Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Truyện ngắn: "Tháng tư mùa bướm bay" - Linh Nga Niek Dam

15-01-2013 02:15:46 PM

Nhà văn Linh Nga Niek Dam

Ngôi chùa nhỏ. Tít trên đỉnh núi. Con đường đất hẹp. Quanh co. Gập gềnh, lổn nhổn đá gan gà. Bạch đàn phủ kín từ chân lên tới đỉnh. Cây chưa thành cổ thụ. Đủ độ râm mát và có chỗ cho các loài chim làm tổ. Sớm sớm. Chiều chiều. Hàng trăm loài chao chác tranh cãi, liệng vòng. Lá khô rụng đầy. Mỗi bước đi tiếng lá vỡ  xao xác giòn tan.

Con chim “bắt cô trói cột” khắc khoải trên đỉnh đồi sau chùa từ đêm tới sáng. Tiếng chim cô đơn khiến bà Nhàn hôm nào cũng thức sớm. Đọc xong bài kinh Bát Nhã, mấy cụ phật tử thu dọn đồ lề và sách kinh, cởi áo choàng treo lên vách, chào bà Nhàn, xuống núi. Trả lại vẻ tịnh yên cho ngôi chùa. Gió sớm từ phía hồ dưới chân núi thổi về mát rượi.

Không biết ai dựng nên ngôi chùa? Từ bao giờ? Chỉ thấy trước sân một chiếc bát hương lớn. Chạm nổi chữ Nôm thời vua Gia Long.

Mấy năm trước. Khi tốt nghiệp Học viện Phật học, giáo hội bổ về trụ trì ở đây, Đại đức trồng thêm, ngoài mấy cây bồ đề xen giữa đám bạch đàn, hai cây ngọc lan và mộc liên. Cây do sư phụ chiết ươm sẵn từ chuà Quỳnh. Đã ra hoa lứa đầu. Thân còn thấp. Bà Nhàn nhón chân cũng có thể hái được mấy bông ngọc lan trắng muốt, đặt trong chiếc đĩa sứ nhỏ, kính cẩn bày lên bàn thờ Phật. Hoa mộc liên muôn muốt trắng, lớn hơn, mỗi đĩa chỉ để vừa một bông. Bầy hai bên chân đèn. Hương vô ưu thoảng thoang. Cõi uyên nguyên man mát thơm thanh tịnh.

Kéo chiếc áo thụng màu lam vắt trên cành mộc liên, bà Nhàn bần thần. Trừ những ngày sóc vọng, còn Đại đức hay đi lắm. Lúc thì theo sư phụ làm lễ tại chùa chính, lúc cùng Giáo hội đi cầu siêu nơi này nơi nọ. Khi thì đệ tử các vùng đến rước đi cầu an. Tháng trước còn cùng mấy đại đức ra tận quần đảo Trường Sa, về lại lên ngay mãi Điện Biên cầu siêu cho vong linh các anh hùng liệt sỹ… Lần thày đưa cha – cựu tù binh Phú Quốc ra đảo thăm lại nhà tù, cũng thế, thày đều dặn  đôi câu trước khi đi. Thậm chí còn cả ngày đi, ngày về. Ít ra thì cũng là khoảng ấy, khoảng ấy. Còn lần này… Không biết thày đi lúc nào? Đi đâu? Bao giờ về? Áo vẫn còn vắt đây. Chiều. Bà Nhàn  như mọi ngày, bẻ lá bạch đàn, đun một nồi nước thơm chờ thày. Rồi phải đổ đi. Hôm sau lại nấu. Lại đổ.

Chống hai tay vào đầu gối khom mình đứng dậy, bà Nhàn lấy chiếc chổi xể - thày bảo làm cái cán dài  cho đỡ đau lưng – quét quáy quanh chùa. Tiếng loa oang oang từ dưới doanh trại bộ đội tít dưới chân núi vọng lên rõ mồn một. Có lẽ tại khu vực này ít dân, nên sáng, trưa, chiều, giờ nghỉ nào loa cũng mở hết công suất như thế cho đỡ quạnh quẽ chăng? Thày cũng mua bộ phóng thanh, mỗi lúc đọc kinh trong ngày mở vang cả núi. Tiếng kinh kệ. Tiếng mõ. Tiếng chuông chùa, lan lan mỗi sớm, mỗi chiều. Không gian đồi núi vắng vẻ ấm hẳn lại. Bất giác bà Nhàn dừng tay chổi lắng nghe. “Tìm em, sau ngày chiến tranh, em về đâu? Em về đâu? Làm nàng dâu hiền thảo? Tìm em, em còn nhớ mùi đạn bom, em còn nhớ về Trường Sơn…”. Cái ông lính nào giữ đài chắc cũng có tâm trạng, nên mấy ngày nay tuyền mở bài hát này. Bà chưa từng có mặt ở Trường Sơn. Tuổi trẻ của bà chôn hết  dưới những núi xỉ than đen xì ở ngoài khu mỏ kia kìa. Nhưng nghe bài hát cũng  thấy thao thiết lắm. Câu chuyện của một người lính Trường Sơn (hay nhiều người lính có số phận như thế?) đi tìm kỷ niệm của mối tình đầu gửi lại chiến trường xưa… Ông nhạc sỹ kể lại đến khéo. Bà cũng đã từng có một tình yêu thời tuổi trẻ. Người lính ra đi với chiếc gậy Trường Sơn thuở ấy không trở về. Cây hoa ngọc lan anh trồng trước ngày lên đường, ở góc vườn nơi hai người thường hẹn hò, vẫn ngát hương quanh năm. Bà không có điều kiện đi tìm đưa hài cốt anh về. Khi thày mang hai cây hoa về trồng trứơc cửa chùa, bà chăm chút lắm.

Dân trong vùng, kể cả các Phật tử, ít người biết bà chính là dì ruột của Đại đức. Ở vậy không lấy chồng. Từ cái đận bà chị ốm tưởng không qua khỏi, mấy Đại đức đồng môn với thày nhân về cầu siêu trong vùng cùng ghé thăm, buột miệng đùa rằng “Thày ấy đang định hoàn tục”. Chị bà bỗng vùng dậy lạnh tanh “Để tôi chết đi đã rồi các người muốn làm gì thì làm”. Các Đại đức lúng túng xin lỗi mãi. Người tu hành đã gưỉ trọn tâm tưởng và thể xác cho Đức Phật, không còn là của gia đình nữa. Nhưng sau ngày bà rời mỏ về nhà, cũng sớm chiều cùng anh chị tụng kinh, chị cậy bà lên chốn heo hút này chăm sóc cho thày. E sa ngái quá. Một mình thày việc tụng niệm đã vậy, ăn uống làm sao. Chùa nhỏ chưa có tiểu. Bà là người duy nhất giúp thày đèn hương.

Ký ức bà Nhàn còn hằn sâu như một vết sẹo, buổi tối thày thưa với cha mẹ  xuống tóc đi tu. Anh chị bà  chết lặng. Nhà chỉ có ba người con trai. Cậu út có “căn”, rứt  vòng tay mẹ theo sư phụ lên chùa từ năm 11 tuổi. (Nay cũng  là đại đức trụ trì một ngôi chùa khác). Giờ lại thằng anh. Đã có giấy báo đỗ đại học Tổng hợp nhưng cất đi, tình nguyện nhập ngũ. Năm 1976 được phục viên về nhà. Tưởng tiếp tục con đường học vấn dở dang, năm sau bỗng dưng bỏ đi tu. Hỏi người mẹ nào không dằn vặt? Dẫu cả cha lẫn mẹ đã gặng gỏi mấy ngày đêm, thày cũng chẳng chịu nói nguyên nhân.  Định phận tự thiên thư thế rồi, có cưỡng  cũng không được. Vài năm sau, anh rể bà  ăn chay trường, cả nhà tu tại gia… Thôi thì cũng là phúc phận của gia đình bà, được Đức Phật Tổ chọn.

Trường Sơn. 1974. Chiến dịch phối thuộc giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Cánh bộ binh hành quân theo chân một cô gái giao liên người dân tộc bản địa xuống đồng bằng. Nước da nâu hồng, mượt mà màu quả bồ quân.Gương mặt thanh tú như nét khắc trên các khối tượng gỗ trầm tư cắm quanh những  khu nhà mồ đầy cây cỏ hoang trong vùng. Ánh nhìn sáng, trong veo tựa mắt một con nai nhỏ. Vạt váy thổ cẩm đầy hoa văn đã bạc, ngắn ngang bắp đùi nâu. Bước chân cô gái trong đôi dép cao su vô cùng lanh lẹ. Bộ đội hành quân đã ba ngày. Đây là trạm giao liên cuối cùng của vùng bán sơn địa. Tiểu đội trưởng trinh sát quần cắt ngắn ngang gối, đi đầu ngay sau giao liên. Không may dẫm phải đuôi một con rắn độc mốc thếch đang bò ngang qua đường mòn, bị nó mổ một phát đau điếng. Anh chỉ vừa kịp kêu lên một tiếng “rắn”. Cô gái giao liên đã nhanh nhẹn dừng lại, vẫy tay ra hiệu cho cả đoàn quân cứ tiến, rồi ngồi ngay xuống. Dải băng thổ cẩm buộc tóc được dùng làm garo phía trên chỗ rắn mổ. Cô bình thản cúi xuống hút hết máu bầm ngay chỗ vết cắn, nhổ đi. Sự việc diễn ra nhanh như nháy mắt, khiến Thanh chưa kịp bình tâm thì cô gái đã đứng dậy “Xong rồi, đi tiếp thôi”. Thanh chớp thấy nụ cười có hai lúm đồng tiền sâu rất duyên của cô gái. Chưa kịp cảm ơn, cô đã vụt chạy băng lên đầu hàng quân. Mớ tóc rất dài và dày bới gọn lại sau gáy.  Hình như vừa đi vừa kết nên đến lúc bộ đội tạm dừng, chỉ thấy hai bím tóc dài búi gọn lại thành  nắm. Như hai trái đào bên tai trông rất ngộ nghĩnh.

Thanh trở lại nhiều lần để trinh sát chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Anh cũng có nhiều dịp được gặp lại cô gái “của mình” như tự gọi. Tỉnh đội Kon Tum cho Y Van Ly đưa đường đi thực địa. Giữa họ đã hình thành một tình cảm thân thiết hơn mức bình thường. Đêm hoàn thành nhiệm vụ điều nghiên, Y Van Ly đưa Thanh ra ven bờ suối giữa rừng xanu. Trăng ngờm ngợp xiên chéo qua đám cành thông lá nhọn. Thanh vơ một đám lá khô rụng dày. Mùi nhựa. Mùi lá, thơm hăng hăng quẩn quanh chỗ ngồi thật dễ chịu. Y Van Ly kể Thanh nghe phong tục bó củi hứa hôn của làng. Các cô gái phải chặt để gọn dưới gầm sàn từ khi ngực mới nhú, cho tới khi đếm đủ một trăm bó :

- Anh có bắt em nộp củi không?

- Anh biết lấy củi về để đâu?

- Ơ! Củi là để nấu ăn ngày cưới đấy.

- Vậy à?

Con mắt trăng biếc xanh tò mò. Không gian mờ tỏ huyền hoặc. Suối đuổi nhau cười cợt trêu chọc, trượt qua những tảng đá lớn. Róc rách, róc rách thóc mách. Ánh mắt Y Van Ly long lanh đong đầy sóng trăng. Tiếng tắc kè một mình báo nắng mưa, nôn nao va vào bóng trăng, vỡ ra từng mảnh trên mặt suối.

Trong trận mở cửa đánh đồn Plei Ki, Thanh dẫm phải một quả mìn, bị thương ở đùi. Y VanLy và đồng đội cáng anh đến trạm phẫu tiền phương. Dẫu bịn rịn và nước mắt lưng tròng, cô vẫn phải rời anh để về ngay đơn vị. Vết thương khoét sâu vào gần hết phần mềm phía trên bắp đùi, Thanh phải chuyển ra tuyến sau.  Hai người mất liên lạc  từ đó.

 

Chuyến xe đò Bắc – Nam vẫn nổ máy, đỗ cuối đèo Lò Xo khi đã sang chiều. Nắng rừng đại ngàn nghiêng hết về phía vực mà đường vẫn  hừng hực nóng.  Một người lính quân phục cũ, ba lô cũ, chiếc mũ tai bèo chụp trên đầu cũng bạc hết màu cỏ, bước xuống xe. Lúc dừng ăn cơm trưa trên đường, khi nghe người cựu chiến binh dặn cho xuống chỗ Đèo Lò xo, bác tài – cũng một cựu lính xế Trường Sơn - ái ngại :

- Từ đó đến chỗ có làng của người thiểu số còn tới bốn năm cây số nữa đấy.

- Tôi biết ! Chiến trường cũ mà. Thắp hương cho các cụ đổ xe xong, tôi tự đi tiếp được. Ngày trước luồn rừng còn không lạc, huống hồ bây giờ đường nhựa thẳng tắp, thênh thênh thế này…cựu lính trinh sát mà anh.

- Chiều mai tôi lại ngang qua đường này, anh có cần tôi đón ở đâu không?

- Cám ơn anh ! Tôi còn phải ở đây lâu.

Dường như cũng đã quen với những người lính đến thắp hương chỗ chiếc xe đổ của các cựu chiến binh năm nào, bác tài phẩy tay chào rồi tiếp tục cho xe lăn bánh .

Tháng tư. Cái nóng giao mùa ở cao nguyên làm lũ sâu bướm trong bộng bừng tỉnh. Cựa quậy cắn thủng kén chui ra. Hóa thành ngàn vạn cánh bướm vàng rợp trời. Vũ điệu của lũ bướm dập dềnh lượn vòng tròn, khi thành một vệt chéo dài. Lúc lại là một đường cong mềm mại. Đôi lần chúng sà xuống đậu kín vạt hoa cỏ. Bước chân người khiến bầy bướm tung cánh vụt bay lên ào ào, quạt một luồng gió vào mặt mát rượi. Người lính lấy chiếc đĩa nhựa ai đó để sẵn trong am nhỏ bên đường, cẩn thận dùng mảnh báo lau sạch, bày biện số hoa quả mua ở chỗ nghỉ ăn trưa, đặt lên. Bó hương bắc chính hiệu anh mang theo trong suốt chặng đường từ Bắc vào Nam (các cụ đều từng ngụ ở Hà Nội mà), hương thơm rất sâu mà không gắt, toả khói nghi ngút trong bóng hoàng hôn rừng vắng lặng :

- Xin vong linh các cụ phù hộ cho con tìm được cô ấy. Con có lỗi vì đã hơn ba mươi năm, nay mới trở lại. Nhưng đó là việc ngoài ý muốn của con.

Tuần hương thứ hai đã vạc một nửa, bỗng bùng bùng ngọn lửa. Vái ba vái, đội lại mũ, anh xốc ba lô lên vai. Rảo chân trên  đường chiều.

Đã ba ngày. Thanh phát huy hết các bài học và kinh nghiệm lính trinh sát để tìm những con đường giao liên và làng cũ của Y Van Ly mà không thấy. Khắp nơi mênh mông vườn cà phê, tưới muộn nên hoa trắng cũng nở muộn. Hương đặc trong gió như có thể dùng dao mà cắt ra từng miếng. Cao su hàng nối hàng, lộc xanh nõn lao xao tít trên ngọn. Chỗ này là xưởng chế biến mủ rộng mênh mông, máy chạy ầm ầm. Mùi thum thủm theo gió loang khắp vùng. Chỗ kia là văn phòng Công ty cà phê. Nhà tầng ốp đá granit, cửa kính sáng loang loáng. Làng chỉ thấy toàn áo quần xanh công nhân đầy dây phơi. Nhà gạch, nhà tầng nối nhau. Đường nhựa thẳng tắp. Plei em bây giờ ở đâu?

Trở ra lộ sau một ngày nữa lui tới. Thanh theo bậc cấp lên bờ đường cao, ghé vào cái quán tựa lưng vào vách đồi, một bên hàng ăn, một bên bán tạp hoá, gọi ly cà phê đá mà quên uống. Cái lạnh trong ly rìn rịn tan chảy thành dòng trên mặt bàn. Thanh hoang mang thẫn thờ ngó mông ra đường. Ngày xưa nơi đây là đường mòn, hai bên toàn rừng già. Làm gì có phố xá với đèn cao áp sáng choang thế này. Nhưng hơn ba mươi năm rồi, đổi thay là phải. Ngày ấy chỉ có người Sê Đăng với bộ đội. Nay những nơi anh qua toàn dân kinh tế mới. Nghe nói chính quyền vận động bà con người dân tộc các làng dời rừng, bỏ làm rẫy,  xuống thung lũng học cấy lúa nước. Biết làng em bây giờ chuyển đi đâu? Chiều cao nguyên xuống nhanh như ai trút. Sương mù màu tím nhạt từ rừng xa ùa ra bàng bạc cả thị trấn. Cảnh và người đều ảo ảo, mông lung trong sương.

Chị chủ quán to béo người Bắc, tính xởi lởi, sốt sắng chỉ chỗ, giục rửa mặt mũi chân tay rồi dọn một phần cơm nóng hổi cho anh. Chỉ vài câu hỏi han, chị chủ đã biết mục đích chuyến đi của Thanh, nên vui vẻ khuyên:

- Tối nay chú cứ ngủ lại đây. Nhà rộng, đủ chỗ. Ông xã tôi cũng là cựu chiến binh, hôm nay phải lên tỉnh tập huấn nên không có nhà. Nhưng ông nội thì có đấy. Cụ thế nào cũng giúp được anh. Cứ yên tâm. Cơm nước xong mời anh vào nhà trong uống trà, trò chuyện với cụ.

Ông cụ ngồi mà vẫn thấy rõ thân hình cao lớn. Ngoài 80 tuổi nhưng ánh mắt tinh, tai  thính, giọng nói sang sảng. Mái tóc bạc phơ như một vầng bông  xoã dầy trên vai, khuôn lấy gương mặt nâu nét sắc như gỗ tạc. Hết hai xị rượu đế với mấy miếng khô cá thiều, ông cụ đã bắt đầu hứng khởi, kể:

- Du kích plei mình đánh nhau với Pháp với Mỹ giỏi nhất vùng này chớ. Hồi mình chỉ huy đâu có súng. Chỉ tên tẩm thuốc độc, hầm chông với bẫy đá thôi, tụi Pháp làm gì được đâu. Đánh Mỹ sau này du kích mới sướng, lấy AR15 của thằng Mỹ bắn chết Mỹ luôn …hà hà hà..

- Mình đổ cả gùi cỏ khô lấp miệng cống từ sáng. Chiều đi cỏvê, nó giả vờ xin đi ngoài, chui xuống cống luồn ra nấp ở đó. Tối hù mình mới tới dỡ ra lôi lên. Nó còm như thằng nhỏ chưa tới mười mùa rẫy. Mình bỏ nó vô trong cái gùi. Mấy người thay nhau cõng về tận Plei luôn.

-  Nếu mình đừng giết mấy thằng chỉ huy Pháp đó, mình cũng được phong anh hùng như Núp chớ. Cấp trên nói mình vi phạm chính sách. Nhưng mình ghét thằng Pha lăng đó đốt  cháy hết  cả mấy plei, giết người bà con nhiều lắm, đâu có kể con nít, đàn bà. Giữ nuôi, làm gì có bánh mì cho nó ăn. Ăn cơm mình tốn gạo, tốn củ mì, bắn bỏ cho xong. …hà hà hà.

Không có chút oán giận nào trong tiếng cười sảng khoái của ông lão đẹp như tiên ấy.

Ối trời! Anh nhớ rồi. Trước mắt anh là cụ Mết, nhân vật huyền thoại cả thời chống Pháp lẫn chống Mỹ của người Sê Đăng ở Kon Tum. Tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc học hồi phổ thông đây này. Phim “Rừng Xanu” xem ngày chưa đi bộ đội nữa, đều có nhắc đến cụ.  Hồi còn ở chiến trường Tây Nguyên, đơn vị anh luôn ao ước được phối hợp với du kích làng cụ mà không có dịp. Đúng rồi. Hồi đó anh cũng nghe các thủ trưởng kể “nếu ông cụ đừng bắn mấy tên tù binh là chỉ huy lính Pháp thì cũng tập kết ra Bắc, rồi được phong Anh hùng như bác Núp. Thành tích của cụ không kém gì ai đâu nhé”. Câu chuyện cụ vừa kể chính là chiến công cứu người tù chính trị bị giam ở ngục Đăk Glây, sau này là một nhà thơ, cán bộ cao cấp của nhà nước. Cụ Mết là người tổ chức thực hiện thành công  cuộc giải cứu ấy. Nghỉ ngơi tại làng Sê Đăng mấy ngày, lại cũng cụ chuẩn bị quần áo, giày mũ và lương thực vài ngày đường, rồi cử người đưa ông ấy luồn rừng giao cho chính quyền tỉnh Thừa Thiên…

- Cụ ơi, thế sau này, ông ấy có quay lại đây không ạ?

- Quay sao được. Cùng một mẹ cha mà chia hai miền. Đánh nhau với người Mỹ 20 mùa rẫy nữa chớ. Ổng sao tới được? Ngày đó đâu có cho dùng tên thật đâu. Mình biết, vì nghe ổng kể lại chuyện trên radio đó thôi. 

- Sau năm 1975, ổng cũng không tới ạ?

- Bơih! Còn bận nhiều việc cho nhà nước, cho nhân dân chớ ! Ổng làm việc to. Mình làm việc nhỏ. Việc của mình là nhiệm vụ cấp trên giao. Nếu đã được phân công thì sống chết gì cũng phải làm cho được thôi.

Nụ cười hồn nhiên khiến gương mặt ông lão hồng hào hẳn lên. Câu chuyện của hai cựu chiến binh một già một trẻ  suốt đêm không dứt. Thanh biết được về con trai cụ Mết, một bác sỹ người Sê Đăng đi B đã cưới cô y sỹ quê Thái Nguyên trong căn cứ. Nay nghỉ, mở quán này. Cụ Mết cũng biết chuyện Thanh đi tìm cô giao liên tên Y Van Ly.

 

Thanh giật mình. Cửa mở. Bàn tay ai mát lạnh chạm vào anh? Một thiếu phụ tóc dài và dày  nắm lấy tay anh dắt đi. Hai người băng qua đường tiến sâu vào rừng thông. Trăng hạ tuần nhàn nhạt không thấy rõ mặt. Cảm giác bình an khiến anh cứ lẳng lặng bước theo. Đi không biết bao lâu. Một căn lều nhỏ. Người phụ nữ dừng lại, quay mặt về phía anh “Ôi! Y Van Ly!” Cô gái trẻ nhoẻn cười, ra hiệu đi tiếp. Róc rách suối. Xào xạc cây.  Khoan nhặt tiếng tắc kè. Tiếng cồng chiêng âm âm lúc xa, lúc gần. Phía sau căn lều hiện lên một khoảng rừng trống. Một cây nêu cao vút và một đống lửa bập bùng. Có cây củi cháy hết, đổ gục xuống. Ngàn vạn hạt  bụi than đỏ lừ vụt bốc tung lên như sao sa. Đông người tụ tập quây thành vòng tròn rộng. Mỗi nhóm bốn năm người vây quanh một ghè rượu. Hàng chục ghè rượu. Chắc uống đã lâu nên thấy ai cũng gật gù. Hay thật, mình cũng say? cả cây nêu, đống lửa lẫn mọi người, đều lơ lửng không chạm đất, di chuyển nhẹ bỗng như có thể bay lên được. Y Van Ly kéo anh ngồi xuống bên một ghè rượu gần gốc cây thông đại cổ thụ. Có lẽ là già làng, tóc bạc phơ gương mặt hơi giống cụ Mết, thân thiện kéo đặt vào tay anh cần rượu “Uống đi bộ đội. Ba cang. Năm cang nhé. Mừng bộ đội biết tìm về lại với kon plei”. Thanh  uống. Ừ thì ba cang. Ừ thì năm cang. Anh tìm thấy em rồi Y Van Ly !

Rồi không biết từ lúc nào Thanh thấy mình ở giữa vòng suang. Đeo chiếc trống bọc da bò. Từng bước. Khi nhún theo nhịp chiêng trống, khi nhảy vút bay lên khỏi mặt đất. Hàng trăm cô gái. Ai cũng xinh đẹp, nhưng không ai bằng Y Van Ly của anh, thân hình và đôi tay dịu dàng, uyển chuyển uốn lượn. Họ đồng loạt tiến lên, lùi xuống trong một vũ điệu mê say vòng quanh đống lửa và cây nêu. Chân người không chạm mặt đất. Y Van Ly kia, giữa vòng suang. Nụ cười xinh như hoa mộc liên, gương mặt hồng lên dưới ánh lửa. Vẫn hai bím tóc dày như hai trái đào lớn bên tai. Lạ thật? Hàng mấy chục năm sao em không già đi chút nào? Thanh thoáng nghĩ rồi lại miên man cuốn theo nhịp chiêng trống và những bước chân của vòng múa. Bỗng chỉ còn có hai người nắm tay nhau cùng xoay đến chóng mặt trong một điệu luân vũ khác. Tóc Y Van Ly bung xõa ràng rịt quấn quanh người anh… “Ô. Sao đầu anh trọc lóc vậy?”….

- Dậy đi chú bộ đội! Ông nội nói sẽ đưa chú về làng đó!

Thanh giật mình. Bà chủ quán to béo đang lay mạnh vai anh.

- Ông nội cứ nằng nặc đòi đưa anh tới chỗ Y Van Ly. Nói chờ ba các cháu hôm nay về đi cùng, nhưng ông không chịu. Đi chầm chậm thôi nhé. Lâu rồi ông không đi xa khỏi thị trấn. Cho cả thằng cháu theo, có gì nó đỡ ông với anh.

-  Mí thằng Lang không phải lo cho bă. Chân còn khỏe hung. Yang cho bă thêm sức khỏe để đi về kon plei với Thanh mà.

Thanh nghĩ mình vẫn đang trong đám hội. Nhưng cụ Mết đây. Không phải già làng tóc bạc. Cả chị chủ quán vui tính nữa. Mọi người đâu rồi? Anh dụi mắt ngồi bật dậy…

 

Con đường theo cụ Mết về làng đã trải nhựa gần hết. Thằng cháu nội bảo lấy xe máy đi cho nhanh, ông cụ không chịu.

- Hồi kháng chiến ông đi bộ miết. Có sao đâu.

- Nhưng nội ơi, hồi đó làm gì có đường.

- Ơh! Xe máy chở ba người là phạm luật giao thông nhé.

Đến đó thì mẹ con thằng Hoàng đành phải chiều lòng cụ. Đi sớm nên trời  mát.  Đi chậm để cụ đỡ mệt như chị chủ quán dặn. Thả sức ngắm bướm vàng tung tăng dỡn gió nữa (Cái “món” bướm từng đàn, từng đàn thế này, cũng là một đặc sản của cao nguyên đó chớ!). Đã hết mùa gió lộng. Đủ để  thoải mái tắm nắng vàng mà không sợ mệt mỏi. Gió lớt phớt nhẹ nhàng đùa cợt với người. Thằng cháu nghịch ngợm buộc vào đầu cây gậy một sợi dây và một mảnh giấy nhỏ. Phất lên quanh đầu. Cả dây bướm dài lê thê kéo nhau  lượn theo mảnh giấy.

- Có ai ở Đăk Tơ Ra không biết Y Van Ly chớ! Nó làm giao liên. Dẫn giải phóng đi xuống Trà My an toàn. Lần nào cũng một mình một AK báng gập luồn rừng về cứ. Mỹ với biệt kích cũng sợ nó chứ đừng nói con thú trong rừng. Có nhiều cái giấy chính phủ và bộ đội khen lắm. Treo lên thì kín hết vách nhà sàn đó.

- Cô ấy lấy chồng bao lâu rồi cụ?

- Chồng nào mà lấy? Nhiều con trai trong kon plei ưng mang cườm qua đổi lấy bó củi kết đôi lắm. Nhưng nó đâu chịu ai. Chờ bộ đội giải phóng mà. Có hẹn nhau với bộ đội mày chớ gì nữa.

- ……

Câu chuyện về người con gái giao liên có hai bím tóc trái đào “của anh” hiện dần mỗi lúc một rõ nét, theo từng bước chân của ba ông cháu. Hàng trăm lượt. Bất kể ngày đêm. Nắng mưa. Bom giập. Pháo bầy. Đưa quân, đưa cán bộ lên xuống giữa miền núi và đồng bằng an toàn. Tỉnh đội đã định làm thủ tục tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn miền cho Y Van Ly. Nếu không có chuyến đò qua sông Pô Kô giữa mùa lũ quét năm ấy của trung úy A San…

Con sông  mùa khô nước trong veo, xanh leo lẻo như lá cây rừng. Lội qua sông cũng được. Chỉ cần một cơn lũ đầu mùa bỗng biến thành con trăn khổng lồ, nuốt vào trong cái bụng phình to đục ngầu, hàng trăm cây gỗ, nhà cửa lẫn con người nơi nó trườn qua.

Quân đi vào phía trong mùa ấy đông nườm nượp. Sắp đánh lớn mà. Chiếc thuyền độc mộc – tài sản của gia đình A San mang theo phục vụ giao liên qua sông – chỉ chở được tối đa là 5 người. Bộ đội tràn xuống sông. Người nào cũng muốn leo lên thuyền sang trước. A San và Y Van Ly hét khản cổ không ai nghe. Bộ đội trên bờ xúm vào phụ đẩy thuyền ra giữa dòng… Lũ quét. Sóng lớn bất ngờ. Ba ngày sau làng Kon Rơ Ve gần thị xã Kon Tum vớt được 15 thi thể. Đận ấy trung úy A San bị kỷ luật. Thông báo toàn lực lượng. Buộc rời quân ngũ. Qua báo chí, Thanh biết ông ấy sống âm thầm lặng lẽ ở làng hàng mấy chục năm. Cho đến lúc có một nhà báo địa phương phát hiện ra. Người ta sửa sai và nhanh chóng làm thủ tục định phong tặng ông danh hiệu Anh hùng. Nhưng ông đã thanh thản về với đất trời. Trước khi có quyết định minh oan cho án kỷ luật ngày ấy.

- Đây! Y Van Ly ở đây!

Cụ Mết bất ngờ ngoặt vào một cánh rừng nhỏ. Bóng cây dày tối thẫm. Khắp nơi rải rác những căn lều nhỏ. Cái còn mới. Cái đã rách nát. Cái nào cũng trang trí bằng rất nhiều những sợi dây trắng, đỏ, đen buộc chung quanh mái. Dưới mỗi mái lều, gác trên những chiếc giá gỗ bắt chéo thấp lè tè gần sát  mặt đất là nguyên những khúc gỗ dày, cưa một mảnh nhỏ làm nắp đậy. Nghĩa địa của làng. Thảo nào mà còn nhiều cây cổ thụ đến thế.

- Nó đó!

Họ đứng trước một căn lều cột đã gãy sập.  Mái lá mục nát ụp xuống ôm lấy mặt đất. Phủ kín ngôi mộ là vòm hoa lạc tiên khổng lồ. Những bông hoa nhỏ vòng trắng viền xanh như hàng ngàn cặp mắt tròn xoe ngước nhìn lên vòm lá rừng. Quả xanh mươn mướt. Quả vàng lúc lỉu. Thằng cháu cụ Mết bóp mấy quả chín trong lòng bàn tay. Hương thơm hoang dại lan lan trong gió.

Người Thanh cứng đơ như cây tượng gỗ cắm xuống đất. Một lúc lâu mới từ từ ngồi xuống. Mở ba lô bày ra trên mặt cỏ những gói bánh, kẹo, lon nước ngọt chọn trong quán chị béo khi sáng. Một bộ áo dài hoa đỏ và bộ quân phục còn nguyên màu rêu đặt cạnh bên. Chai rượu trong vắt với hai chiếc ly. Chậm rãi rót rượu. Chậm rãi thắp hương. Chậm rãi lột chiếc mũ tai bèo xuống khỏi chiếc đầu không có tóc. Nắm hai bàn tay trước ngực. Thủ thỉ:

- Bộ áo dài này anh may ngay sau ngày  xuất viện. Tưởng chỉ kiếm đủ tiền làm đám cưới là quay vào tìm em. Nào ngờ… lần mổ ruột thừa, bác sỹ cho biết vết thương đi quá sâu. Anh xin lỗi. Vì không muốn để em phải chịu thiệt thòi, đành im lặng suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng trái tim anh chưa bao giờ phai mờ hình ảnh của em. Anh trở lại xin cưới em.

Thanh nâng cao hai chiếc ly, chạm vào nhau. Cạch. Một ly anh uống cạn. Một ly tưới đều rượu lên vòm hoa lạc tiên. Hai ly nữa:

- Xin cụ chứng dám cho đám cưới đơn sơ của hai chúng con.

Cụ Mết mỏi chân, ngồi bệt xuống đám cỏ. Bây giờ đứng lên, ngửa cổ uống cạn một hơi. Trao lại chiếc ly, tháo chiếc vòng đồng trên tay, đeo vào cho Thanh:

- Thay mặt Kon Plei Sê Đăng. Ta nhận bộ đội làm con rể của làng. Cháu ngoại của bộ đội 15 mùa rừng thay lá rồi đó. Nó đang học trường nội trú ngoài thị trấn đây nè.

Bó hương Hà Nội bùng lên phần phật lửa. Mùi trầm ngan ngát lan tỏa trong không gian vắng lặng của trưa tháng tư. Hàng ngàn con bướm bỗng từ đâu tràn vào đầy rừng. Tung tăng, quay cuồng trong vũ điệu hoan lạc của tháng sinh sôi. Con bướm xanh đen lớn nhất, cánh ánh bạc, to như chiếc lá,  sà xuống đậu trên vòm hoa lạc tiên, dương đôi mắt ngô ngố nhìn Thanh.

Giờ thì em đã vu quy. Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước”*

Thanh soi vào mắt bướm, nhè nhẹ đọc câu thơ của người đồng đội năm nào. Đám mây trắng nõn sà xuống vòm lá. Nắng hừng lên sáng cả một khoảng trời. Hàng ngàn cánh bướm vẫy vẫy vút bay lên. Gió rừng xào xạc.

 

Giáo hội cử Đại đức khác đến trụ trì ngôi chùa nhỏ trên núi. Bà Nhàn nói thày đã cưới vợ. Hoàn tục.

---------

* Thơ Vũ Bình Lục

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn