Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Chùm truyện ngắn trên báo Văn Nghệ gần đây

02-12-2011 11:48:38 AM

VanVN.Net - Mỗi truyện một vẻ không giống nhau, nó cho thấy truyện ngắn trên Văn nghệ đang dần phong phú và nóng lên. Ngọn gió mùa thương phát hiện nét tính cách nghĩa trượng có lẽ chỉ có thể xẩy ra trên vùng châu thổ Nam bộ, nơi thiên nhiên còn ít nhiều hậu đãi con người và sự thấu hiểu tình yêu, nghĩa vợ chống lại làm nên cái mới cho tính cách anh Hai Lúa? Huyền thoại sông nước đọc hấp dẫn, ngợi ca khát vọng chiến thắng có thể khiến con người dùng bản thể làm vật tế, so với cái mới ở anh Hai Lúa trong truyện trên hóa ra lại là điều đã cũ cần nghĩ lại? Tác giả truyện Xóm ven núi Diên trình bầy một hiện thực xót xa, nếp nghĩ sai lệch một thời tưởng đã dứt sau đổi mới, chỉ là chuyện ở “xóm ven” thôi nhưng hóa ra nó vẫn là thử thách nghiệt ngã đối với tình yêu đồng loại, yêu đất nước của một người tử tế. Âu cũng là motip cái ác nhân danh lợi ích chung? Truyện Chị Mỵ làng Minh Quang vừa bùi ngùi vừa hài hước, kể về cái ác cái quan liêu và cả cái dan luật trí đã biến một gia đình hạnh phúc thành tan đàn sẻ nghé cứ như một trò chơi của cuộc đời…

NGỌN GIÓ MÙA THƯƠNG

Truyện ngắn của NGUYỄN TRÚC VIÊN

Chị Ba Hiền lặng ngồi nhìn bồn bông súng nở bông lấm tấm trắng trên thảm lá xanh rờn. Những bông trắng nhỏ bằng đầu ngón tay nở xòe, khoe cánh bông mềm mại, mỏng manh và chòm nhụy bé tí điểm trên đầu những hạt phấn vàng phơn phớt. Rất gợi cảm! Chị Ba Hiền thấy hài lòng. Đám bông súng ma đang khoe nét đẹp hoang dại trong bồn nước ở góc sân nhà chị, hoang dại mà vẫn đẹp, vẫn khiến người ta nhìn ngắm một cách thỏa mãn với nhiều cảm xúc.Vậy mà thói thường ở trong cuộc sống, người ta chỉ hướng sự tôn vinh đến những kỳ hoa, dị thảo, đến những sự phi thường, cao sang, đến những đặc biệt, lạ lẫm… Chị Ba Hiền cười buồn khi thoáng nhớ đến chồng mình. Chị nhớ lần mình và chồng cãi nhau về việc trồng gì trong bồn nước ở góc sân nhà. Anh hài lòng khi đã thực hiện xong một công trình nhỏ, có thể gọi là hợp phong thủy, trong không gian sống của gia đình.

- Má thằng Hậu kiếm giống cây gì đó mà trồng vô đó, cho nó có sự phát triển sinh sôi!

ờ! Phải như vậy! Chị Ba Hiền tán thành ý kiến của chồng. Trong chuyến về quê cúng giỗ ông cố, chị nhờ người vào tận trong đìa cạn ở đồng sâu tìm cho chị mấy củ sen hồng và mấy củ bông súng trắng, đem chúng về đặt vào bồn nước. Anh Ba bận rộn, nào việc ở cơ quan, nào tiệc tùng, bè bạn; Thời gian anh về nhà chỉ còn là để giải quyết sinh hoạt cá nhân. Anh không nhớ là đã bảo vợ mang gì về trồng trong bồn nước “ phong thủy” ấy. Bất chợt, một ngày rảnh rỗi, anh bước đến ngắm nhìn lại công trình của mình. Gì vậy? Sao lại có mấy chòm lá mềm như rong rêu này? Chị Ba cười, vô tư.

- Sen hồng chưa đâm lá. Còn đây là lá của bông súng ma!

- Trời! Sao không kiếm giống cây gì cho sang trọng, như là thủy trúc hay là thủy tiên  hay là Forget me not hay là bông súng Nhật Bản…?

Chị Ba Hiền ngẩn người. Chị không cãi nhau vì sở thích khác biệt của mình và chồng. Chị cảm thấy giận dỗi vì bị tổn thương.

-  Ông thấy thích giống gì khác thì đem giống ấy về mà trồng! Còn tôi thì… thích giống này thôi!

Anh Ba cũng không cãi với vợ. Anh lầu bầu rồi thay quần áo, đi ra quán rượu với các bạn nhậu của mình, uống bia và cợt nhả các cô gái tiếp viên của quán; đến khuya lắm, anh mới về  nhà và lăn ra ngủ, sáng hôm sau lại đến sở làm. Lần ấy, chị Ba Hiền buồn rất lâu, lâu nhất trong những lần cãi nhau với chồng. Chị cảm thấy có một khỏang cách rất rõ với chồng, sau mười tám năm chung sống. Sao chị lại không biết đến những loài cây mọc trong nước là giống ngoại nhập mà anh nói đến ấy?! Nhưng anh quên là những giống cây trồng mà chị mang về nhà mình là những thứ gợi nhớ kỷ niệm của  ông cố, ông nội, của cha mẹ chị, của tuổi thơ chị và cả của một người có gốc gác từ nông thôn như anh, với những mùa nước lụt mênh mông ở vùng đất thấp, quê nghèo, năm xưa? Anh không biết, chị ưng lấy anh, theo anh và theo công việc làm ăn về sống cuộc sống kẻ chợ, với chừng ấy năm, hạnh phúc của một đời làm vợ, làm mẹ đã trải qua, có cả những điều được sự hài lòng của cả vợ lẫn chồng nhưng cũng chẳng phải ít việc mà cả hai đã sống như không đúng với chính mình. Có lúc, tất cả là trong tầm tay của cả hai người nhưng cũng nhiều khi một trong hai người vẫn cảm thấy chơi vơi tựa như mình là một cá thể cô đơn lạc loài trong chính quần thể  là nơi chốn của mình. Sao vậy, trời? Nhiều lúc, chị Ba Hiền ngẫm nghĩ và thấy giật mình. Có thể, đó là những lúc mà người ta không an phận! Nhưng sao gọi là an phận hay không? Chị đã không an phận sao, khi mà suốt từ ngày chị làm vợ anh đến nay, chị cảm thấy hạnh phúc khi nghe mẹ chồng của chị gọi chị  là “ vợ thằng Hiền” hay thân bằng, quyến thuộc gọi chị bằng thứ và tên của anh, Ba Hiền? Không! Chị không hề muốn thay đổi hoàn cảnh sống này, dù có ra sao đi nữa! Đó là sự chọn lựa và đánh đổi mà chị đã quyết định từ thời con gái. Giờ đây, có sao đâu, khi chỉ là đôi lúc chị phải chấp nhận sự khác mình, với chồng, mà thôi!

*

út Mai ngồi chù ụ, một mình, sau hè nhà. Đây là góc khuất để không ai tìm thấy út Mai; nơi mà cô có thể ngó ra cánh đồng xanh mướt, thẳng đến chân trời ngút mắt. Trong nhà, mọi người đang bận rộn, tất bật, ồn ã, chuẩn bị cho cuộc đưa dâu vào sáng mai. Mọi người đang vui vẻ sắp soạn để đưa út Mai về  cầu Kinh 13 làm dâu nhà người ta nhưng út Mai không màng đến. Cô hờn giận cha mẹ mình. Sao mà cha mẹ cô lại làm vậy? Mặc dù cô là con gái của cha mẹ cô nhưng mà cha mẹ cô muốn cưới gả cô cho ai thì cũng phải hỏi ý kiến của cô, xem coi cô có chịu ưng người ta hay không?! Đằng này, cha cô đi vô Kinh 13 mua lươn giống về để thả vô vèo nuôi cho lứa lươn xuất trại vào cuối năm, bỗng dưng hứa hẹn gả út mai cho con trai ông chủ trại lươn giống. Cha cô, ông Năm Lon, nói trong lúc vẫn ngà ngà say rượu.

-  Không dễ kiếm chỗ lấy chồng tử tế đâu, út à! Trại lươn của ba nó lớn lắm, con! Còn thẳng*, con trai độc nhứt của nhà đó, lo làm ăn lắm! Ba thấy mối này “được”! Ba với ba nó hứa với nhau rồi! Lời “chắc như đinh đóng cột”, nghe út!

- Nhưng mà con không thương “thẳng” của ba! Con không ưng “ thẳng” của ba đâu!

Cha của út Mai vẫn khề khà. Ông không màng đến sự phản kháng của con gái.

- Nhưng mà ba đã hứa với người ta rồi! Ba hứa rồi, làm sao khác được, hả út? Tháng tới là cưới, nghen con!

Vậy là cưới! út Mai khóc với má mình. Cô đành phải nói thật với má cô là cô đã đem lòng thương người khác rồi; Người ấy học chung với cô ở trường cấp 3 trên huyện; hiện tại, người ấy mới xin việc ở sở gì đó trên tỉnh, làm nhân viên thôi; người ấy còn trẻ, mới vô làm việc, chưa chức vụ gì, chưa tiền bạc, tài sản, nhà cửa đất đai gì! Chuyện thấu tai cha của út Mai. Ông không hề thay đổi quyết định. Ông nhất quyết không gả con gái cho một “ thẳng” không có gì đảm bảo cho cuộc sống của con gái ông. út Mai khóc:

-  Nhưng mà con thương…!

Không thương tưởng gì hết! Cưới là cưới, với con trai ông chủ trại nuôi lươn giống ở trong cầu kinh 13!

út Mai lại khóc. Cô lại đem chuyện của cô, năn nỉ với ông nội của mình, lại vịn vào cả chuyện của ông cố, ông nội ngày xưa. Cháu biết hết mà! Hồi đó, hồi ông cố kén ông nội làm rể đâu có  nghĩ gì đến tài sản, đất đai nhà cửa, đâu có tính chuyện thân thế giàu nghèo, đâu có nghĩ chuyện xứng sui gia hay không? ừ! Ông cố là thầy điền trạch chuyên thu mua  thủy lợi mà; Chỉ cần ông cố cặp nón, đứng ở trên bờ hầm, bờ đìa, nhìn khơi mặt nước, là có thể đánh giá dưới nước có bao nhiêu ký cá; Mà ông cố còn giỏi đến mức ước lượng được, gần chính xác, bao nhiêu ký cá đen ở sâu dưới đáy hầm, bao nhiêu ký cá trắng nổi trên mặt nước nữa. Nhờ vậy mà ông cố luôn trúng quả đậm, đã trở nên người giàu nhất làng Vĩnh Hanh lúc ấy. Vậy mà, ông cố đã chọn ông nội làm rể!

Hỏi, Cha mẹ còn sống hay không, ở xứ nào? – Cha mẹ còn hiện tiền, mà xứ sở thì xa lắm, ở tuốt dưới cửa biển Ba Lai! Hỏi, Làm sao tới được đây mà quen với con Chín nhà qua? – Dạ! Con không cam chịu nghèo và không cam chịu ngồi không, nên lặn lội đến đây, ai mướn việc gì cũng làm, kiếm sống và kiếm dư ăn, dư để! Hỏi, Đã quen, đã thương con Chín nhà qua mà có tính chuyện vợ chồng, ăn đời ở kiếp với nó không? – Dạ, có! Hỏi, Vậy qua tính chuyện cưới gả nó cho chú em, chú em có ưng không? – Dạ, có! (Hơi lưỡng lự). Vậy, bác không hỏi gia đình bên nhà ba má con nghèo hay giàu, có xứng sui gia với nhà bác hay không sao? Lắc đầu, Thôi khỏi! Qua chọn chồng cho con gái qua, đang ở trước mặt qua đây rồi! Còn dò, còn hỏi ở đâu nữa, há?

Đã hơn sáu mươi năm rồi, hả ông nội? Ông cố đã về Trời, để lại trong lòng thương cảm của người con rể, là ông nội, một mối cảm kích không thể nào phai, hiếm có trong đời về mối quan hệ giữa cha vợ hiền và con rể quý. Ông nội nói ít lời với ba con, dùm cho con, nghen ông nội! ừ! Chỉ e rằng, cha con… nó không chịu nghe ông!

Vẫn cứ là… cưới! Thiệp hồng báo tin, mời khắp bà con, thân tộc, láng giềng xa gần. Còn thay đổi gì được nữa đâu! Hôm nay, tiệc nhà gái nhóm họ. Ngày mai, đàng trai đến đón dâu. Sao gã con trai của ông chủ trại nuôi lươn lại cũng làm thinh, không phản đối, ta? Vậy là y ta cũng ép mình, à? út Mai lại thấy giận y ta! Thanh niên thời đại này mà lại để “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, à? Ta đâu có thương ông? Ông cưới ta làm chi? Không như thông thường giống mọi cô dâu lo việc trang điểm và chuẩn bị quần áo trong ngày cưới, út Mai cứ ngồi buồn và mặc kệ. Cô mặc kệ cho mẹ cô và các dì, các chị lo toan mọi thứ… Cô mặc kệ tất cả! Cũng không cần gặp người sẽ là chàng rể, con trai ông chủ trại nuôi lươn giống, để thương lượng ngỏ hầu hồi lại việc cưới xin. Cũng không cần gặp lại người ấy, người mà út Mai đã thương tưởng và vì người ấy mà đau khổ, xót xa khi phải chia lìa. út Mai mặc kệ cho số phận hôn nhân của mình… út Mai mặc kệ đời mình, ra sao thì ra…sau này!

Ngày mai của út Mai đã đến. Không có gì khác, đàng trai vẫn đến rước dâu như mọi giao ước trong các đám cưới. Người ta khoát tấm màn cửa buồng, dắt tay út Mai ra để cô cùng chú rể lạy bàn thờ  ông bà, chuốc rượu lễ dâng cho ông bà, cô bác và cha mẹ. “Xin ông bà, cha mẹ, cho con xuất giá, theo chồng” ai đó nói dùm cho út Mai. Má của út Mai khóc, thương tủi cho con gái về những nỗi niềm mà bà biết con gái mình phải chịu đựng. út Mai chỉ gằm mặt xuống mà không nước mắt. Có lẽ, cô chỉ thấy lòng hờn giận mà thôi! Lúc ấy, út Mai không một lần nhìn thẳng mặt chú rể. Nếu chịu khó nhìn, có lẽ cô sẽ không bao giờ quên được ánh mắt và nụ cười của y ta. Mãi sau này, chị Hai của út Mai mới kể lại “Chị thấy mặt mày thì hầm hầm, còn “thẳng” thì cứ mim mím cười, cả trong mắt, cả trên miệng và cả trên gương mặt. Chị nghĩ, chắc là chú rể đang vui mừng lắm đây! Hóa ra…”

Tiệc đám rước dâu của nhà trai đã tàn. Chú rể nói nhỏ vào tai út Mai, “Em vô buồng thay đồ đi, rồi ra tiếp mọi người lo dọn dẹp nhà cửa, há! Mở quyển sổ mà anh để trên bàn, đọc những gì anh ghi chép, há!”. út Mai không ừ hử, lặng lẽ làm theo lời y ta. Cô vào căn buồng lạ, chưa vội thay quần áo, đã lo mở  quyển sổ ghi chép của y ta. Cô lầu bầu, trề môi, bất nhẫn, “Chưa gì… đã ghi chép sổ sách để dạy dỗ người ta!” út Mai mở trang đầu quyển sổ. “Trời !”, út Mai thầm kêu lên. Những dòng chữ rắn rỏi của y hiện lên, “ Mai à! Tôi không ép bà đâu! Tôi biết hết mọi chuyện và tôi đã gặp ông ấy của bà rồi! Tối nay, tôi đưa bà ra chỗ ông ấy rồi hai người tự liệu, nha! Yên tâm đi! Tôi sẽ lại cưới vợ lần nữa, người mà tôi thương! Chúc bà và ông ấy trăm năm hạnh phúc!”

Đêm ấy, cô dâu út Mai cùng chồng mới cưới đi sang nhà bạn hàng xóm chơi, rồi cô chẳng trở về. Chú rể đưa người vợ mới cưới của mình ra bờ kinh; ở đó, có một chiếc xuồng ba lá và một chàng trai khác đang chờ đợi họ. Chiếc xuồng lặng lẽ tách bến sông. Đôi bạn trẻ trên xuồng sẽ đưa nhau về một bờ bến khác. út Mai và người ấy không nói với nhau lời nào nhưng họ biết thế nào là hạnh phúc; quý giá làm sao, khi mà cả hai đang có được thứ sắp tuột khỏi tay mình! Riêng út Mai thấy rưng rưng, muốn khóc, trước cách cư xử của y ta, chú rể mà út Mai không buồn nhìn thẳng mặt trong ngày đám cưới. Sau này, út Mai mới biết. Đêm ấy, chú rể không có cô dâu mới, ngồi uống rượu ở nhà người bạn láng giềng đến sáng bảnh mới về; Bị cha mẹ chửi cho một trận, quá sá, về cái tội đã đi uống rượu sáng đêm trong ngày cưới vợ mà lại còn tổ chức cho cô dâu mới cưới trốn theo người khác! Có một chú rể làm chuyện … trời ơi như vậy, những tưởng không có xảy ra trong đời, nhưng mà đã có, ở một làng quê vùng sâu, rất sâu, trong tận cầu Kinh 13, và ở trong tận cùng ký ức của những đời người ở làng quê ấy.

*

Người  đồng sự ở chỗ làm việc của anh Ba Hiền đến tận nhà, nhân lúc anh Ba Hiền đi vắng, để nói với chị là anh đi, gọi là đi công vụ, nhưng thật ra là đi du hý cùng ả thư ký văn phòng. Gã còn giải thích về mối quan hệ này: ả kia là gái có chồng, đã có chồng làm bia thì lo gì người ta dị nghị, thế nên ả phớt lờ dư luận chung quanh, cứ ỏng ẹo, chằng chéo để anh Ba dính nhựa và sau đó eo sách thủ trưởng những gì có thể, kể cả chức vụ của thủ trưởng sau khi thủ trưởng đến tuổi về hưu…Chị Ba Hiền lặng thinh, nhìn gã kia ngồi nói. Gã nói một cách sôi nổi, sùi cả bọt mép, câu chuyện chẳng liên quan gì đến gã, vì chị ví thử, nếu như đặt gã vào vị trí nào của những gương mặt trong câu chuyện kia thì gã đều là kẻ ngoài rìa. Nếu như gã tranh tình với anh Ba Hiền, thủ trưởng của gã, thì bao giờ cô thư ký ấy mới dòm ngó đến gã bởi gã chẳng có gì để mang đến cho cô ta? Còn nếu gã tranh chức hay tranh quyền với cô thư ký kia thì cũng có bao giờ đâu, vì gã chẳng qua là một gã nhân viên quèn, còn lâu lắm mới tới lượt của gã! Vậy, gã đến gặp chị Ba Hiền để nói với chị bao nhiêu chuyện như vậy về chồng chị, để làm gì? Gã không biết là chị Ba đang nhìn gã như một kẻ đang buôn chuyện, và chị lại nghĩ, gã này đang vào phe cánh với ai đó trong chỗ làm của anh Ba mà họ đang muốn tìm cách để đánh phá anh Ba với tâm địa xấu xa. Gã này đang rắp tâm chơi xấu đối với anh Ba Hiền hay là gã đã nuốt nước miếng của ai đó rồi cần nhả ra. Gã nhả ra ở chỗ chị Ba Hiền, để làm gì? Để mượn dao của chị Ba Hiền mà đâm sau lưng chồng của chị  sao? Gã và bọn khốn kia, những kẻ có cùng tâm địa với gã, đang làm chuyện ném đá giấu tay đối với anh Ba Hiền, chớ gì? Chị Ba Hiền nuốt cơn giận ghen tuông vào trong. Chị chờ gã nói xong, quắc mắc nhìn gã:

- Xong chưa? Ông rời khỏi nhà tôi và đừng bao giờ trở lại, nhá!

Gã kia sững người, bẽn lẽn, rồi lầm lủi ra về. Anh Ba Hiền đi công vụ về. Chị không nói với anh lời nào. Tất cả như không hề có gì xảy ra, như chị chưa hề để bợn trong đầu mình những gì từ gã đồng sự của chồng. Chị Ba Hiền thầm nghĩ: Đáy bồn sen, súng kia còn đầy cặn cáu, bẩn dơ; Đừng nói gì đến  đáy sông, suối hay biển cả! Nhưng ả thư ký của chồng chị Ba Hiền lại đến tận nhà để giãi bày với chị về những chuyện mà cô bảo là người ta xầm xì về cô và anh Ba Hiền, với tất cả ngôn ngữ chanh chua, nanh nọc của cô ta. Cô ta lu loa: Rằng gã kia là tên hèn mạt nhất ở sở làm này; Rằng gã là người rỗi việc để chuyên đi ngửi đít đàn bà mà buôn chuyện; Rằng cô ta là đàn bà có chồng nên cần phải chính chuyên, chứ không như các loại phụ nữ nhám nhúa khác đã ăn nằm với thủ trưởng lại la toáng lên giữa cơ quan đòi tiền mua dâm của thủ trưởng; Rằng “Tại chị Ba không biết đó thôi, chồng em là “ lực sĩ” , còn anh Ba thì cứ bảo ảnh là “cây viết hết mực”; Em chỉ nói đùa “Để thử…ử… coi!”; ấy là em chỉ nói đùa… ùa… thôi!” Trời à! Chị Ba Hiền lắc đầu, ngao ngán:

- Thôi! Cô về đi, về liền dùm tui đi! Tui cần yên tĩnh, nghỉ ngơi!

Bao nhiêu lần và bao nhiêu chuyện khác nữa, không có gì tốt đẹp cả… Chị Ba Hiền không thể sắp xếp các trình tự của các câu chuyện là đã xảy ra ở đâu, lúc nào, điều gì có thật, thứ nào là chuyện đơm đặt của người ta dành cho chồng chị. Cuối cùng, chị chỉ có thể tự an ủi mình: Điều gì ở đời này cũng có thể xảy ra và không xảy ra; Cuộc sống như dòng chảy mà một chút gió xao động cũng làm gợn sóng, huống hồ là giông bão. Nếu như tất cả những thứ ấy mà diễn ra trong cuộc đời làm viên chức nhà nước của chồng chị thì quả thật là chồng chị cũng có sức chịu đựng phi thường. Và, giờ đây, nếu như chị trút thêm nỗi bất an của gia đình lên anh nữa thì có lẽ anh sẽ sớm sụm chân thôi! Nói như vậy cũng không có nghĩa là chị không bị tổn thương, không chạnh lòng buồn, không xót xa cho sứt mẻ tình cảm của vợ chồng chị. Vì sao ra nông nỗi ấy? Không có lửa thì sao có khói được? Anh Ba không biết là ngọn lửa mà anh nhen nhúm ở đâu đó đang ngày đêm đốt cháy vợ mình ở mái ấm gia đình!

Chị Ba Hiền cứ buồn với những nỗi niềm riêng. Sau mười tám năm chung sống với chồng, chị nghiệm ra một điều: Có những món nợ tình nghĩa, mà cả đời, người ta mang theo không làm sao trả được; cũng có những thứ quý giá trong đời người mà khi đang trong tầm tay người ta lại không biết quý trọng, nâng niu; chỉ khi đổ vỡ, mất mát rồi, người ta mới thấy hối tiếc, xót thương; lại muốn tìm lại, muốn bù đắp, muốn lại vẹn nguyên … cũng chẳng dễ gì làm được! Tình cảm của vợ chồng chị  là như vậy, đã trải qua quá nhiều trắc trở, kể cả khi họ những tưởng đang yên ấm bên nhau. Nó giống như một thứ trái chín - chín mùi rệu - cần phải được nâng niu như trứng mỏng; vậy mà anh Ba và cuộc sống đời thường  với đầy rẫy những dây mơ, rễ má của cuộc đời xã hội - viên chức nhà nước - của anh, cứ ném vào nó bằng tất cả những thứ rác rưởi, bằng tất cả tâm địa độc ác hay chỉ bằng sự vô tâm của mọi người. Chị Ba Hiền, từng ngày, từng giờ, gặm nhấm thứ trái chín bầm giập ấy, và lâu rồi, chị không còn cảm giác được mùi vị ngọt lành của sự yêu thương nữa. Ngọn gió mùa thương của thuở nào, thuở mà chị đã bất chấp tất cả để lao theo anh, không còn thổi nữa. Chị Ba Hiền nhận lấy tất cả những gì đã diễn ra và thấy hình như cuộc sống chẳng dễ dàng gì đi qua trên mỗi đời người. Nhưng chị Ba Hiền vẫn nhủ mình, nếu như phải cam chịu trong nỗi này thì chỉ có mình chị chịu khổ; Còn nếu chị không cam chịu thì nỗi khổ sẽ lan ra tất cả, cả chồng chị, cả hai đứa con của chị, cả gia đình và cha mẹ hai bên và, có thể, tổn thất cũng sẽ lan tỏa ra đến xã hội. Có thật, trong cuộc sống này, để có được gì đó hay giữ lấy gì đó trong đời kể cả đó là sự yên ổn bên ngoài thì người ta đành phải cam chịu mọi nỗi chăng? Cần như vậy không? Cũng cần! Chị Ba Hiền nhủ mình rồi lại lắc đầu. Hình như, chị đã nghĩ quá nhiều cho cuộc sống và mọi người. Hình như, chị chưa hề nghĩ đến bản thân mình!

*

út Mai nhìn cha mình đang lụi cụi tấn tấn, đạp đạp chân bạt của mấy vèo lươn trước sân nhà mà thấy lòng thương tủi. Gần hai mươi năm, cha cô vẫn là một lão nông chân chất. Cuộc đổi đời của ông Năm Lon ở xứ Vĩnh Hanh này chỉ là số ký lô lươn nuôi được tăng lên trong mỗi mùa vụ, số vèo lươn được bông lên hơi dày hơn và ruộng lúa trong đồng sâu có tăng lên về trọng lượng, về giá cả; Và nét già nua hằn lên dáng dấp chậm chạp, hằn lên mái tóc điểm sương, hằn lên ánh mắt cười buồn của ông mà thôi!. út Mai nhớ chuyện cũ và thương cha mình. Vào ngày hôm sau, sau đám gả con gái út bị bể bạc, đàng trai đã đến nhà ông Năm Lon chửi ông một trận, như tát nước vô mặt, bắt ông phải bồi thường, đủ vòng vàng, sính lễ lại cho đàng trai. Người ta còn nói, ấy vì là có chú rể dự phần vào việc trốn chạy của cô dâu nên đàng trai không đòi “ của một đền hai”, như lệ thường xảy ra trong đời sống. Ông Năm Lon muối mặt, xuống nước xin lỗi nhà trai, vì chuyện ngoài ý muốn ấy. Rồi… mọi chuyện cũng qua đi… Mãi sau này, khi con gái về thăm nhà, ông  vẫn canh cánh lo vì sự nông nổi của con gái mình. Ông  dò hỏi con gái:

- Thẳng(*) của con có tử tế với con không, hả út?

- Dạ!Tử tế!

út Mai cười buồn. Cô không dám nói với cha mình, theo kiểu của cô “ Biết sao mà tử tế, biết sao mà không, trời!” Cô con gái út lại nhướng mày, trêu ghẹo ông lão:

-  Còn thẳng(*) của ba, lúc này ra sao rồi?

-  Cha mày! Đừng có chọc tức tao! Nó “nối ngôi” tía nó, làm ông chủ trại nuôi lươn giống, chớ sao!?

út Mai ngoảnh mặt, giấu ánh mắt buồn, không để cho cha cô ngó thấy. Cô rất sợ nghe cha cô nói câu “ Con cãi cha mẹ trăm đường con hư rồi, hả út?” Thật ra, út Mai thấy mình đâu đã làm hư hỏng chuyện gì. Cái gì đạt được cô đều đã đạt được. Trong đời, khi mà người ta lao theo ước vọng của mình, nhất là lúc yêu thương, và đạt được những gì mình mong muốn, thì sau đó, dù có ra sao, người ta không hề thấy hối tiếc. út Mai đã sống như vậy, trọn vẹn, với chính bản thân mình! Còn những gì cô đã chẳng hài lòng trong cuộc sống hiện tại của gia đình cô là sự hiển nhiên mà cô thấy mình phải chấp nhận, như mọi lẽ thường trong cuộc đời này. Chắc gì, ở một hoàn cảnh sống khác, út Mai đã thấy con trai ông chủ trại nuôi lươn giống tử tế với mình hơn?

Nhưng đôi lúc, út Mai lại thấy chạnh lòng. Cô mường tượng, để vẽ nên hình ảnh đời sống người phụ nữ kia của con trai ông chủ trại nuôi lươn giống và thử áp nó vào mình. Không phải! Vấn đề không phải là hoàn cảnh sống! Cô đâu đã từng từ chối đời sống của một người phụ nữ ở ruộng vườn, trại lươn hay ao đìa, cá mắm? Nếu số phận đặt cô vào chỗ đó, có lẽ cô cũng sẽ sống trọn vẹn và đầy đủ những gì có thể của cuộc đời mình. Ngày xưa, cô tuồn khỏi nó, chỉ là vì cô trót yêu thương một người khác chứ không phải là người đã cưới cô! Cô nhớ, cô đã từng hạnh phúc thế nào khi toại nguyện với người mà cô đã yêu thương. Sau đó không lâu, cô nghe tin con trai của ông chủ trại nuôi lươn giống cũng đã xin cha mẹ cho y cưới một cô gái khác, trong sự chọn lựa của y, chắc đó cũng là người mà y cũng đã yêu thương! Vậy đó! Có một thời, của tuổi thanh xuân, người ta đã sống hết mình với khát vọng của mình, dù bất cứ nơi đâu và trong hoàn cảnh nào, để người ta không hề hối tiếc về những gì mà người ta đã sống qua. Cũng chẳng phải, trong đời này, ai cũng như vậy, như út Mai hay như con trai của ông chủ trại nuôi lươn giống ở xứ Vĩnh Hanh này. út Mai giả dụ, nếu như bánh xe thời gian có quay trở lại, cuộc đời cho cô có một sự chọn lựa, giống như ở trong hoàn cảnh trước đây, chắc gì cô đã chọn lựa khác hơn!

*

Chị Ba Hiền đã mang về trồng thêm vào bồn nước phong thủy ở sân nhà chị một bụi thủy trúc; sau đó, bụi cây này nở những bông hoa màu trắng muốt trên thân dây dài ngoẵng thò ra khỏi thành bồn; và, ở góc kia, chòm cây mềm mại đã nở những bông hoa tím ngắt có cái tên rất gợi “Forget me not ”. “ Đừng quên tôi, nhá !” thì đừng quên…, có sao đâu ?! Chị Ba Hiền nhìn những bông hoa nở trong bồn nước, lại cười buồn. Chị Ba Hiền ngẫm nghĩ, “Bông hoa nào cũng đẹp như chính nó, vậy thôi!”

----------

(*) Thẳng: Thằng ấy.

VanVN.Net: Tình yêu và hôn nhân là chuyện cũ như trái đất, nhưng biết người vợ ba má cưới gả cho mình đã có người yêu, bầy đặt cưới rồi dẫn vợ ra cửa sau đưa giao cho người tình của cô là chuyện mới. Có lẽ đó là cái mới về tính cách anh Hai Lúa Nam bộ, nơi thiên nhiên còn ưu đãi con người mà hình thành nên tinh thần trượng nghĩa? Tưởng hôn nhân có được bởi tình yêu và bởi tinh thần trượng nghĩa và trân trọng thì sẽ thủy chung hạnh phúc, nhưng hóa ra không. Ấy cũng là cái mới, cái mới thuộc về cấp độ của vấn đề cũ được cơi nới lên. Hay!

 

 

CHỊ MỴ LÀNG MINH QUANG

Truyện ngắn của Văn Chinh

 

Ngồi buồn đốt một đống rơm

Khói lên nghi ngút chẳng thơm tẹo nào

Mọi oan khiên của Mỵ bắt đầu hai mươi năm trước, khi nhà báo Hữu Dân về làng Minh Quang viết bài Bóng tối dưới chân đèn. Mười năm sau gặp nhau ở một trụ sở tiếp dân, Mỵ đã nói với Hữu Dân hôm ấy cũng đến để hóng hớt thông tin viết bài phiếm luận:

- Anh tên là Đỗ Tiên Sinh, cái tên hay thế, sao lại đổi là Hữu Dân?

- Cánh nhà báo phải dùng nhiều bút danh khác nhau, như loài cáo thường có nhiều cửa hang phòng khi thoát thân. Nói thí dụ như bài về Minh Quang, bọn quan xã cứ nhè Hữu Dân mà chửi, mà ra đòn thù. Nhưng biết Hữu Dân là ai, thẻ nhà báo của tôi ghi rõ tên tôi là Đỗ Tiên Sinh. Hehe!

- Khốn nạn cánh dân đen chúng em, khi nói sự thực với nhà báo lại không biết thay tên đổi họ. Lại còn thích lắm thấy ảnh mình lên báo.

Mỵ còn muốn nói, khi chụp ảnh, anh cứ bắt em nhìn thật chăm chú vào ống kính, khen ảnh em có hồn. Anh lên báo, vợ chồng con cái xúm vào khen đẹp. Nhưng đến khi bị bọn xấu đặt điều thì chính bức ảnh lại là bằng chứng rằng em có tình ý với anh, nhìn như ăn tươi nuốt sống lấy người chụp ảnh. Vậy là em bị hai lần đòn thù, đời không tan nát có gọi là họa. Nhưng Mỵ không nói, nói ra làm gì. Đỗ Tiên Sinh đi rồi, Mỵ lại ngồi vào chỗ chờ gọi tên. Ông già tiếp dân nhìn thấy Mỵ, tay vừa rút tờ Phiếu chuyển vừa hỏi:

- Lại là chị à? Việc bằng cái mắt muỗi, rõ như ban ngày mà họ vẫn không chịu sửa sai là thế nào. Phiếu chuyển của chị đây, người khác, khẩn trương lên!

Mỵ đọc tờ giấy có ghi: Chuyển Huyện Công an X giải quyết, báo cáo kết quả bằng văn bản chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2000. Con số in sẵn 199… bị xóa hẳn đi, viết bằng mực con số 2000. Nó khác với những Phiếu chuyển chị đã nhận mười năm nay, chỉ thêm con số 1, 2, 8, 9 vào chỗ chấm chấm là xong. Chị vội nói khi một bà to béo đeo nhẫn sã tay sấn vào che hết khung cửa tò vò:

- ấy không bác ơi, lần này em khiếu nại tòa án kia mà, đơn em ghi rõ rành rành đây mà.

- Thế sao không nói trước, tưởng vẫn cái vụ bị công an gây tai nạn giao thông làm gẫy chân mà không chịu đền bù? Vậy là nó chịu đền bù rồi?

- Nếu vậy đã phúc bác ơi. Nó chết rồi, chó chết thì hết chuyện, còn kiện ai nữa?

- Chết, sao mà chết?

- Thì vẫn cái trò vờ làm tai nạn giao thông nhưng kỳ thực là để trả thù của nó. Lần này thì Trời có mắt, gặp phải bọn cao thủ, chúng nó cứ vờ như chạy trốn, nhử cho đến chỗ khuất, vâng chính cái chỗ nó tông gẫy chân em, thì chúng xua đàn bò từ đồi xuống. Thằng chó tránh bò thì lao xuống vực đá, tan luôn xác pháo.

Bà đeo nhẫn sã tay la lên:

- Nhà chị này có chuyện gì nữa thì kêu lên để Bao Thanh Thiên xét cho, chứ cứ đó rách ngáng chỗ mãi…

Ông già tiếp dân nói, đúng đấy, mà nói vắn tắt thôi còn dành thì giờ cho người khác. Bà con thấy đấy, Quốc hội đang họp chất vấn nóng ran hội trường về những vụ án oan với đơn từ khiếu nại tồn đọng. Nhưng có ba đầu sáu tay cũng không giải quyết xuể. Nào, lần này chị kiện tòa án cái gì. Mà chị kiện tòa án tối cao, vậy thì phải mượn tòa án Liên hiệp quốc về xử à?

- Em biết đâu đấy. Em chỉ biết cái nhà của vợ chồng em là do công sức của chúng em làm nên, tòa huyện đã xử cho mỗi người một nửa hoặc bán đi chia nhau hoặc ngăn vách mặc dầu. Vậy mà lên tòa thành phố, rồi lên đến tòa tối cao thì chồng em có xác nhận của xã rằng nhà ấy do bố mẹ chồng làm cho trước khi cưới, không phải tài sản chung. Rồi nó đổi cho ông chủ tịch xã để mở rộng trang trại cá sấu, lấy cái xe máy Tàu chạy vè vè chở gái ngay trước mũi mẹ con em. Nó cho cái bếp, mấy thằng em cậu dỡ ra mép vườn dựng lại cho mẹ con em lấy chỗ chui ra chui vào.

- Việc cũng rõ rành rành như thế, có phức tạp gì mà xử oan cho người ta. Nhưng cứ nghe giọng điệu chị, một điều chồng em hai điều vợ chồng em, thì hẳn là chị còn yêu chồng lắm, sao lại đồng ý ly hôn? 

- Thì sao em lại muồn bỏ, em là gái ba con, sao lại có thể tính chuyện bỏ chồng. Chỉ tại chồng em nó ngu, nó nghe bố con ông chủ tịch xã đặt điều nói xấu, vu cho em lăng nhăng với bác nhà báo.

- Thôi, chị cầm Phiếu chuyển sang Tòa án. Người tiếp theo!

Mỵ cầm tờ giấy, vẫn những chữ in sẵn, vẫn những dòng viết bằng mực như cái giấy vừa rồi; cả con số 199…bị gạch đi rồi viết con số 2000 cũng y như thế. Chỉ khác ở dòng Kính chuyển…không phải là Huyện Công an X mà là Tòa án Nhân dân Tối cao.  

Mỵ bần thần ra khỏi trụ sở tiếp dân thì đã gần bốn giờ chiều. Chị vội vàng hỏi thăm đường đến Tòa án, rồi tập tễnh đi, dáng mau mắn, vẻ mặt căng cứng quả cảm. Nhưng do mệt mỏi vì gần cả một ngày đi bộ, lại đói, lại khát, khi Mỵ đến được Tòa án thì đã hết giờ làm việc buổi chiều. Cậu bảo vệ nói chị hãy tìm nhà trọ nghỉ lại, sáng mai đến sớm cậu sẽ ưu tiên cho vào gặp ngay cán bộ thụ lý án. Thế thì còn gì bằng, đã mười năm qua khắp các cửa công quyền, Mỵ biết ở đâu thì cũng một gương mặt giá băng chờ chị. Nhưng buổi đầu giờ làm việc, cái mặt băng mới như băng vừa đóng, còn là băng non, còn chút sóng sánh người. Chứ vào lúc cuối chiều như thế này, nó cứ cau có sắc lạnh như băng vừa vỡ, khốn nạn thân chị, chị cứ hay phải gặp băng vừa vỡ vì phải đi bộ từ nhà. Nhưng tiền đâu mà vào nhà trọ, chị bèn tập tễnh về nhà. Đi lại mấy mươi lần sau hơn mười năm thưa kiện, chị đã biết rõ một sự thật: Từ xã Minh Quang về đây, phải đi hết đúng tám nghìn bước chân. Mỗi bước chân tập tễnh của chị cho là nửa mét, thì con đường phải là bốn mươi cây số, không phải chỉ “chưa đầy hai chục ki lô mét” như bài báo của bác Hữu Dân mà chị đã gần như thuộc lòng. Vào một lần khác gặp Hữu Dân ở trụ sở tiếp dân, Mỵ nói thế thì Hữu Dân bảo, có nói ngắn thế người đọc mới sốt ruột là sao ngay dưới chân đèn lại có bóng tôi tên là Minh Quang? Làng của chị được quy hoạch làm rừng đầu nguồn mạn Tây Bắc tỉnh, suốt mấy chục năm nhận cơ man là tiền ngân sách cho trồng cho nuôi rừng, cho cứu đói cho làm trường lập trạm. Vậy mà vẫn chỉ có đất trống đồi núi trọc, nhà dân cứ như nhà chị Dậu, trẻ con nheo nhóc không thể đến trường.

Đêm ấy Mỵ về đến nhà thì đã già nửa đêm. Bật công tắc hai lần không thấy sáng mới nhớ ra không nộp tiền điện, xã cắt từ lâu. Đành ăn rổ khoai rãi lẫn vỏ các con dành cho dưới ánh sáng của những ngọn đèn canh cá sấu hắt vào. Chị nằm xuống mới thấy chân tay mỏi rã rời, các khớp xương kêu răng rắc như bánh đa vỡ. Đêm tháng mười lạnh tái tê. Mỵ rúc vào với lũ con, nghĩ mình ôm ấp cho chúng nó ấm, kỳ thực hơi ấm của các con khiến chị biết mình đang tê cóng, dần ấm lại, khiến chị mủi lòng, thở dài thôi thôi xin cạch cửa quan.

Nhưng việc mình tự bảo mình không dễ. Chỉ sớm mai tỉnh giấc, chị lại thấy ấm ức không thể chịu. Và lại rủa sả mình hèn, mình cam chịu tham nhũng bất công. Hễ khi nghe cái loa đầu xóm hắt lên những lời ca ngợi tấm gương ai đó, ở đâu đó đã kiên trì chống bọn tham nhũng hơn mười năm và đã thành công thì Mỵ lại chuẩn bị lên đường thưa kiện.

Công cuộc chuẩn bị không hề dễ. Hằng ngày bốn mẹ con sống bằng tiền bán hai gánh củi, được bốn nghìn, đong cân gạo hết ba, còn một. Nhưng rừng không có thì làm gì có củi, mọi người cứ nhè những cây bạch đàn còm cõi còn sót lại của rừng đầu nguồn mà chặt, cứ độ mươi hôm kiểm lâm xã lại bắt một vố, phạt mười nghìn, thế là lại tay không. Mai nếu muốn có cái ăn thì lại phải lên đồi. Được cái kiểm lâm xã cũng là người, họ cũng cần tiền nên cứ làm như không biết rừng đang bị phá ngay trước mắt; chỉ đến khi con mồi đã có tí da tí thịt họ mới vặt lông. Âu cũng là cách dân làng nghèo kiết nuôi nhau, không đáng kể gì. Mỵ biết vậy nên áng chừng hôm kiểm lâm vây cửa rừng, liền nghỉ, đong mấy bò gạo để cho con, dắt vào túi quần dăm nghìn, đi kiện.

Mỵ đi vào khoảng bốn giờ sáng, khi quầng sáng thủ đô còn lung linh đủ mọi sắc mầu. Đi hết địa phận xã thì quầng sáng nhạt dần, dành cả bầu trời phía đông cho ngôi sao Mai một cơ hội lộng lẫy. Mỵ thích nhất lúc đêm về sáng, nó làm Mỵ nhớ ngày còn đi học trường huyện. Mà mỗi khi nhớ lại ngày đi học trường huyện, Mỵ vẫn còn ấm lòng vì cảm giác tự tin yêu đời của đứa con gái tự biết mình nhan sắc trước những cái nhìn trầm trồ của cánh con trai. Ngay cả bây giờ đã ba con, cánh lái xe tải đường dài có thằng vẫn dừng xe mời đi miễn phí. Khổ một nỗi là không phải lái xe nào cũng máu gái hoặc giả mặc dầu máu gái mà biết chả xơ múi gì đoạn đường từ Phủ Lỗ về Hà Nội nên đi bộ vẫn là việc Mỵ xác định từ nhà. Hôm nào gặp lái xe máu gái, Mỵ đến được trụ sở tiếp dân trước giờ nghỉ trưa, nhận được tờ Phiếu chuyển xong vẫn còn hăng hái, tập tễnh về đến chân cầu Thăng Long mới phải nghỉ để ăn chiếc bánh mỳ một nghìn; hôm ấy Mỵ thấy đời còn tươi, còn rất là đáng sống.

Hôm Mỵ đến Tòa tối cao là một hôm như thế. Mới nửa buổi sáng, mặt cô nhân viên nhận đơn còn tươi. Cô ấy hỏi:

- Đơn chị viết hay phải nhờ viết?

- Em viết lấy chị ạ, nhờ nhõi ai thì lại phải có tiền mà em thì giết ai ra tiền?

- Chị ra hàng nước gốc cây chờ em, hết giờ em ra có chuyện này hay lắm em bảo chị.

Hết giờ cô ấy ra thật. Đang vẩn vơ nghĩ hay cô ấy thấy mình hiền quá, cô ấy ra bảo phải đưa tiền “bôi trơn” thì biết ăn nói sao đây, thì cô ấy nói, đi với em sang quán phở đằng kia. Ăn đã, vừa ăn vừa nói chuyện. Có một chị ngồi sẵn, có vẻ săn đón Mỵ. Cô nhận đơn nói:

- Thế này chị Mỵ ạ. Em thấy chị hiền lành thật thà, lại văn hay chữ tốt. Chị đã học hết lớp bảy cũ phải không? Chị bạn em đây có việc cho chị làm kiếm tiền nuôi con, tên chị ấy là Loan. Chị Loan là giám đốc một công ty tư vấn pháp lý, nói toẹt ra là viết đơn thuê, đi kiện thuê và nhận khoán kiện trọn gói. Còn giới thiệu với chị Loan, chị Mỵ một nách ba con, thằng chồng khốn nạn cướp không cái nhà, đem đổi lấy cái xe uây Tàu suốt ngày chở gái. Chỗ chị em cùng cảnh ngộ, chị giúp chị ấy việc làm. Chị biết không, chị Mỵ đi kiện ở Tòa án tối cao với chỉ dăm nghìn bạc nhàu.

Loan trố mắt nghe rồi bật cười, sợi bánh phở xộc vào mũi khiến chị ho sặc sụa. Ho xong thì nước mắt nước mũi ròng ròng chảy. Loan nắm tay Mỵ, hỏi:

- Nó cướp nhà bằng cách bảo thằng bố con mẹ nó làm cho trước khi cưới em phải không?

- Vâng, sao chị biết? Tởm nhất là cái nhà gỗ chúng em mới làm năm 1993, trên đòn nóc còn ghi rất rõ, mà cưới nhau năm 1988, có giấy giá thú hẳn hoi.

- Thôi quên mẹ nó đi, quên khẩn trương.

Mỵ thành người đi kiện chuyên nghiệp đã mười năm nay như thế, sau khi đã có mười năm nghiệp dư.

Thời đi kiện nghiệp dư, Mỵ bị báo thù, nó tông xe gẫy xương, chân thành tập tễnh chấm phẩy cả đời. Thời đi kiện chuyên nghiệp, Mỵ cưỡi xe máy Spacy. Chỉ là Spacy Tàu thôi, nhưng dân làng Minh Quang mấy ai biết, cánh thanh niên từng nhiều lần khênh thuê nó qua suối đá cũng còn không biết nữa là dân làng. Và chuyện về việc Mỵ lấy được thằng chồng giàu, Mỵ làm cave được một đại gia bao cứ thế đồn thổi. Rác tai lắm, nhưng Mỵ vẫn về làng mỗi tháng. Vừa để mang tiền về cho con My nuôi em ăn học, vừa để cái bọn đã đẩy Mỵ xuống hố trắng mắt ra là Mỵ vẫn không chết, vẫn sống phong lưu.

Lại nói chuyện lũ con của Mỵ. Con Mỵ học hết lớp sáu từ ngày Mỵ còn ở nhà, nó nghỉ học để đỡ đần mẹ. Con Mỳ đang học lớp 7, thằng út Mỹ lớp 5, áo quần tươm tất, mặt mũi sáng sủa, ai cũng tranh nhau khen chúng nó với Mỵ. Thằng chồng cũ bây giờ sung vào đội kiểm lâm xã, kiêm trật tự trị an. Vẫn chưa lấy nổi ai, cái uây Tàu đã mang gán bạc, bị gái làng chê, gái thập thành càng không thể lớ xớ. Một dạo xã dỡ nhà cũ xây trụ sở ba tầng, nó được cắt cử trông nom vật tư. Nó bán trộm vật tư lấy tiền chơi xóc đĩa, bị bắt quả tang, bị đưa ra khỏi đội trật tự lẫn kiểm lâm xã, may nhờ ông chủ tịch là chỗ quen thân, thuê trông nom trại cá sấu. Vì trại cá sấu gần nhà Mỵ, nó lại về chui rúc cùng các con. Mỵ ghét, toan đuổi, nhưng nghĩ cho cùng, nó vẫn là bố của các con chị, Mỵ ngước mắt làm ngơ.

Nào ngờ đó là cái bẫy sẽ đánh sập mọi tương lai của chị, nhưng là chuyện về sau. Giờ hãy nói chuyện công việc hằng ngày của Mỵ.

Một năm đầu, Mỵ được chị Loan phân công viết lại đơn của các thân chủ sao cho ngắn bớt mà gãy gọn. Nhà chức trách không ai đủ kiên nhẫn để đọc hết tờ đơn nào quá một trang A4, cho nên đơn viết phải ngắn mà không thiếu, đó là bài học đầu tiên Loan dạy cho Mỵ. Rồi photocoppy, sắp xếp các bản tài liệu chứng cứ theo thứ tự, có đánh số; chia thành nhiều bộ hồ sơ. Rồi đem  gửi các cửa quan. Việc đáng nhớ nhất của năm đầu học việc đối với Mỵ là những tờ Phiếu chuyển; dù nó được cóp đi cóp lại đến mờ hẳn chữ, Mỵ vẫn nhận ra nét chữ của ông già tiếp dân trông phúc hậu và nhẫn nại. Năm thứ hai, Loan phân thêm việc cho Mỵ đem các phong bì đặt trong túi hoa quả hoặc chai rượu ngoại đến nhà quan hoặc cửa sau công sở. Lạ nhất là chưa bao giờ Mỵ được gặp trực tiếp người nhận, thường chỉ qua các bà vợ, những cô thư ký hay thậm chí là osin. Mỵ lo ngại nói với Loan, Loan cười: “Em ơi, phong bì nó có chân. Tự nó nó sẽ đi đến đúng tay người nhận”. Đó là câu nói đáng nhớ nhất năm thứ hai trong cuộc đời đi kiện chuyên nghiệp của Mỵ. Đáng nhớ nhất năm thứ ba cố nhiên là việc Mỵ ngoặc với Hoằng, một thẩm phán nghỉ hưu được Loan thuê làm chánh văn phòng công ty; chính Hoằng đã trả nốt tiền cái xe trả góp Loan bán cho Mỵ. Hoằng đã cùng Mỵ về Minh Quang lo đám cưới cho con My. Thằng chồng cũ say khướt cò bợ, nên Hoằng phải thay mặt nhà gái nói chuyện với nhà giai. Ông nói: “Tôi chỉ là phó nhạc phụ đại nhân thôi” khiến hai họ cười như nắc nẻ. Cũng xóa bớt mặc cảm của hai họ về ông bố vợ say khướt nói líu cả lưỡi không nghe rõ câu gì. Rồi cũng Hoằng mang Mỵ đến Việt Đức, đập vỡ cái chân chấm phẩy, đóng nẹp thép bó bột lại, nên hơn bảy năm qua Mỵ thành người đi đứng đoan trang.

Nhưng đi đứng đoan trang và tính nết đong đưa là hai việc không phá nhau. Khổ là Mỵ mới sắp bốn mươi, đang hừng hực hồi xuân mà Hoằng lại sáu mươi ngoài, khổ vậy. Rượu ba kích, rượu rắn, rượu cao hổ cốt cũng không ăn thua. Thuốc Viagra của Mỹ không bán công khai, nghe nói công hiệu lắm, lại không có hiệu ứng phụ nhưng quá đắt tiền đối với một thẩm phán chay đã hồi hưu. Ông phải dùng của Tàu. Trong một lần như thế, ông bị tăng xông, tai biến. Hoằng được vợ con chở về quê chăm sóc đời sống thực vật, còn nửa căn hộ ở Giảng Võ của ông nay mang tên Mỵ, có công chứng hẳn hoi. Các con Hoằng hỏi bố, bố không nói được nữa. Bà vợ Hoằng chép miệng, âu cũng là oan gia đây mà. Anh con cả vặc, oan gì mà oan, bố con vào sinh ra tử, một đời liêm khiết nên mới thanh bần thế. Để chúng con ra cho con cave cao cấp một trận, không luật công được thì luật rừng. Bà vợ Hoằng can, nói, cả nước có chưa đến bốn ngàn thẩm phán, mỗi năm ba bốn ngàn án oan. Bố con làm thẩm phán ba mươi năm giời, con thử tính xem. Thế chứ con tưởng cứ thanh liêm thì không xử oan? Con tưởng thẩm phán thì có quyền to lắm à? Sao con ngu thế?

Đó là việc đáng nhớ nhất năm thứ năm Mỵ theo nghề kiện.

Giã biệt ông thẩm phán nghỉ hưu xong, Mỵ ngoặc với một thẩm phán tại chức, mới chuyển từ vùng núi cao về, chưa xin được việc cho vợ nên sống độc thân tại khu nhà công. Mỵ gặp anh tại nhà, trong một lần đến đưa phong bì. Chính anh ra mở cổng, vào nhà không thấy ai, Mỵ nói đùa Mỵ xin làm osin cho anh chứ cửa nhà vắng vẻ cô quạnh quá, thế mà đổ. Đổ gục luôn. Tuổi chưa đến năm mươi, xa vợ ba bốn tháng giời, rượu ngẩu pín ngựa, rượu ngẩu pín hổ hàng vò, sùng sục thâu đêm. Sáng dậy lướt cò bợ, gọi đến cơ quan nói bị cảm. Đời Mỵ lên tiên bắt đầu từ đấy.

Đang sống mê man trên chín tầng trời thì một cú điện thoại của con My khiến Mỵ rơi phịch xuống đất:

- Mẹ ơi, mẹ về ngay, thằng Mỹ nó dính rồi, dính nặng rồi.

- Dính? Dính cái gì?

- Ma túy chứ còn dính cái gì. Hu hu mẹ ơi. Nó lừa anh rể mượn xe rồi đi cắm, anh ấy đang dọa không đền thì cho con nhừ đòn.

Mỵ lốp hết cả ruột gan. Mỵ phi ngay về nhà. Mỵ chuộc xe máy trả con rể, nhắn con Mỳ ra với mẹ ngay để ôn thi đại học, rồi ốp thằng Mỹ đi khỏi túp lều chị Dậu như trốn một con hủi. Phải, thằng chồng cũ dính ết, lở loét khắp người, cách cái chết chỉ còn nửa bước chân.

Mỵ quyết chí cai cho thằng Mỹ, dù biết đó là cả một việc đội đá vá trời. Ba năm sống lẫn với bụi đời ở xóm trọ, Mỵ chẳng lạ gì bọn nghiện. Lại đã từng cùng chị Loan gỡ tội cho một đội buôn heroin từ Lào về, Mỵ biết, vương quốc của heroin có luật lệ riêng, đã dính vào thì không sao có thể dứt ra nổi. Đoán rằng nó mới dính, Mỵ quyết tâm cai cho con tại nhà. Bằng cách khóa chặt cửa gỗ cửa sắt, lèn thức ăn đầy tủ lạnh rồi yên tâm đi làm. Sau ba tháng thấy con vẫn béo tốt tươi tỉnh, Mỵ yên tâm cho con về quê xin giấy tờ chuyển trường kịp vào năm học mới. Nào ngờ, thằng Mỹ vừa ra khỏi nhà, có một bọn đầu gấu đến ngay, đưa tờ giấy biên nhận nợ, cả vốn lẫn lãi ba mươi bảy triệu. Thì ra, nó gọi điện thoại cho đồng bọn. Chỉ gọi duy nhất một lần, vì hôm ấy đến công ty kể lại mọi chuyện, chị Loan bảo, về ngay rút điện thoại. Chị đã chạy về ngay, ấy thế mà sự tinh quái của những kẻ nghiện đã lường trước mọi chuyện và chúng đã thắng.

Trong nhà chỉ còn hơn chục triệu, Mỵ đưa cả cho chúng rồi khất. Chúng hẹn ba ngày sau quay lại. Ba ngày vẫn chưa thấy con ra, Mỵ phi về quê, con Mỳ nói em vẫn chưa về, hỏi sao không ra Hà Nội ôn thi, nó bảo con tự ôn ở nhà, còn cơm nước cho bố. Rồi khoe, con đỗ, đỗ điểm cao có học bổng, sắp nhập học rồi. Mỵ vội vàng nhờ con My bữa bữa mang cơm cho bố, thu xếp chở con Mỳ đi ngay. Về đến nhà, đã thấy bọn đầu gấu đợi ở cửa. Lại thêm một cái giấy nhận nợ nữa của thằng Mỹ, nó viết: “Nếu mẹ không trả, bọn chúng giết con”. Bí quá, Mỵ gọi liều cho anh. Anh là người làm nghề tư pháp lâu năm, lại cũng có con nghiện nên giọng rất bình tĩnh trong điện thoại. Anh nói nếu lần này trả, nhất định sẽ có lần sau, lần sau nữa. Chi bằng em cứ nói như thế như thế. Chị thấy phải, chị nói:

- Thằng con tôi nó phá tán cơ nghiệp của tôi hết rồi, nó làm tôi khốn khổ khốn nạn, tôi cũng đang muốn giết nó, nhưng sợ phải đi tù. Bây giờ nếu các anh giết được nó hộ tôi, thì tôi còn xin được cảm ơn nữa.

Thằng đầu sỏ gừ một tiếng, nhếch mép cười đểu rồi bất ngờ túm tay Mỵ vặn ngược, chìa khóa xe rơi xuống. Một thằng cúi xuống nhặt ngay, nhét túi. Thằng đầu sỏ gằn giọng:

- Cái xe Tàu đểu này chỉ đáng giá nửa món nợ, coi như tiền thuê bọn tao giết nó. Viết giấy bán xe, viết ngay!

Anh nói đúng, chỉ ba ngày sau nữa, thằng Mỹ về.

Cuộc sống ê chề cứ thế trôi đi, tâm trí Mỵ lỳ dần, giờ chị lao vào trác táng, vào các mánh lới nặn túi bọn dân đen rồi chia chác với bọn tham quan ô lại, lòng trơ như đá.

Nhưng cuộc sống ê chề vẫn còn những bất ngờ mà Mỵ không sao hình dung nổi. Con Mỳ đã học xong năm thứ ba, chưa thấy một lần nó xin tiền mua điểm, tiền sinh nhật thầy bạn; sinh nhật nó cũng không đòi chị tổ chức. Mà suốt ngày ở công ty, các bà các cô đều kháo chuyện ấy với nhau, rồi kêu khổ, rằng đó mới là khoản chi tiêu chính của mỗi nhà hiện nay. Mỵ về thẽ thọt hỏi con, lúc đầu nó hắt đi, sau Mỵ ngờ ngợ căn vặn, thì con Mỳ mếu máo nói mà như hát:

- Mẹ làm vợ bé người ta. Bố nghiện dính ết, con ra đứng đường. Con ra đứng đường chứ đỗ đại học làm sao nổi mà đỗ hở mẹ?

- ối giời ôi là giời ôi!

- Thôi mà mẹ, nhà mình tan nát đã từ lâu. Con không đi làm thì lấy đâu tiền nuôi thằng Mỹ bao gái? Mẹ cũng làm tiền, nhưng mẹ già rồi; những người già còn nặng nề món đạo đức giả nên chỉ đủ tiền bao nó ăn, bao nó hít. Thằng Mỹ thành đàn ông từ lâu, nhưng nó nghiện chẳng ai dám lấy, biết làm sao? Con không cho nó tiền thì chị em thành thằng đực con cái từ lâu rồi mẹ ạ, nó có tha cho khối.

Chuyện đáng nhớ nhất năm thứ tám kiện chuyên nghiệp của Mỵ là vậy. Chuyện năm thứ chín như sau:

Sau ba năm lần khân kêu khó, anh thẩm phán từ vùng núi cao về Hà Nội nhận được tối hậu thư của vợ, nói nếu xin việc ở Hà Nội mà khó quá thì khỏi phải xin xỏ lôi thôi. Vì đằng nào thì tôi cũng sắp về làm tung tóe mọi chuyện lên, chắc anh lại phải bạt ngược, thế là vợ chồng bố con lại sum họp vui vẻ cả. Mà họa vô đơn chí. Mà, như thế gian bảo, chỉ có ho và yêu là không giấu nổi ai. Thằng Mỹ cũng biết nhà anh, từng mấy lần đến tống tiền. Lần ấy nó đưa cả bọn đến, thằng đầu sỏ kề dao vào cổ, hỏi mật mã két. Anh thẩm phán nói:

- Tao đã chán đời đến không thiết sống nữa, mày có gan giết được tao thì tao cảm ơn, đỡ mang tiếng tự tử.

Nghe thế, thằng Mỹ lập tức hiểu ra câu chuyện mẹ nó nói với đại ca năm nào có nguồn gốc từ đây. Nó gầm khẽ một tiếng, rồi lao đến cắm lưỡi dao Thái vào ngực anh thẩm phán với tất cả lòng thù hận. Anh ta chết ngay. Thằng Mỹ đi tù ngay, chung thân cấm cố.

Mỵ đã hơn bốn mươi, tiền không kiếm được nhiều như trước, những đồ quý giá dành dụm được đã mang đi chạy án cho thằng Mỹ hết cả. Tối hôm ấy đang nằm khàn xem phim sex cho đời có thêm tí gia vị thì có tiếng gõ cửa. Con gái lớn của chị vừa địu con vừa dắt theo một người quen quen. Chào hỏi xong, trà nước xong chị mới kêu giời ơi bác tiếp dân. Ông già cười:

- Vâng, tôi là cán bộ tiếp dân chuyên nghiệp, xin chào chị đi kiện chuyên nghiệp. Kha kha!

- Thật không thể ngờ.

- Đúng là cuộc đời làm nghề tẻ nhạt như tôi không ngờ lại có chuyện oái oăm thế này, lại xảy ra đúng ngày cuối cùng tôi tại chức. Vâng, mai tôi nghỉ hưu. Sáng nay cháu địu con đến cửa tò vò, nhìn nó tôi tưởng chị, lại hỏi cái câu tôi hỏi chị năm xưa, vậy chứ vụ chia tài sản vẫn chưa dứt điểm? Cháu nó bảo không, cháu thay mặt dân làng Minh Quang khiếu nại về dự án sân gôn, lấy đất cả làng cháu, hất mọi người ra vệ đường hứng bụi mà đền bù không thỏa đáng, có mười ngàn đồng một mét vuông. Lại không cho dân làng đi qua sân gôn để làm nương, bắt phải đi vòng gần bẩy cây số. Tôi đọc đơn, viết Phiếu chuyển xong, tôi hẹn cháu chờ ở ngoài, hết giờ tôi ra mời cháu cơm hộp rồi hỏi thêm. Cháu nói bố mẹ cháu có hơn ba sào ruộng, nửa sào đất thổ cư mà chỉ được đền bù ba triệu bạc, vừa đủ đám ma bố cháu. Lại hỏi về chị, thấy nhà chị lắm chuyện oan trái quá, bèn bắt xe ôm cùng cháu đến thăm chị. Tôi muốn nghe biết tường tận một số phận con người, chứ cả đời ngồi viết Phiếu chuyển, tưởng cái gì cũng biết, lại hóa ra không biết cái gì.

Đó là chuyện đáng nhớ nhất năm thứ mười của Mỵ

 

 

HUYỀN THOẠI SÔNG NƯỚC

Truyện ngắn của Hồ Ngọc Diệp

Nhà văn Hồ Ngọc Diệp

Sau ngày tế lễ là ngày hội đua thuyền. Đêm ấy, trăng đã lên quá ngọn tre mà làng Hạ vẫn bảng lảng mùi hương. Nhà nhà thắp nhang trong nhà, ngoài sân, cầu mong cho trải làng mình ngày mai về đích sớm nhất.

Chỉ có người đàn bà ấy của làng Hạ là lòng dạ bâng khuâng, bồn chồn. Nàng đi bách bộ từ đầu làng đến cuối làng, rồi cuối làng đến đầu làng, cặm cụi và trầm tư. “Phải! chỉ có cách đó, duy nhất cách đó mới có thể kéo thuyền bơi làng Thượng chậm lại để thuyền làng Hạ của mình vượt lên” - Cuối cùng, nàng đã tự nói với lòng mình như thế.

Thôi đành chia tay, tình ơi! Thiếp phải xa chàng thôi! Đành phải mang tiếng phụ bạc. Thiếp yêu chàng lắm, nhưng bây giờ thiếp phải hy sinh để làng Hạ chiến thắng. Trải làng Hạ cần phải đạp bằng sóng nước mà vút lao về đích đầu tiên. Người làng Thượng đã trịch thượng mà khẳng định rằng, họ sẽ giật giải nhất, vì trong các cuộc đua, trải của họ chưa một lần thua cuộc. Còn người làng Hạ của thiếp thì ai cũng hăm hở, tin tưởng, dồn sức để thuyền đua sẽ về đích sớm nhất trong lần này.

Trăng đã chếch ngọn tre. Nàng lần bước đến làng Thượng. Kia rồi là cửa ngõ nhà người đàn ông cầm lái con trải đua ngày mai. Nàng bước vào. Lúc bấy giờ, người đàn ông lực lưỡng đang nằm hát nghêu ngao trên chõng giữa sân, dưới ánh trăng, với chai rượu đã vơi một nửa. Gã hát không phải vì say, mà đang vui, phấn chấn trong ngạo nghễ niềm tin: Ngày mai sẽ chiến thắng!

Gã cười. Thế là hắn đã tự đến với ta! Ha ha! Con ong thì phải tìm hoa. Đàn bà cao đạo gì cũng phải phủ phục trước thằng đàn ông khi mà men xuân bừng dậy.

Ba mươi lăm tuổi, qua bao người đàn bà, nhưng trái tim gã mới rung động thật sự khi gặp nàng. Với thân hình eo ong bó sát trong chiếc áo lụa mềm mại như ve vuốt những đường cong, với đôi môi cắn chỉ hồng như mận chín, ánh mắt long lanh và chiếc mũi thuôn thuôn trên khuôn mặt tròn trặn trắng ngà, trong lần gặp đầu tiên ở một đám cưới, với gã, nàng như một vị tiên sa.

Rồi gã lân la sang làng Hạ, tìm vào nhà nàng với lý do “mua tre về đan sịa”. Gã đâu biết đan sịa. Bao nhiêu tre mua về, gã đã làm giàn bầu giàn bí, thừa cho hàng xóm. Đến khi bụi tre nhà nàng sắp hết sau mấy lần mua, gã mới quyết định đánh liều. Đợi cha mẹ nàng đi hết, gã xấn tới nắm tay nàng, mà hổn hển nói:

- Tôi ... tôi yêu em! Em về ở với tôi!

Nàng giật tay và tát vào mặt gã:

- Về đi! Cút đi! Đừng có đành hanh!

Gã bẽ bàng. Gã tức anh ách. Rồi hội trải vùng sông nước hằng năm lại đến. Gã lại được phân công cầm chèo lái con trải sinh mệnh của làng Thượng như mọi năm. Những ngày khổ công luyện tập tay chầm, cùng mấy chục trai làng trên sông nước trước cuộc đua bơi đã làm nỗi đau của gã về người con gái làng Hạ vơi đi. Ngày mai, hội trải của các làng ven sông đã bước vào cuộc thi. Ngày mai, phải chiến thắng!

Như một lãng tử, người đàn bà làng Hạ nhẹ nhàng đến bên gã và tự rót rượu đầy bát, uống một nửa, còn một nửa đưa lên môi gã:

- Uống đi, cưng! Ngày mai mà xông trận!

Gã uống cạn chén rượu trong tay người đàn bà và lại rót tiếp, ực thêm mấy ngụm nữa.

Nàng không nói câu nào mà ngã người vào lòng, úp mặt vào bộ ngực vạm vỡ của gã. Rồi nàng mở cúc áo, áp chặt bộ ngực nở nang, mềm mại của mình vào người gã. Hơi men làm nàng sục sôi. Nàng thấy gã cũng bắt đầu sôi sục. Nàng nằm yên để bàn tay của gã vày vò bộ ngực rồi lần xuống bụng, dật giải rút lưng quần, tuồn tuột như bóc lá một chiếc bánh tét. Dưới ánh trăng, cơ thể nàng như ngọc, như ngà... Gã cắn môi nàng đến bật máu, hùng hục như một con bò!

Rồi gã lăn ra ngủ như chưa bao giờ được ngủ. Còn nàng thì tỉnh như người đứng giữa tảng băng. ý nghĩ về sự tất thắng của trải làng Hạ ngày mai nung nấu trong tâm trí nàng như thúc, như giục. Quên sao hình ảnh vào ngày hội trải cả làng quê, già, trẻ, gái, trai đổ ra bờ sông. Kẻ ngồi lên thuyền, kẻ trèo lên cây, kẻ đứng sát bờ hoặc chạy dọc sông mà hò, mà hét, mà vẫy mũ, vẫy nón, vẫy áo, vẫy cờ, miệng hò reo: “Lên! Lên! Thôn mình lên! Lên! Lên!”. Rồi trống, rồi phèng la, rồi mõ, rồi mâm gỗ, mâm đồng... người ta đánh lên, khua lên, náo nhiệt, rộn ràng, cổ vũ cho những con thuyền bơi đang sôi sục xé nước trên sông. Ai cũng mong cho thuyền bơi làng mình vượt lên, về đến đích sớm nhất. Lần bơi trải năm nọ, có một chị đang thổi cơm, trông thấy trải làng mình vượt lên, lúc đang qua khúc sông trước mặt, liền bỏ bếp lửa, chạy ra bờ rông, ngập vào biển người cổ vũ. Chị vẫy khăn, vẫy nón hét vang theo họ: “Lên! Lên” Thôn mình lên! Lên! Lên!”. Lửa không có người, bén sang đống rơm, rồi cả nhà bốc cháy. “Cháy nhà! Cháy nhà!”. Mọi người biết thế, chị ấy cũng biết thế. Mặc kệ! Sự có mặt và những lời hò hét để cổ vũ thuyền làng mình vượt lên mà về đích lúc đó còn quan trọng, cao quý hơn nhiều. Khi thuyền trải làng chạm đích về nhất cũng là lúc ngôi nhà của chị không còn. ấy thế mà chị vẫn cười hớn hở:

- Nhà cháy làm lại được, còn trải làng mình thua có làm thắng được đâu?...

Khi trăng sắp dính đỉnh núi phía Tây thì gã đàn ông sẽ cầm chèo lái con trải làng Thượng trong cuộc đua sáng mai tỉnh dậy. Gã vơ lấy áo, choàng vào thân, định đứng lên. Nàng vội vã kéo gã ngồi xuống, ngã vào lòng mình:

- Còn sớm, cưng ơi! Mấy khi thiếp đến với cưng như thế này.

Và nàng sờ soạng, mát xa khắp thân thể gã, rồi kéo gã nằm xuống.

Thằng đực trong gã lại bừng dậy. Gã tung sức cho ăm ắp sự thỏa thuê. Khi gã buông nàng ra, gã uể oải như một quả bóng xì hết hơi. Lúc ấy, trống ngoài đình làng Thượng đĩnh đạc gióng lên một hồi dài, hiệu lệnh tập hợp trai bơi. Gã đứng dậy, như một con thú mắc bẫy:

- Tôi phải ra đình, người ta sắp làm lễ hạ thuyền bơi để đến bãi tập kết rồi.

Độ quá tám giờ, hết phần nghi lễ giới thiệu các quan khách thì cuộc thi bơi trải bắt đầu. Tiếng trống thứ ba vừa dứt thì đồng loạt các trải buông dây chắn ở điểm xuất phát mà ào ạt xông lên. Trong tiếng trống giục, tiếng phèng la, tiếng mõ, tiếng reo hò cổ vũ náo nhiệt, rộn ràng của hàng vạn người đứng hai bên bờ sông, các con trải tung bờm rẽ sóng chồm lên.

Người cầm mõ chỉ huy, đứng giữa khoang thuyền vừa đánh nhịp vừa hô: “khoan hô khoan” thì các tay cầm chầm, đầu chít khăn đỏ, mặc áo đồng màu, miệng xướng theo: “Hồ khoan”!. Tay chầm các vận động viên vung lên, nhấn xuống nhịp nhàng. Cứ thế, các con trải rướn mình xé sóng mà lướt tới. Đứng từ xa, trông chúng như những con rết khổng lồ với bộ chân đều đặn, bóng loáng lướt chạy trên sông. Chỉ độ nửa giờ, sức mạnh, yếu của các trải đã bắt đầu lộ rõ. Lúc ấy, thuyền làng Hạ và làng Thượng bỏ xa tất cả các thuyền trải các làng khác và ganh đua nhau từng thước nước, hướng tiêu mà xốc tới. Người dân làng Hạ, làng Thượng hai bên bờ sông reo hò, phất cờ, phất áo, phất nón, phất mũ và đồng thanh một nhịp: “Lên! Lên! Thôn mình lên! Hô lên!”, âm vang hùng hồn như một bản đại hợp xướng. Một bà già không lách mình ra được giữa khối người đông đặc dọc bờ sông liền chui dưới háng một anh chàng nọ mà trườn mình ra mặt sông. Chỗ ấy nước sâu, ngập quá vai. Bà vẫn cố ngoi đầu lên, khoát tay, miệng lào thào vì khản đặc:  “Lên! Lên! Hô lên là hô lên!”. Trên con đường ven sông, hết đoàn người này đến đoàn người khác, rầm rập chạy tiến theo trải. Họ vừa chạy, vừa vẫy cờ, vẫy quạt, vẫy mũ, vẫy nón, vẫy khăn, vẫy áo, miệng hò hét, còn mắt thì chăm chắm nhìn về con trải làng mình trên sông. Một anh chàng nọ vấp đá, chân phang vào rổ bánh tráng một bà hàng quán bên đường. Anh chàng vốc một nắm tiền ném xuống mà nói: “Tôi đền cho bà đó” rồi phang chạy theo dòng người như thác, như lũ kia.

Vòng được tiêu thứ nhất rồi tiêu thứ hai, hai con ngựa chiến của làng Hạ và làng Thượng trên sông bám đuôi nhau quyết liệt. Thuyền trải làng Thượng bỗng dưng chậm lại, quẹo hướng đi. Thì ra, quai chèo lái bị đứt, một sự cố bất thường có một không hai đã xảy ra. “Hỏng rồi! Thua rồi! Làng Thượng thua rồi!”. Tiếng hét vang đôi bờ dòng sông. Trong nháy mắt, thuyền trải làng Hạ vươn lên, phi nhanh trong hò reo, cờ phất của những người cổ vũ.

Không thể thua cuộc, nhanh như cắt, gã cầm lái của trải làng Thượng giật khăn điều choàng bụng và cởi chiếc quần dài, quấn lại ba vòng làm chiếc quai chèo. Cuộc đua lại tiếp tục, con thuyền trải làng Thượng lại băng băng, nhưng chỉ trong khoảnh khắc chựng lại ấy, khoảng cách giữa nó và trải làng Hạ khá xa.

“Lên! Lên! Lên! lên đi! Lên đi!”. Những người dân làng Thượng trên bờ dưới sông hét vang dữ dội. Các tay chầm làng Thượng trong nhịp mõ gấp rút, rướn thân mình, nhấn chầm hùng dũng một cách nhịp nhàng, đẩy con thuyền lướt tới.

Hai tay gã cầm lái bắt đầu bủn rủn. Mồ hôi bụng, mồ hôi trán vã ra như tắm. Đêm qua, gã đã phung phí sức lực nên bây giờ bị nông nỗi này. Gã biết mình đã mắc mưu người đàn bà làng Hạ. Nhưng có lẽ vì sự tự ý thức ấy mà ý chí ngoan cường bỗng bùng lên trong người. Gã không đi mái cặp, mái giữ sức của người cầm lái, mà rướn mình đi mái váy. Những mái váy của gã hùng dũng, mạnh mẽ, làm con trải rùng mình, ưỡn dài nhịp phóng. Toàn người gã như một cỗ máy mở hết tốc lực. Với sự cố gắng ngoan cường ấy, chẳng mấy chốc trải làng Thượng băng lên, ngang bằng trải làng Hạ. Nửa cua đường nữa, họ sẽ về đích.

Gã cầm lái làng Thượng khôn ngoan cho trải lách vào gần sát bờ vì phía mé ngoài, nước bắt đầu ròng, con chảy của dòng nước đã làm cản sức vươn con trải. Trong tiếng hò reo, cờ phất, trống rền, mõ giục, sức người, sức nước đã đẩy trải bơi làng Thượng vươn lên, vượt trải làng Hạ một cách ngoạn mục. Đích đang hiện dần phía trước.

Bỗng người đàn bà ấy của làng Hạ xuất hiện. Nàng như con ngựa bị ai chọc tiết. Nàng chạy dọc bờ sông, nhanh như một làn gió. Đến một mô đất cao trườn ra mặt sông, nơi trải làng Thượng tất phải qua, nàng cởi phăng áo, tuột luôn cả quần. Cả một tòa thiên nhiên ngà ngọc nổi lên trên nền xanh của mặt sông, tuyệt vời, diễm lệ! ấy là lúc trải bơi làng Thượng lướt tới. Tất cả các trai chầm của làng Thượng bỗng dưng như bị thôi miên, mắt hướng về người đàn bà khỏa thân đang vẫy tay, ưỡn mình cổ vũ. Người cười, kẻ hét, chặc lưỡi trầm trồ, người lịm đi vì được chiêm ngưỡng bất thần vẻ đẹp tạo hóa của người đàn bà làng Hạ. Thuyền trải làng Thượng bỗng dưng chậm lại vì những nhịp chầm lạc lõng. Trong khoảnh khắc ấy, trải làng Hạ có cơ hội xé sóng, áp bờ vươn lên, đẩy lùi trải làng Thượng ra sau mấy chục thước nước. Đích chỉ còn khoảng năm bảy con sào.

Như con sư tử bị mất mồi, các trai đua làng Thượng  bỗng sực tỉnh. Tất cả lại nhịp nhàng nhấn lại mái chầm. Tiếng trống, tiếng phèng la, tiếng người hét vang cổ vũ như một cơn bão lốc, thốc dậy ý chí quyết thắng. Những trai đua làng Thượng ưỡn người, vươn vai, cúi rạp đầu, nhấn chầm mà kéo giật lùi khúc nước. Gã cầm lái thì đứng hẳn lên mạn thuyền, với tất cả lực bình sinh, rướn người, tỳ tay, ưỡn ngực, đẩy những mái váy hùng dũng, mạnh mẽ, nhịp nhàng. Con trải làng Thượng xé sóng, tung mình chạm đích cùng một lúc với trải làng Hạ. Hai trải bơi không ai thua ai trong cuộc đua lần này. Tiếng hò reo, tiếng trống giục rầm rầm như bão như giông vang dội cả khúc sông.

Vừa lúc đó, gã cầm lái làng Thượng mặt tái nhợt, ngã ra giữa lòng trải. Một dòng máu đỏ tuôn ra từ hậu môn. Mắt gã từ từ nhắm lại. Người ta bảo rằng, gã chết vì đứt ruột, bởi đã dùng tất cả lực bình sinh cho con trải quyết thắng.

Tin về, trải làng mình không duy nhất giành giải Nhất, uất quá, người đàn bà ấy của làng Hạ đã vái lạy trời đất. Rồi lẳng lặng bơi ra giữa dòng, lặn xuống và không bao giờ ngoi lên nữa.

Sau ngày hội đua thuyền, người làng Hạ đã tìm vớt và làm lễ tang người đàn bà đã hiến dâng tuổi trẻ và những sự cao quý của người con gái cho sự chiến thắng của con trải trong cuộc đua của làng trong bảy ngày bảy đêm.Trong những ngày đó, hương đèn nhà nào cũng tỏa rạng trên bàn thờ. Con trai thì đầu chít vải điều, quần quấn xà cạp, mặc áo đen tuyền. Con gái thì quần áo trắng phau, lưng thắt dải xanh. Tất cả ra đình làng dâng hương rồi hát hò những làn điệu dân ca địa phương để mừng thắng lợi, để ngợi ca một người đàn bà đã làm nên chiến thắng cho dân làng.

Người ta xây một ngôi miếu ven sông để thờ cúng và tỏ lòng kính trọng, biết ơn nàng. Những thế hệ con cháu nhiều đời sau gọi nàng bằng Bà. Vì ở truồng để tạo nên chiến thắng của trải làng, nên dân gian gọi bà là bà Lỗ. Miếu thờ bà là “Miếu bà Lỗ”.

Sau cuộc đua bơi, người làng Thượng đặt thi hài gã cầm lái trên một chiếc thuyền kết đầy hoa, đầy cờ, đầy lọng. Mọi người đều chít khăn tang và ngồi vào hàng trăm con thuyền có hương hoa, kết nối nhau để đưa rước anh linh người cầm lái hy sinh đưa trải làng đến đích chiến thắng, qua những khúc sông nơi cuộc đua bơi trải vừa diễn ra. Đêm đến, người ta làm hàng ngàn chiếc long châu bằng gỗ, bằng thân cây chuối, bằng mo cau...có gắn những ngọn đèn sáp được thắp sáng và thả trên sông. Những chiếc long châu chấp chới, dập dềnh trên sông nước như ngàn sao sa, tượng trưng cho lòng thương nhớ bất tận, khôn nguôi của mọi người làng Thượng đối với người đã hy sinh vì danh dự của làng.

Người làng Thượng xây miếu bên sông để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn gã cầm lái con trải. Vì phải cởi cả quần dài và giải điều thắt bện thành quai chèo, quyết đưa con trải về đích chiến thắng, người đời sau gọi gã là ông Quần. Miếu thờ ông Quần được xây dựng uy linh dưới gốc Bời lời cổ thụ bên sông. Người đời sau thường đến thắp hương tưởng niệm ông, mong ông phù hộ độ trì. Khi mùa hội bơi trải trên sông nước bắt đầu

Tất cả đã thành huyền thoại của sông nước.

VanVN.Net: Người Việt ta, không chỉ ở hai làng Thượng Hạ trong truyện ngắn kỳ quái này do phải bươn trải để kiếm sống và chiến đấu cho sinh tồn mà hình thành nên tinh thần cố kết cộng đồng, trọng cộng đồng hơn chính bản thể. Đó là nét tính cách từng làm nên lịch sử vĩ đại của dân tộc nhưng cũng nó làm nên cái dở của người mình; ấy là tính hiếu danh, xả thân, xé bỏ tình yêu vì cái danh. Khi danh hão còn chiếm không gian tinh thần thì việc hội nhập và phát triển sẽ còn gian khó…

 

 

XÓM VEN NÚI DIÊN

Truyện ngắn của TRỊNH SƠN

  • Đây là một câu chuyện lẫn lộn giả thật. Mọi người cần cân nhắc trước khi đọc.

Nhà văn trẻ Trịnh Sơn

Đã lên phường gần chục năm, nhưng người ở đây vẫn quen gọi xóm. Ngày xưa chỉ lơ tơ mơ chưa đầy trăm nóc nhà rải từ triền núi Diên xuống cánh đồng Thơm dọc lộ lớn, băng qua con đê là thấy biển. Biển không có bãi cát, lội qua bãi Quạ sình non, thò chân ra là xuống ghe liền nên hai chục năm đổ về trước, người ta vẫn chọn điểm vượt biên ở đây. Vừa kín đáo, vừa kín gió. Còn rừng thì hồi đó mênh mông cây gỗ, đóng cả đoàn tàu Nô-ê còn được huống gì mấy chiếc ghe nhỏ như cái giường vợ chồng son. Giờ thì rừng đã trọc, có một ngôi chùa mọc lên bên con suối nhỏ. Khách thập phương ghé thăm Phật thưởng thức non nước hữu tình ngày càng đông, thế là mọc theo bao nhiêu là hàng quán. Lâu lâu con nước lũ về, mà toàn là chọn lúc nửa đêm về sáng, hôm sau người ta thấy bao nylon và đủ thức rác treo hờ hờ trên đầu ngọn cây.

Lần này tôi về, không chỉ để thăm nhà mà chỉ vì muốn trốn cái náo nhiệt oi bức Sài gòn trong những ngày thất nghiệp. Xe đò thả ngay ngã ba vào xóm. Con đường lên núi đã trải nhựa phẳng phiu nhưng chưa có hành lang, vỉa hè gì cả. Nhà dân chỗ đập dỡ dang, nơi còn nguyên vẹn chườn mình ra sát mép đường. Chắc là đền bù giải tỏa chưa ổn. Tôi vác ba lô về gần tới nhà thì nghe thấy tiếng gọi sau lưng.

- Giàu có chức tước sao rồi mày !?

Một khuôn mặt trờ tới sát bên. Thằng Hân! Thằng bạn thời đồng ấu cho tới cấp ba đây mà.

- Sao mày biết tao về ? – Tôi làm bộ ngạc nhiên.

- Vậy mới là tao chớ. Lên xe.

Không để tôi kịp phản ứng gì. Nó lôi ba lô trên vai tôi xuống để sau tay lái chiếc honda cà tàng. Nhà tôi chỉ cách chỗ đứng này chưa đầy 100m nữa.

- Đằng nào cũng về. Nhà mày còn đó chớ có chạy đi đâu mà lo! – Thằng Hân chắc nịch với nụ cười hiền lành y chang ngày nào.

Nó chở tôi ra quán nhậu phía tây núi. Bà chủ quán tóc đã bạc nhiều. Trước, bà là cô giáo của cả đám con nít xóm này. Người của ngày xưa.

- Con chào cô.

- Ô…

Tôi cứ đứng im lặng nghiêm ngắn trước mặt cô giáo cũ.

- Thằng Sơn con ông Bảy Râu phải không? Ô…

Tôi nhớ như in tiếng “ô” đặc trưng của bà, giờ đã xen nhiều âm khàn hơn 30 năm trước. Ngày đó, mỗi khi khen/mắng học trò hoặc lúc đọc một đoạn Kiều (bà yêu Kiều lắm thì phải), thì luôn “ô” đầu câu, giữa câu, cuối câu bất cứ lúc nào có thể. Có khi, bà chỉ “ô” một tiếng mà chẳng nói gì. Bọn trẻ yêu bà như mẹ, có đứa nghịch ngợm gọi thân mật “bà giáo Ô” – bà nghe được chỉ cười hiền hậu. Riết, người ở đây quen với cái tên dễ nhớ dễ thương này, lâu dần họ quên luôn bà giáo Ô tên thật là chi.

- Dạ, thằng Sơn con ông Bảy Râu đây, cô ạ.

Người khác nghĩ sao khi bị gọi tên chỉ mặt cùng với tên cha/ông mình tôi không rõ, riêng với tôi, mỗi lần nghe ai nhắc kèm tên ba mình lại không kiềm được sự thổn thức tự hào bừng lên trong đầu. Ba tôi là ông cai xây dựng nhiều công trình của Mỹ ở Nha Trang, con út trong gia đình mười bảy người con của một kỹ sư đường sắt học Pháp về. Từ trẻ, ông đã thừa hưởng từ ông nội tôi hàm râu quai nón tuyệt đẹp – ai cũng nói vậy cả. Sau này, đọc lại nhiều cuốn sách cũ tôi mới nhìn thấy mặt ông nội mình, chứ lúc anh em chúng tôi ra đời, ông nội đã bỏ thế giới này đi lâu rồi. Giải phóng, ba tôi đi cải tạo, 5 năm về, vượt biên ở Hòn Khói, ghe chạy lạc rồi chết máy nửa chừng, trôi dạt cả chục ngày cũng thấy được đất liền. Ông kể, ai thấy đảo cũng mừng cả, như kẻ sắp chết vớ được cọc, dốc sức chèo tay vào bờ. Vừa cập đảo, đã thấy bộ đội biên phòng lăm le súng ống chờ sẵn. Ôi, Côn Đảo! Tôi được đẻ ra ở đây, tới năm 2 tuổi thì chính quyền cho đoàn chúng tôi về mảnh đất này. Kinh tế mới. Lại tiếp tục sống với rừng để nuôi giấc mơ vượt biển. Ba tôi là bậc thầy trong việc xẻ ván đóng ghe, sửa chữa máy móc và tập lái cho thanh niên thời ấy. Một chút ký ức thoáng lướt qua tâm trí, khiến tôi ngồi thừ ra. Thằng Hân nhắc:

- Cụng ly đi mày! Làm ăn sao rồi?

- Ừ, dzô.

Nhấp hết ngụm rượu gạo, tôi mới trả lời nó.

- Làm ăn con khỉ gì được chớ! Ở phòng trọ, ăn cơm bụi, è lưng ra cày cho người ta hưởng,… Nản lắm rồi…

- Nản sớm vậy? Mày không nghe “thất bại vì ngại thành công” hả? Năm này chưa được thì năm sau làm tiếp. Có sao đâu.

- Tao chỉ e “thất bại là bà ngoại thành công” mà thôi! Thôi, dzô đi. Còn mày thì sao?

Thằng Hân cụng ly nhưng không uống. Ánh mắt sáng linh lợi của nó vừa có vệt tối nào đó bay qua. Cái thằng giỏi văn, hết phổ thông lại thi bách khoa, học nghề lập trình. Ra trường, mở công ty phần mềm, cũng sáng chế cũng sản xuất  rùm beng ồn ào một thời gian dài. Tự nhiên mất bóng. Về nhà, trông coi con, phụ vợ bán giày dép quần áo trẻ em ngay đầu xóm.

- Mày biết rồi đó, từ ông nội tao, đến ba tao, mẹ tao, chú tao, anh hai tao đều bị người ta gọi là ngụy quân ngụy quyền. Mà, cả cái xóm này có ai không “ngụy” chứ, nếu gọi theo cách của họ. Đi cải tạo người nhiều thì mười năm, kẻ ít thì cũng 5-7 năm, về tưởng yên ổn làm ăn, lại luôn bị theo dõi thập thò. Thấy mình có thịt cá ăn thì dèm pha “quân địa chủ”. Mình ăn rau muối thì lại bảo “đồ lười biếng, chống đối, không chịu lao động kiếm cái ăn”. Tao lớn lên, xã hội thay đổi nhiều, cái tư tưởng mạt thị ấy có giảm bớt đi nhưng chẳng hề biến mất.

Ông bố vợ tao là một cựu chiến binh, gia đình nghèo nát. Thằng con rể hết sức chu toàn cho nhạc gia, từ xây dựng lại nhà cửa cho khang trang nhất xóm, nuôi nấng đám em vợ theo đại học rồi xin cho việc làm tử tế. Đùng một cái, tao sẩy chân trong một vụ đấu thầu vì bị một thằng đại gia khác cạnh tranh đểu. Ông già vợ đã không hề động viên an ủi thằng con rể tiếng nào, lại còn lôi con gái về ở rịt bên nhà: – Ba đã nói mà con không chịu nghe, giờ vỡ mặt ra thấy chưa? Cái thứ ngụy cụt đầu ấy không bao giờ nên người được đâu… Bao nhiêu hằn học gì với thế sự, kể cả đường binh nghiệp của ông không được suôn sẻ, bị đồng chí của mình phe cánh hạ bệ – ông cũng ném vào thằng rể, ném vào cái lý lịch sui gia mà giờ đây – gần hết những cái tên ấy đã chầu trời hoặc ở một vùng đất nào xa xôi. Thằng Hân biết chuyện, chẳng nói gì nhưng tính tình trở nên cáu bẳn khác hẳn sự linh hoạt, dí dỏm thường trực trước kia. Nó chẳng bao giờ đặt chân vào ngôi nhà bên vợ được xây lên bằng tiền của nó. Hai vợ chồng gom góp vốn liếng còn lại, mở một cửa tiệm nho nhỏ cũng đủ sống qua ngày.

- Có khi, chính ông nhạc của mày cũng chẳng hiểu được cái nghĩa của từ “ngụy” nữa. May mắn là vợ chồng mày vẫn sát cánh bên nhau. Vậy là còn hạnh phúc chán! – Tôi không biết nói gì hơn – À, mà ông cụ nhà mày sao rồi ?

- Ba tao hả ? Từ ngày tao lụn bại, thêm sự cố từ phía sui gia như vậy, ba tao suy sụp luôn. Bây giờ chỉ còn cái xác không hồn, chẳng ra khỏi cửa một bước trừ phi phải đi cấp cứu vì lao phổi hoặc ngày chủ nhật ông muốn dự lễ nhà thờ.

- Tao muốn ghé thăm ông cụ. Ba tao mỗi lần gọi về, đều nhắc ông, “Sao bác Hoài không chịu qua Mỹ hả con?”

Ba thằng Hân nguyên là Trung tá Đinh Văn Hoài – dạy võ bị nhiều năm ở trường sĩ quan Đà Lạt. Khi sự cố 75 đến gần, dù có nhiều cơ hội đi Mỹ tỵ nạn, ông khăng khăng không đi. Bị chính quyền mới đưa đi cải tạo gần chục năm. Thằng Hân ra đời khi ba nó vẫn còn trong tù, trong một lần má nó lên thăm, đút lót 1 cây vàng cho cán bộ quản giáo để họ cho ông Hoài ra đồng chăn trâu một buổi trưa – cái duyên sót lại để níu kéo người tù chính trị vượt qua bệnh tật, khổ ải, đòn roi để về sum họp gia đình. Ra tù, ông tạo dựng được một sự nghiệp đáng nể: một trang trại cả trăm hecta ngay chân núi Diên. Cây thuở ấy nếu còn tới giờ, hẳn đã xanh bao kín rừng kín núi. Trong xóm, ba tôi và ông thân nhau như anh em. Hai ông thường ngồi uống trà, hút thuốc rê kể chuyện đời. Lúc ấy, tôi với thằng Hân còn lon ton ngoài đồng ngoài bãi chơi trò đánh trận. Ba tôi nhiều lần khẩn khoản mời, thậm chí là van xin ông cùng vượt biển, nhưng ông nhất định “không là không”. Khi chính phủ Mỹ mở cánh cửa HO, ông Hoài có giấy mời gọi đàng hoàng, nhưng cũng chẳng hề hấn gì với suy nghĩ sắt đá ông đã gìn giữ từ ngày tao loạn. Ông làm kinh tế giỏi. Ông mở lớp dạy võ, dạy thuốc, dạy chữ cho thanh niên trai tráng trong xóm. Ông vận động mọi người kè đê đắp đập ngăn mặn, trồng lại rừng ngăn đá núi bắt đầu xói lở nhiều. Người ta gọi ông là Thầy Hoài một cách kính cẩn, từ cụ già tóc bạc cho tới đứa con nít vừa biết khôn.

Ông đổ bệnh từ khi nhà nước ra quyết định lấy không khoảng rừng mà bao nhiêu mồ hôi nước mắt ông còn ấm nóng với đất đai, cây cỏ. Dân tình lúc ấy nhốn nháo cả lên, họ bênh vực ông, săn sàng đứng sau lưng ông để chống đối lại cái sự ăn cướp giữa ban ngày ấy, nhưng ông trầm ngâm không nói không rằng câu nào. Lẳng lặng giao đất, giao trang trại cho Hợp tác xã “Tôi chỉ xin các người một điều, chỉ một điều duy nhất này, là hãy giữ rừng, đừng ham lợi trước mắt mà cả xóm này phải lãnh hậu quả về sau…”. Họ đã không giữ lời. Mấy tháng sau khi tiếp nhận, xe ủi xe cuốc cùng tiếng cưa máy ầm ồ gào thét suốt ngày đêm. Ông Hoài ôm ngực, hộc máu, phải đi cấp cứu. Ông chưa ra viện thì đã nghe tin lũ trên nguồn đột ngột tràn về xóm, bờ đê vỡ, một gia đình có bà mẹ quá với hai đứa con côi đêm ngủ mê chạy không kịp bị lũ cuốn mất xác. Bao nhiêu năm về sống ở mảnh đất hiền lành này, người ta mới lần đầu chứng kiến một cơn giận dữ của rừng núi ngàn năm.

Buổi trưa ông Hoài ra viện, vừa về đến nhà đã nghe tin bà con trong xóm đang kéo nhau lên phản đối Hợp tác xã tiếp tục phá rừng. Buổi tối, nhiều người lạ mặc thường phục ập vào chỉa súng, còng tay ông Hoài lên xe bít bùng chở đi mất. Mấy tháng sau, ông trở về mang thêm cái mác “Fulro” trên lồng ngực hóp háp thở khó nhọc, tiếp tục bị quản chế.

Thằng Hân tính tiền để về. Bà giáo Ô mới hỏi tôi:

- Con đang làm cho cơ quan nào? Ô, trên Bộ hay Sở, ô, nghe nói lớn lắm phải không?

- Dạ, con đang thất nghiệp, ăn bám bạn bè đây, cô ơi!

- Ô, học hành đàng hoàng như con mà còn thất nghiệp ô? Không làm ở đâu được thì, ô, về đây bán quán nhậu với cô. Sống cũng được lắm. Đừng lang bang xứ người làm gì. Ô…

Tôi tin, bà giáo Ô đang nói thật. Có thể, ngày nào đó tôi sẽ phải về đây mà tá túc trên chính mảnh đất cha anh mình đắp bồi bằng cả cuộc đời họ mà thôi.

Thằng Hân rón rén mở cửa phòng ba nó. Hình như, ông đang thiu thiu ngủ. Hơi thở nặng nề, ngắt quãng như thanh âm mệt mỏi phát ra từ một dây đờn cò sắp đứt. Chúng tôi dơm chân bước ra thì ông Hoài trở mình, chầm chậm lên tiếng:

- Hân hả con? Lại nhậu nữa hả?

Thằng Hân đỡ ông ngồi tựa lưng vào gối.

- Có thằng Sơn bạn con về ghé thăm ba đây.

- Đâu? Thằng Sơn nào?

- Dạ, con là thằng Sơn con ông Bảy Râu, bác Hoài ơi!

Không nén được cảm xúc trước sự gầy yếu đã xâm chiếm gần hết cơ thể người đàn ông mạnh khỏe, cường tráng, tốt bụng ngày xưa vẫn hay bế thốc mình lên vai đi chơi, tôi ngún nước mắt.

- Lại gần đây cho bác coi rõ mày chút nào. Ừ, hơi ốm nhưng mà khỏe mạnh là tốt. Mày cũng uống rượu hả? Bảy Râu với tao có ai biết uống rượu đâu mà đẻ con ra toàn là dân ăn nhậu say xỉn vầy hả…

Vừa nói, ông vừa nắn nhè nhẹ bàn tay tôi. Thằng Hân sợ ba nó nói nhiều sẽ mệt nên can.

- Tụi con lâu quá mới gặp nên uống mấy ly mừng thôi mà ba.

- Mày ra lấy nước. Để ba hỏi thăm thằng Sơn chuyện bác Bảy.

Tôi kể cho ông nghe về cuộc sống của ba mình ở Mỹ. Ông chăm chú, đôi khi môi nhoẻn cười, mắt ánh lên thứ ánh sáng của những con đom đóm lúc tàn đêm.

- Kể ra, ở bển sống cũng khỏe. An sinh xã hội người ta làm tốt hơn xứ mình, con hả. Nhưng, ba mày chắc là buồn lắm.

- Sao bác không đi, hả bác Hoài?

Ông lắc đầu. Có phải cái lắc đầu quen thuộc ông đã từng dành cho ba tôi ngày xưa?

- Bác thì coi như xong rồi. Còn thằng Hân, nó đang bất đắc chí, cứ ăn nhậu rồi đi kiếm chuyện với quá khứ. Cứ muốn đòi lại đất đai, cứ muốn dành lại công lý. Con ơi! Mình có thể làm giàu hoặc chết đói, có thể thay đổi cả thế gian này, nếu muốn, nhưng làm sao chối bỏ được nguồn cội, dân tộc, đất nước mình. Màu da chớ có phải màu áo đâu mà muốn thay thì thay. Có qua Mỹ, bác cũng chỉ là thằng lính già hết thời, ăn bám vào chế độ người ta ban phát. Nên mấy chục năm trước đã không đi, có khi cũng lung lạc cũng muốn đi, nhưng rồi vẫn quyết tâm ở lại.

- Chuyện người ta nói bác là Fulro, có thật không?

- Nếu tụi con là bác ngày mới về đây khai hoang lập nghiệp, xây dựng đời sống mới sau quãng dài thanh niên chìm trong chiến tranh, con có muốn gây thêm một cuộc đổ máu nào nữa không? Con có thể lại ôm súng bắn vào đồng loại đau khổ, đói nghèo của con được không?

Tôi ngồi với ông gần 2 tiếng đồng hồ. Hình như, lâu lắm ông chưa nói chuyện nhiều với ai. Ngày ấy, chàng thanh niên Đinh Văn Hoài đang học năm cuối trường thuốc thì được mời lên Trường võ bị Thủ Đức giảng dạy về các phương pháp cấp cứu, trị thương chủ yếu bằng lá cây, thảo dược trong rừng cho binh lính trước khi ra trận. Do có nhiều hiểu biết về Đông y, Dịch số, đưa ra nhiều thông điệp có ích cho mạng người trong chiến tranh lúc đó nên ông lại được mời lên Trường sĩ quan Đà Lạt giảng dạy. Ông dạy võ, dạy triết, dạy nghề thuốc, dạy tiếng Pháp tiếng Anh cho nhiều lớp sĩ quan mà sau này nhiều người trở thành tướng lĩnh. Cấp hàm Trung tá là họ phong cho ông như một sự kính trọng và biết ơn. Oái oăm thay, cái lon ông từ chối nhận nhiều lần này lại là cái họa về sau.

- Cả cuộc đời bác, chưa hề bắn một viên đạn nào, chưa biết giết một người nào, con ơi!

Đó là câu nói cuối cùng ông thả khỏi lồng ngực gầy tóp của mình. Tôi bước ra ngoài, thấy thằng Hân đang phả khói thuốc lên trời. Hai mắt nó ràn rụa nước. Nãy giờ nó đã nghe tất cả những lời ba mình nói. Đã nghe và đã khóc.

Tôi đi bộ lững thững về nhà. Hơn mười giờ đêm. Trăng treo nửa nón chênh chếch phía đông bắc ngọn núi Diên. Sương bắt đầu nhiều. Không khí trong lành đến lạ.

Người chị gái duy nhất của tôi còn trụ ở xóm này, vẫn ngồi chờ cơm.

- Sao trễ vậy Sơn? Chị lo.

- Em kẹt việc nên về muộn. Chị chờ từ chiều tới giờ à?

- Ừ. Lần này em về thăm nhà được lâu không?

- Chắc sáng mai em đi sớm rồi…

Chị buồn thấy rõ. Khi lên xe về đây, tôi đã nghĩ mình phải ở nhà ít nhất là nửa tháng. Leo núi Diên. Thăm bãi Quạ. Dạo đồng Thơm. Theo ghe đi câu biển… Để cái tâm mình chững chạc lại rồi mới tính tiếp. Nhưng, ngay giờ này, tôi biết mình không thể để thời gian trôi qua hờ hững như thế nữa khi cuộc đời mình đã lắm sự hững hờ chưa cắt nghĩa hết được. Sáng mai, lại con đường mới trải nhựa chưa có vỉa hè dẫn ra ngã ba quốc lộ, chuyến xe đò nào đó sẽ ghé lại đón gã thanh niên vác trên vai nằng nặng giấc xóm giềng đã mốc meo bởi thức trắng với thời thế chưa kịp lành lên thành phố chật chội. Lời ông Hoài còn gấp khúc trong tai: – Ai muốn phá thì mặc họ, cái giá phải trả không từ chối người nào cả, mình cứ xây. Nếu mình cũng phá thì xóm làng này, đất nước này mãi mãi chẳng nên hình. ./.

Bà Rịa, tháng 11/2011

VanVN.Net: Lạ, ông Bẩy Râu ba tôi chỉ từ nhà kỹ nghệ trở nên giầu có thì vượt biên bị bắt lại, lại vượt biên nữa, vượt biên bằng được, còn trung tá Đinh Văn Hoài thì đi tập trung cải tạo về lại chỉ cắm cúi làm ăn, khai khẩn tới hàng trăm hecta đất trồng rừng nhằm giữ nước cho đất sống của bà con lối xóm. Nếu đó là lòng yêu nước thì nó đã được thử thách hết sức nghiệt ngã, do một thời coi đã là ngụy thì lúc nào cũng ngụy và người ta đã nhân danh nó để cưỡng đoạt trăm hecta rừng của ông rồi phá trụi thùi lụi. Để đến nỗi dân xóm điêu linh vì lũ lụt tràn về. Nhưng lão Hoài vẫn không đi Mỹ, dù đã có hồ sơ diện HO. Truyện chỉ vài nghìn chữ mà khái lược được cả một thời, tài!

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn