không mấy người còn nhớ được. Đông Thịnh là một xóm cổ trước đây thuộc thôn Cam Lâm (xã Đường Lâm, Sơn Tây). Xưa là Đường Lâm cổ ấp - Bà con trong thôn quen gọi là xóm Ngoài. Thời kỳ hợp tác hoá xóm được tách ra khỏi thôn Cam Lâm và nhập vào thôn Đoài Giáp như hiện nay.

Xóm Đông Thịnh nằm trải dài trên một khu đồi gò thấp và rộng. Hướng trước mặt xóm trông về phía Nam là cánh đồng có địa danh là Đồng Sống. Giữa đồng nổi lên một gò đất tròn rộng vài trăm mét vuông gọi là Gò Giữa. Qua cánh đồng tiếp đến vùng đất địa danh Chợ Gò, Vực Thuyền, Bố Về, Bè Xe… là những nơi gắn liền với những câu chuyện từ đời Phùng Hưng. Những khu vực này đều thuộc phạm vi xóm Đông Thịnh.

Là miền đất đồi gò địa hình phức tạp, gồ ghề, khúc khuỷu, uốn lượn xen lẫn chuôm ao nước sâu tạo cho thế đất có dáng dấp như con phượng hoàng đang tung cánh bay, đôi mắt phượng hướng về phương Nam. Miếu Đông Thịnh toạ lạc giữa lưng chim phượng.

Dân cư xóm Đông Thịnh xưa có khoảng trên ba mươi hộ. Cuối thế kỷ XIX phần lớn rời quê đi định cư nơi khác. Tới năm 1975 cả xóm còn lại sáu hộ. Dân cư của xóm trước đây nhiều người họ Ngô (Ngô vương Quyền) hoặc có quan hệ bên ngoại với họ Ngô. Các cụ Ngô Thị Thế, Ngô Văn Xe, Ngô Thị Pháo (cụ Pháo là người còn lại duy nhất còn lại của họ Ngô Đường Lâm tính đến năm 2005)… là những người họ Ngô được sinh ra ở xóm Đông Thịnh vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Bước chân tới Đông Thịnh xưa, điều thấy rõ trước mắt là cây cối xanh tốt, rậm rạp, tre đan kín luỹ xóm. Đứng ở đâu cũng thấy cây to tán rộng đủ loại. Muông thú quần tụ, chim cò đủ loại về làm tổ khắp nơi. Đầu thế kỷ trước (khoảng những năm 1910-1920) đêm đêm vẫn có hổ về bắt chó, bắt lợn. Năm 1975 vẫn còn thấy trăn lớn xuất hiện. Hoa thơm quả ngọt mùa nào thức ấy, thứ nào cũng có. Trong vườn, ngoài trại, ven đường chỗ nào cũng thấy nhãn. Từ giống nhãn nước, nhãn gừng, nhãn lồng già, lồng khô, lồng cúc… Vào mùa nhãn, khách mua từ Võng Xuyên (Phúc Thọ), từ Hà Nội về cùng với dân xóm chẩy nhãn. Đêm đêm vác sào lưới đi bắt dơi vô cùng nhộn nhịp. Nổi bật giữa xóm là hai hàng nhãn cổ thụ chạy dọc hai bên miếu thờ. Trải qua hàng trăm năm nhiều cây bị bão đổ chặt đi. Mãi cho tới những năm sáu mươi thế kỷ XX vẫn còn lại mỗi bên năm cây. Cây nào cũng cao lớn, thân hình cổ quái. Cây nhỏ nhất gốc cây ba bốn người ôm không xuể. Do hợp với đất nên cây nào cũng xum xuê, xanh tốt và hàng năm cho quả đều đặn. Mỗi cây nhãn đều được đặt tên theo hình thù và đặc điểm riêng từng cây.

Đằng sau miếu có một cây cao vút, dáng cây đẹp, cho quả màu da đồng. Quanh năm cây nhãn xanh tươi. Mỗi lần có gió thổi đến cây như reo mừng vẫy gọi. Cây nhãn này được gọi là cây nhãn Nhà Trò. Hai cây khác đứng hai bên trước miếu, cây bên trái tán xoè như chiếc lọng, cây bên phải thấp lùn, tán cây rườm rà xõa xuống sát mặt đất như người quỳ chầu. Xa hơn nữa về phía bên trái miếu có cây nhãn gốc rất to, thế cây nghiêng về hướng miếu như một con voi khổng lồ, cây này có tên là cây nhãn Tiến (do đặc điểm thơm ngon của nhãn lồng Cam Lâm nổi tiếng nên hàng năm vẫn đem tiến vua). Cách đó không xa cây nhãn Vàng Anh quanh năm xanh tốt. Đây là cây nhãn cho quả đầu mùa, chín sớm nhất vùng. Xưa kia Đông Thịnh cây mọc như rừng, chim vàng anh chỉ hay quần tụ rồi xây tổ hàng năm ở cây này. Dân làng cho là lạ bèn lấy tên loài chim quý đặt tên cho cây. Vài chục năm trước cây đã bị chặt hạ không còn dấu vết, nhưng hàng năm nay vẫn thấy chim về bay lượn, đậu trên cành soan, cành sấu quanh đó, hót vài tiếng rời rạc rồi ngơ ngác bay đi. Phía sau miếu, khoảng ba bốn mươi mét về phía phải cây nhãn có tên Lồng Già đứng sừng sững như một cây đa. Trên đường từ thị xã Sơn Tây về đến dốc Văn Miếu (Văn Miếu xứ Đoài) đã nhận ra cây nhãn này vượt lên trên các cây khác trong vùng. Năm 1947-1948 giặc Pháp tấn công lên Sơn Tây, du kích xã Đường Lâm lập chòi canh trên đỉnh ngọn cây. Đứng ở trên này có thể quan sát được cả một vùng xung quanh. Vào vụ thu hoạch cũng chỉ có vài ba người leo cây giỏi ở Võng Xuyên mới dám mạo hiểm. Dáng cây cao lớn, uy nghi đứng tĩnh lặng bên cạnh một gò đất. Ai đến đây cũng có một cảm xúc khó tả. Thật xứng đáng với cây nhãn đứng đầu hai hàng Nhãn Thần.

Miếu Đông Thịnh tọa lạc giữa hai hàng nhãn cổ thụ, hướng về phía Nam, mặt trông về Gò Giữa phía trái là Chợ Gò, phía phải là gò Bố Về (Bố Cái Đại vương Phùng Hưng). Sau miếu là khu vườn lớn. Giữa vườn là một gò đất được giữ gìn rất nghiêm cẩn vì đây là nơi hàng năm dân xóm làm lễ “mở cửa vườn”. Mặt khác các cụ già trong xóm truyền dạy lại gò đất này là chỗ dựa của miếu!

Miếu xưa là một ngôi nhà ba gian mái lợp ngói âm. Tiếp gian ngoài cùng là trái miếu. Góc xây đầu đao cong vút. Miếu có kiểu dáng giống như hậu cung của miếu Ngô Vương (nay gọi là đền thờ Ngô Quyền). Gian trong cùng là hậu cung. Qua ba cửa ngăn phía ngoài là đại bái. Phía trên cửa giữa treo hoành phi ghi ba chữ khổ lớn “Đông Thịnh miếu” bằng chữ Hán. Trong hậu cung có đủ bộ đồ thờ: Long ngai, bài vị… sơn son thếp vàng rực rỡ. Đôi câu đối thờ treo hai bên:

“Tây thổ hữu thần sơn bất lão

Đông thôn vô dạng thụ trường sinh”

(Tạm dịch là:

Ở đất phía tây có thần núi non

       trẻ mãi

Xóm thôn Đông Thịnh vô sự bình an

       cây cối tốt tươi)

Thần chủ thờ tại miếu theo người xưa truyền lại: Ngài là một vị mang họ Ngô đã sinh sống và mất tại đây từ xa xưa. Ngài là người đã có công khai phá, xây dựng và là người chủ của Đường Lâm cổ ấp. Nhân dân ấp Đường Lâm tôn thờ ngài với nghĩa “sinh vi chú, tử vi thần” để nhớ ơn công đức của ngài. Linh vị thờ trước hết tôn vinh ngài là “Bản thổ thần chúa đất”. Về thân thế sự nghiệp linh vị ghi ngài là “Đoài phương xứ Đại tướng quân nguyên soái”. Nghĩa là: Người thủ lĩnh cao nhất của vùng đất Phong Châu xứ Đoài cổ kính từ xa xưa. Đối với dòng tộc linh vị tôn vinh là “Ngô bác Quốc”. Ý nghĩa ở đây Quốc là Quốc vương. Ở những nơi thờ Bố Cái Phùng Hưng trước đây đều gìn giữ kiêng kỵ, gọi người cha sinh ra mình là thầy, là bác. Người Việt Nam đều nhớ câu: “Ai lên xứ Lạng cùng anh. Bõ công bác mẹ sinh thành ra em”.

Theo bài văn tế cổ trước đây ở đình Phùng Hưng thôn Cam Lâm do cụ Kiều Văn Quỳ (1897-1991) viết và truyền lại thì có thờ hai vị thần thuộc hai bên tả hữu. Văn tế có đoạn ghi: “Kỵ tả biên điện, Bộ hạ Đỗ tướng công giáng lâm tin tự. Hữu biên điện, bản thổ linh thần, Đoài phương xứ, Ngô bác Quốc, Đại nguyên soái tướng quân giáng lâm hiến hưởng, Bảo hộ toàn dân, nhân khang vật thịnh”.

Qua văn tế có thể thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa ngài với dân Đường Lâm cổ ấp.

Nhiều người đặt câu hỏi vì sao người xưa gọi đây là “miếu”, vì miếu phải đi đôi với lăng. Theo tập quán của người Việt, việc giữ gìn mộ tổ là một việc tối linh thiêng. Thật may cho xóm vào cuối những năm bảy mươi của thế kỷ trước, một cụ ông sống thọ gần chín mươi tuổi, râu tóc bạc phơ nhưng tâm trí vẫn còn sáng suốt. Lúc cuối đời cảm thấy tuổi trời đã sắp đến hạn, hơn nữa những nghịch cảnh xảy ra hàng ngày làm cụ suy nghĩ lo lắng. Một hôm cụ cho mời gọi một số con cháu, những người tâm huyết đến truyền dạy, dặn dò những điều cụ đã tâm niệm suốt cả cuộc đời. Mãi đến lúc đó con cháu mới ngộ ra: Nơi quê mình có bề dày lịch sử, đáng mừng là trải qua ngàn năm các cụ đã cố công gìn giữ, đến nay di tích vẫn còn rất quen thuộc gần gũi trước mắt hàng ngày mà không ai nhận ra. Chính vì trước kia lịch sử đất nước thăng trầm, bên ngoài giặc ngoại xâm đe doạ đã gây ra bao cuộc chiến tranh tàn khốc. Bên trong những cuộc tranh giành quyền lực gay gắt không kém, lòng người đổi thay khó lường. Là người hiểu rõ thời thế, đức Ngài có ý nguyện “mai danh ẩn tích” để giữ được “vô sự bình an” cho quê hương, con cháu. Thực hiện ý nguyện trên người xưa đã giữ gìn dấu tích của Ngài ở dạng “ẩn” - “vô dạng” để tránh sự dòm ngó, xâm hại của người lạ. Từ thân thế sự nghiệp, huý danh đến mộ chí… đều giữ kín dấu vết rồi trồng cây để làm mốc giới (Đông thôn vô dạng thụ trường sinh). Các cụ đã truyền dặn lại đời sau bằng các chữ mang nhiều ẩn ý trong bài vị, trên câu đối thờ mà người lạ đến không thể “giải” được. Rồi cha truyền cho con, con dặn lại cháu đời này qua đời khác. Phỏng đoán: Đây phải chăng là mộ Châu mục Đường Lâm Ngô Mân, thân phụ của Ngô Vương Quyền!

Trải qua bao năm tháng, chiến tranh, thời thế biến chuyển… lời dặn dò vẫn được ghi tạc cho đến hôm nay như nguồn mạch thiêng chảy ngầm xuyên suốt qua bao thế hệ. Tuy nhiên di tích cũng bao phen chịu cảnh thăng trầm do người lạ, do lòng tham và do sự thiếu hiểu biết của con người. Những năm 50 thế kỷ trước đã nhiều lần có “khách” đến: Khi thì bán thuốc lúc bị lỡ đường xin nghỉ trọ rồi lân la làm quen bắt chuyện dò hỏi nhưng không qua mặt được các cụ. Cuộc “đón tiếp” phức tạp dai dẳng nhất phải kể đến những năm cuối thập kỷ 60 thế kỷ trước. Lúc này nhiều cơ quan đơn vị sơ tán về làng. Trong số đó có một cơ quan báo chí nước ngoài. Cơ quan có một đồng chí, dân hay gọi thân mật là “lão thủ trưởng”. Hàng ngày thủ trưởng thường đi tản bộ ra xóm để thăm thú và tìm hiểu đời sống của bà con. Do lâu ngày nên quan hệ càng thân mật cởi mở. Cũng do tiếp xúc chuyện trò nhiều lần nên không ít người trong xóm cảm thấy bạn đang muốn tìm kiếm điều gì? Nhưng đối với cụ Tiếp, cụ Quỳ là những người trải qua hai thế kỷ, đã nhận ngay ra ý đồ của khách đến thăm, đã theo dõi đề phòng rồi khéo léo “tiếp đón”. Qua gần ba năm thăm viếng, “vị khách” cũng không tìm kiếm được gì. Cùng thời gian này, ở một nơi không xa cũng chính những vị khách trên đã đào khoét, rút ruột bên trong của cả một quả đồi rồi mang đi. Mãi nhiều năm sau người ta mới biết thì sự việc đã trở thành “câu chuyện ngày xưa”.

Bước sang những năm bảy mươi phong trào hợp tác hóa lên cao đỉnh điểm, cả xã là một hợp tác xã. Sáu gia đình còn lại của xóm Đông Thịnh phải lần lượt chặt hết cây cối để giao vườn, giao trại cho HTX quản lý. Đối với hai hàng nhãn cổ thụ trước khi phải chặt hạ cây nào chủ nhà đều cẩn thận sắm lễ rồi cung kính lễ tạ trước cây. Sau đó cả chủ nhà đến những người có mặt lúc đó đều giấu nước mắt, mếu máo trốn chạy để khỏi nhìn thấy cảnh tượng như người thân sắp bị sát hại và tránh những điều bất ngờ, rủi ro. Đến nay đã qua mấy chục năm trời nhưng, mỗi lần gợi lại nhiều người vẫn không khỏi ngậm ngùi, xúc động.

Trước cảnh thiếu đói gay gắt khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, được nêu cao như một giải pháp cứu cánh. Thêm vào đó sự khích lệ ẩu trào lưu bài trừ mê tín. Nhiều đến miếu, gò thiêng, tha ma… đều được khai phá lấy đất sản xuất. Miếu Đông Thịnh được rỡ ra lấy vật liệu xây lò chứa phân lân ngay đầu xóm. Giữa thời buổi “làm chủ tập thể” đất miếu trở thành “của vô thừa nhận” chẳng chủ nào đoái hoài đến. Người có lòng tham mặc sức lấn chẳng còn biết sợ uy thần thánh. Thật chẳng khác gì chiếc lá non bị con sâu đói ngoạm dần từng miếng. Biết không giữ được HTX bèn hoán đổi cho hộ cá nhân làm vườn! Chẳng bao lâu sau hàng rào gai ôrô, móc hùm đan xen, quây kín, họa chăng chỉ có chuột mới chui lọt được. Đến lúc này miếu thờ, gò thiêng, cây thần, ngay cả địa danh Đông Thịnh đã hoàn toàn bị tận diệt không còn dấu tích. Thay thế vào đó là khoai, là sắn. Nhưng cái nghèo, cái đói vẫn bám chặt trên lưng những con người khốn khổ, xác xơ. Những năm sau đó dân cư khắp nơi được đưa đến cắm đất, dựng nhà; có cả gần trăm hộ, đủ mặt các thôn trong xã, Đông Thịnh bỗng trở thành một “xóm cóp”; một “hợp chủng xóm”. Trăm nhà trăm cảnh, từ nếp sống đến tính cách con người mỗi nơi mỗi vẻ thật khác lạ. Nét giống nhau có chăng chỉ là hoàn cảnh thiếu đói, mệt mỏi biểu lộ trên những khuôn mặt hốc hác, bơ phờ, lo lắng. Làm thế nào để hoà đồng một cộng đồng như thế đâu phải dễ dàng! Cuộc sống trở nên lạ lẫm chẳng biết tin ai. Thôi thì đóng cửa nhà nào biết nhà ấy. Khốn nỗi những va chạm hàng ngày chẳng để yên thân. Hôm nay nhà này “vê” sân ra một chút cho vuông, ngày khác nhà nọ nới tường ra một chút cho rộng. Trồng cây thì sát tường sát cõi để tán cây lấn sang nhà khác. Việc nhỏ như phơi rơm, phơi thóc cũng phải cố chiếm đường, chiếm chỗ của người… Những cuộc cãi cọ to tiếng cứ dài dài xảy ra chẳng có tình làng, nghĩa xóm. Xưa kia xóm vắng yên ả, nay bỗng chốc đất hẹp người đông; bầu không khí trở nên chật chội, ngột ngạt, lòng người ly tán bơ vơ. Câu chuyện về ngôi miếu thiêng tọa lạc giữa xóm tưởng đã đến hồi kết do chính bàn tay khối óc của những chủ nhân. Thật đáng tiếc thay!

Cuối những năm tám mươi, trào lưu đổi mới như làn gió đưa mưa lành về miền quê cằn cỗi khô hạn làm đổi thay mọi thứ. Cũng những con người ấy nay chẳng còn thờ ơ vô cảm đối với cây lúa cây khoai. Đổi lại hoa màu đã trả lại cho người những vụ mùa nặng hạt. Con lợn con gà cũng nhờ thế mà sinh sôi đông đúc. Tuy vậy vẫn chẳng đủ nuôi người. Thế là cả xóm bươn trải đủ nghề: Nấu rượu, làm đậu, nuôi lợn. Nhà gần đường thì mở quán, trai tráng kéo nhau đi làm thợ xây, thợ mộc… Đội quân đông nhất vẫn là làm mướn gánh thuê. Tờ mờ sáng chị em đã gọi nhau ý ới, vội vã lên đường. Đến nửa buổi nhà nhà chỉ thấy cửa khoá then cài. Vào giờ này tất cả đều ở các lò gạch, lò vôi, bãi cát, bãi sỏi… Những năm đầu thật kỷ 90 đời sống đã dần ổn định. Cảnh tạm bợ, nhếch nhác không còn. Bộ mặt thôn xóm đã khởi sắc. Như sau cơn bão lòng người đã trở lại yên ổn. Tình làng nghĩa xóm đã được hình thành. Những nơi thờ tự đã được tôn trọng. Ở trong làng lễ hội các đình mở ra làm cho mọi người vui mừng phấn khởi. Sau nhiều năm kiên trì vận động đến năm 1996 đất miếu được trả lại một phần. Ngay sau đó bà con trong làng (thôn Cam Lâm) ngoài xóm (Đông Thịnh) cùng nhau góp tiền, góp vật liệu, công sức xây nên một ngôi miếu nhỏ làm nơi thờ cúng buổi ban đầu. Tuy vậy việc vận động bà con trong xóm tham gia cũng còn gặp không ít trở ngại. Đông Thịnh vốn là một “xóm cóp”, “chín thôn mười làng” cộng lại. Tập quán lâu đời “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” đã gây ra nhiều trở ngại, làm cho không ít người do dự, hoài nghi đứng ngoài cuộc, thậm chí bài bác, cản trở. Việc thờ cúng là tùy theo tấm lòng của mỗi người, chẳng ai ép buộc. Những người có tâm đều nhiệt tình tham gia. Việc hương khói, tế lễ theo tuần tiết được thực hiện nghiêm trang. Xuân thu nhị kỳ, đại lễ được cử hành vào ngày mồng bốn tháng hai và mồng bốn tháng mười một âm lịch hàng năm. Riêng mồng bốn tháng hai xóm làng tụ hội đông vui, tế lễ trang trọng, linh đình. Ngày này hàng năm thường có mưa; không mưa lớn thì mưa nhỏ. Dịp này ngoài đồng lúa đang cần nước, nông dân mong đến ngày đại lễ miếu thờ Đông Thịnh như một dịp cầu may, giải hạn vậy!

Giữa năm 2013 trong làng chuẩn bị làm mới nâng cấp đình Phố (Đình thờ  đức thánh Tản ở làng Cam Lâm). Các cụ không quên nhân dịp này tạo điều kiện giúp đỡ xóm. Tòa đại bái của đình được quyết định chuyển ra xóm để nâng cấp miếu. Toàn xóm họp bàn sôi nổi đi đến thống nhất cùng nhau góp tiền, vật liệu, công sức tham gia xây dựng.

Chẳng mấy chốc ngôi miếu đã hình thành tọa lạc bề thế giữa xóm làm cho họ rất ngạc nhiên thích thú. Thật là may mắn cho dân xóm Đông Thịnh, được ở nơi “Tây thổ hữu thần”. Giữa nhà có bàn thờ tổ tiên. Giữa xóm có miếu thờ thổ thần chúa đất. Đó là những di sản đã trải qua ngàn năm do tổ tiên để lại. Phải cố mà giữ gìn. 

Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *