Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Bút ký: “Một ngày trên biên đội tàu không tên” - Ngô Tiến Mạnh

12-06-2012 09:18:54 AM

“Nơi đảo xa, không có em anh giả làm con gái

Và hát khúc dân ca, yêu nhau cởi áo cho nhau...”

 

Câu hát táp vào mặt nước làm con tàu chòng chành nghiêng ngả. Giọng hát vịn lòng như vết cứa khắc vào thổn thức, bịn rịn trong khoảnh khắc chia tay. Chúng tôi siết chặt tay nhau mang câu hát nặng trĩu vào bờ.

Giá níu được thời gian, tôi sẽ giữ cho những giây khắc này chậm lại. Để những đôi mắt ở trong mắt nhau lâu hơn, những câu nói đỡ gấp gáp hơn và những bàn tay ấm trong bàn tay nhau nhiều hơn.

Nhưng không! Thời gian chưa bao giờ đứng yên cũng như biển xanh chưa khi nào thôi sóng. Và những đôi mắt người lính biển vẫn sáng găm vào biển, vào những tia chớp giật sóng vùi đang nau náu duềnh lên trên biển trời Tổ Quốc.

Xin chào nhé những người lính biển. Những chiến sĩ trên Biên đội tàu không tên của Hải Đoàn M28 - Quân Chủng Hải Quân anh hùng.

Nhà thơ Thuỵ Anh bật khóc oà khi lơi cái xiết tay của một cậu lính trẻ đang cố nhoài người ra mạn tàu mấp máy môi chẳng thể nói thành lời. Nhà báo Kiều Bích Hậu rưng rưng trong cái vẫy tay đỏ mắt. Tiếng còi hú lên thay cho lời tạm biệt. Mọi ngôn ngữ đều bất lực. Biên đội tàu phút chốc loà trong màu nước mênh mông.

Ngày mai, Biên đội tàu không tên ấy lại “Vươn ra biển - Làm chủ biển”. Nhưng những câu chuyện của ngày hôm nay, của ước vọng ngày mai mà những chiến sĩ trong Biên đội sẽ còn lăn mãi trên sóng biển mặn mòi.

Chúng tôi có mặt tại Hải Đoàn M28 vào những ngày tháng tư trên thành phố hoa phượng đỏ thật nao lòng. Đó là tháng của những nụ phượng mẩy tròn nhất. Cái sắc đỏ ấy như đang nhu nhú chỉ trực sẵn để được bay ra và cháy hết mình.

Tháng tư trên Hải Đoàn M28 càng nhộn nhịp hơn khi đón những chiến sĩ của “Biên Đội đặc biệt” vừa hoàn thành nhiệm vụ gần ba trăm ngày đêm lênh đênh trên biển trở về.

Đại tá Đinh Công Thuận - Phó Chính uỷ cùng lãnh đạo Đoàn M28 ra tận tàu bắt tay từng thuỷ thủ. Họ cứ ôm lấy nhau trong nụ cười hây hây sóng và những nụ cười ấy đã cuốn tôi vào câu chuyện về một Biên đội 2 tàu không phiên hiệu, về những cánh sóng đôi trên biển, về những người con đang ngày đêm cùng cả nước bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển của Tổ Quốc thân yêu.

Trong những tháng ngày vừa qua, trước diễn biến phức tạp trên biển đông. Năm 2005, một Biên Đội 2 tàu nhanh chóng được thiết lập với nhiệm vụ đặc biệt đó là trinh sát nắm tình hình về chủ quyền vùng biển đất nước trên danh nghĩa tàu đánh cá dân sự làm nòng cốt trong những cuộc đấu tranh của ngư dân ta. Chính điều ấy đặt ra cho cán bộ và thuỷ thủ Biên đội những yêu cầu, phương pháp mới để đáp ứng nhiệm vụ của cách mạng.

Câu chuyện của Biên đội trưởng - Thiếu tá Đinh Văn Chung, một người sinh ra trên đât Cảng, đã 28 năm gắn bó với biển với Hải Đoàn M28, đã quen với từng con sóng, từng cơn gió và hơi thở biển... người đã nửa cuộc đời lênh đênh trên biển làm chúng tôi hồi hộp.

Sau khi rời đơn vị huấn luyện, anh được điều động về Đoàn M28. Ngày 27 tháng 01 năm 1988 khi anh còn làm thuỷ thủ trên tàu 712 của Hải Đoàn. Trong lúc đang làm nhiệm vụ trực ban sẵn sàng chiến đấu thì được lệnh cùng với tàu 611 của vùng 4 do đồng chí Nguyễn Công Phán- Đoàn trưởng đoàn 146 chỉ huy, chở một đại đội công binh và 2 khung đảo đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Khi cách đảo 5 hải lí thì phát hiện 4 tàu chiến của nước ngoài ra ngăn cản. Có lúc chỉ cách tàu ta khoảng 300m, không cho tàu ta tiếp cận đảo. Để đảm bảo lực lượng và giữ vững đối sách, hai tàu đành phải quay về đảo Trường Sa đông.

Sau đó một tháng. Khi hai tàu 712 và 611 đang neo đậu ở Trường Sa đông được lệnh lập tức đến đóng giữ đảo Đá Lát và đã giữ được toàn vẹn đảo. Anh đã cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần giữ vững chủ quyền của Tổ Quốc ở Trường Sa.

Muôn câu chuyện về biển cứ cuốn hút chúng tôi. Nào là chuyện đối mặt với giông bão, đối mặt với kẻ thù, đối mặt với cái chết anh đều kể sôi nổi. Nhưng khi hỏi về gia đình thì anh bỗng trùng xuống.

- Mình thương vợ con lắm. Vợ mình thường trêu rằng mình như con ma ấy. Ừ, mà nghĩ cho cùng thì ma thật còn gì. Quanh năm lướt trên mặt nước. Cả đời chòng chành, thoắt ẩn, thoắt hiện. Lắm lúc cũng có cái thèm lạ thật. Thèm được đi trên đất cho vợi bớt chơi vơi. Nhưng mình còn đỡ, chứ anh em bây giờ khổ hơn mình nhiều.

Ấy là anh muốn nói đến những con người như thuỷ thủ Lê Văn Hùng.

Anh Hùng quê ở Quảng Xương - Thanh Hoá. Bốn mươi bốn tuổi đời nhưng có tới 26 năm gắn bó với biển, với Hải Đoàn M28, anh kể:

- Tôi đã có mặt trên hàu hết từng mét biển từ Bắc tới Nam. Trước đây tôi là Thợ lặn. Lặn sâu dưới lòng biển, tôi càng thấy thêm yêu biển quê hương mình biết nhường nào. Biển quê hương ta đẹp và rất giàu tài nguyên. Tôi hàu như đã quen tên từng con cá và nhiều lắm những sinh vật có trên biển. Ngày trước khi còn làm Thuỷ thủ lặn, mỗi ngày tôi lặn từ 7 đến 9 tiếng dưới nước. Theo lí thuyết thì một giờ làm việc dưới nước bằng cả tuần làm việc nặng trên bờ.

 Còn nhớ vào năm 1988, tình hình trên biển đảo diễn biến phức tạp, có khi cả ngày phải ở dưới nước với những nhiệm vụ đặc biệt. Anh đã cùng những chiến sĩ đặc công nước lập nên nhiều thành tích trong ngăn chặn sự xâm phạm của kẻ thù dưới lòng biển.

Dưới lòng biển, mọi ngôn ngữ đều vô dụng. Ngoài sức khoẻ thì lúc ấy chỉ còn ý trí và sự khôn khéo. Có những lúc lực lượng ta và địch cứ giằng co đấu trí hàng tiếng trong lòng biển. Giành giật nhau từng mét đất dưới đáy biển. Đã có nhiều đồng chí của ta anh dũng hi sinh hoá thân thành những cành san hô đỏ, nhưng bàn tay vẫn còn nắm chặt vụn đất, ghi dấu chủ quyền trên thềm biển Tổ Quốc mình. Nói đến đây thì anh khóc.

Anh đã cùng những chiến sĩ của Hải Đoàn M28 tham gia nhiều trận đánh. Nhưng trận anh nhớ nhất, mà có lẽ nó còn cạo mãi lòng anh là trận đánh ở quần đảo Trường Sa.

Lòng quả cảm của hơn sáu mươi chiến sĩ cứ lần lượt cuốn cờ hoá thành cột mốc bằng máu, ghi dấu chủ quyền đất nước năm ấy còn khắc sâu, dọi chiếu vào lớp lớp người chiến sĩ trên biển hôm nay.

Giờ đây. Đất nước đã hoà bình. Nhưng biển chẳng giây phút nào thôi sóng. Năm tháng giằng kéo sức người đi, nhưng cũng chính thời gian năm tháng đã tôi luyện và thử thách ý chí của con người.

Những người lính biển như anh thì cái đáng sợ nhất mỗi khi biển lặng và soi bóng mình vào trăng biển. Những giây phút ấy lại trào dâng trong anh và đồng đội mình những con sóng lòng cuồn cuộn xô bờ. Con sóng của cơm. Của áo. Của gạo. Của tiền… và ti tỉ những điều thầm kín nơi bờ bãi. Cơn sóng của phía bên kia nửa chiếc giường nơi đất gọi. Vợ thiếu hơi chồng, con thèm tiếng cha... Nhưng, những khoảnh khắc ấy cũng qua thật nhanh khi ở đâu các anh cũng thấy vẹn nguyên một dáng đứng. Hòn vọng phu lại hát lên những khúc ca vần vũ. Cánh hải âu lại chao nghiêng ôm bến bờ xứ sở. Bờ lại dang tay, ưỡn mình ôm sóng khơi xa.

Trên Biên đội không tên có hàng kho chuyện. Nhưng những câu chuyện mà chúng tôi muốn nghe nhất vẫn là chuyện của các chàng lính trẻ. Đây là lần đầu tiên cô được tiếp xúc với lính biển, được tận mắt nhìn khuôn mặt sạm nắng gió, được nắm đôi bàn tay chắc nịch của thuỷ thủ Hải Quân, được nghe những người lính biển hát vô tư bằng cây đàn ghi ta thiếu dây và bộ gõ xoong nồi. Khi nghe những câu chuyện của con người biển cả, đôi mắt cô lúc nào cũng loang loáng như chỉ trực để khóc. Những giọt nước mang vị biển rơi vào biển khơi thành tiếng.

- Thế các anh yêu bằng cách nào, khi suốt ngày lênh đênh trên biển ? Nhà thơ Thuỵ Anh run run hỏi.

Câu hỏi vô tình làm những người trên tàu lặng đi trong giây lát. Và câu hát của Nhạc sỹ Đức Thịnh bỗng vang lên trong vắt.

“Nơi đảo xa, không có em anh giả làm con gái

Và hát khúc dân ca, yêu nhau cởi áo cho nhau..”

Đúng là một câu hỏi khó. Ở thời nào thì người lính cũng chỉ là người lính. Nhưng trong bom đạn, khi mà cả nước đánh giặc con người ta cũng yêu nhau thơ hơn. Còn hôm nay. Hôm nay đã khác hôm qua. Đôi mắt nhìn bầu trời của con người ta cũng khác đi và bàn chân nữa. Những bước đi giờ cũng gấp gáp hơn, vội hơn.

Thiếu uý Phạm Xuân Thành 26 tuổi, ở quê lúa Thái Bình - Thuỷ thủ của Biên đội thì thầm:

- Lính biển chúng em thường rất khó lấy vợ. Với những người lính trên Biên đội tàu này thì cái khó ấy còn tăng lên gấp bội.

Này nhé. Nếu là lính Đảo thì nơi đảo cũng có vị trí nhất định cho con người ta hướng đợi. Còn chúng em thì khác. Chúng em cứ mênh mông trên sóng. Có khi nhận được thư của người thân viết cho mình thì nó đã chậm hàng trăm ngày rồi. Chúng em chỉ mong chờ những ngày phép. Nhưng các anh chị biết không, chưa có cái phép nào trọn vẹn đâu. Giông gió đất trời chẳng khi nào bảo trước. Có những khi chưa vào tới bờ thì Biên đội đã phải quay lại thực hiện nhiệm vụ mới. Những cái hẹn cứ vời vợi như bọt biển vỗ vào thân tàu nhức nhối. Giữa biển khơi biết đâu mà tìm nhau, mà gặp nhau. Nên yêu nhau đành sống bằng “niềm tin” chị ạ.

Thế anh em trên tàu thường nghe gì ? Đọc gì ? Xem gì ?... Nhà văn Phạm Duy Nghĩa hỏi.

Đại uý Trần Văn Khải - Máy trưởng của Biên đội quê ở Nam Định nói:

- Mỗi lần vào bờ. Anh em trên đất liền thường để giành cho tàu những số sách báo cũ, nhưng lúc nào cũng thấy thiếu dù anh em đã đọc rất dè. Đọc sách báo cũng phải như sử dụng nước ngọt thôi. Anh em trên tàu thường thích đọc báo Quân đội và Văn nghệ quân đội. Những tin tức,  truyện, những thơ ở trên đó luôn tươi mới và lính hơn. Còn xem và nghe thì quả thật là khó. Ở biển khơi sóng vô tuyến cũng mấp mô lắm. Thường là không xem được mà chỉ nghe đài thôi. Nhưng đâu phải khi nào cũng được nghe đâu.

Trung uý Mai Văn Trường hồn nhiên xen vào câu chuyện.

- Hình như danh hài Hiệp gà vừa mới được ra tù phải không các anh chị ?

Không đợi chúng tôi trả lời. Phó chính uỷ Hải Đoàn M28 - Đại tá Đinh Công Thuận nói:

- Thế đấy, các anh chị ạ. Đó là cái thiệt thòi chung của lính biển, đặc biệt là của những chiến sĩ trong Biên đội tàu này. Mặc dù Đảng uỷ và chỉ huy đoàn đã rất cố gắng nhưng việc cập nhật thông tin không kịp thời vẫn là vấn đề nan giải. Chúng tôi cũng đã nỗ lực và cố gắng đưa thông tin đến với anh em nhanh hơn, nhiều hơn. Nhưng thú thật chỉ có mệnh lệnh nhiệm vụ là kịp thời...

Vâng. Cũng thật dễ hiểu. Khi mà từng giây, từng phút một, thế giới đã bước đi những bước thật dài. Trên bờ chỉ cần một cái nhấn chuột mà đã thấy chậm rồi chứ nói gì đến quanh năm suốt tháng lênh đênh trên biển với diện mạo đặc biệt cùng trang bị thiếu thốn.

Chiều trên bến cảng thật đẹp. Câu hát lại vang lên vời vợi. Những thổn thức lại đau đáu hiện lên trên sóng mắt.

“Một chiều mùa hè, gặp nhau trên bến cảng

Ta gần nhau hơn trong bao ngày xa cách

Trong mỗi chuyến đi xa càng thấy yêu quê mình...”

 Những con tàu mang khát vọng nối đuôi nhau ra, vào trên dòng sông nơi cửa biển. Còn chúng tôi. Chúng tôi hoà vào bữa cơm lính biển. Những hạt gạo chín mọng mặn môi ẩn dưới cọng rau xanh mang từ bờ vít cong lời tâm sự.

Trung sĩ Nguyễn Anh Cường, người trẻ tuổi nhất trên tàu cứ lẳng lặng cười, cứ lắng tai nghe. Khi được hỏi tới thì cười hồn nhiên nói:

- Các chị cứ nói đi. Cứ hát đi. Cứ đọc thơ và nói chuyện đi. Nói thật nhiều vào, hát thật nhiều nữa đi. Em sẽ mang theo những lời này cất đi, để ngày mai xa bờ đỡ nhớ đất hơn.

Bỗng tôi thấy một chiến sĩ lẻn ra khỏi mâm cơm, đi ra phía mũi tàu nhìn về biển.

Người thuỷ thủ trẻ ấy là thiếu uý Nguyễn Hải Trường.

Trường quê ở Vĩnh Linh. Là con một, trong một gia đình đáng tự hào. Ông nội của Trường đã anh dũng hi sinh và hoá thân vào biển khi cùng đồng đội làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào phục vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam, trong đoàn tàu không số thuộc đơn vị M25 Hải quân vận tải năm xưa.

Năm 1988. Tức là khi Trường tròn một tuổi thì người cha của anh cũng hi sinh khi làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa.

Lớn lên mẹ không muốn cho Trường trở thành lính biển. Lạ thay. Biển và niềm tự hào trong lòng biển bao đời nay cứ ngấm vào cốt tuỷ Trường, để rồi cuối cùng anh phấn đấu, học tập và trở thành người lính Hải quân.

Khi hỏi, tại sao Trường lại trọn con đường này thì Trường ngân ngấn.

- Em mang nợ với biển và thật tự hào khi được làm lính biển. Chúng em chỉ có khát khao. Một khao khát cháy bỏng là được sống, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển của Tổ Quốc thân yêu để mãi xứng đáng với thế hệ cha anh đã hi sinh, gìn giữ. Để dân mình được rộng lưới căng buồm thênh thênh xa khơi trong nụ cười đầy ắp cá.

Chúng tôi đã ôm nhau. Đã cười. Đã khóc và sẽ còn hát mãi những khúc ca về biển. Sẽ còn kể mãi những câu chuyện của biển. Về những chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân Việt Nam anh hùng. Về một Biên đội không tên đang ngày đêm thao thức cùng quân dân cả nước giữ vững chủ quyền trên biển trời của Tổ Quốc thân yêu.

 

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...