Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Tác giả Trần Đắc Túc

03-12-2012 11:27:18 AM

VanVN.Net - Tác giả Trần Đắc Túc, sinh năm 1949. Hiện sinh sống tại Xóm Phúc Sơn, Thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Từng là công nhân, cán bộ văn hóa quần chúng và phóng viên biên tập viên văn nghệ của Đài PTTH Hà Tĩnh. Có truyện ngắn đầu tay in trên báo Lao Động từ năm 1977. Đã xuất bản 3 cuốn sách. Từng đoạt Giải A cuộc thi Truyện Ký của Tạp chí Hồng Lĩnh Hội LHVHNT Hà Tĩnh 1994. Giải thưởng Văn học Nguyễn Du năm 2005.

Tác giả Trần Đắc Túc


CHƠI DAO

Chúng tôi gần nhà mà xa ngõ. Ông Viện muốn sang bên tôi phải đi vòng qua ao nhà, rộng hơn một sào. Dạo trước, lối sang còn dễ, bây giờ mấy đôi vợ chồng trẻ làm nhà ngay trước cổng nhà tôi, ngõ ông Viện thành so le ra phía bìa làng. Nhà ông vì thế vắng vẻ hơn, buồn hơn. Dẫu hai nhà thân thiết với nhau nhưng cũng ít khi qua lại. Đến hồi ông được dân bầu làm xóm trưởng thì ông mới hay sang nhà tôi. Cứ cơm trưa xong, mồm ngậm chiếc tăm tre to tướng, ông hớn hở đi quanh làng. Hết vòng, ông rẽ vào nhà tôi, ngồi chuyện tào lao. Chuyện thời sự quốc tế, chuyện làm giàu của người  hàng xứ, cuối buổi lại xoay ra chuyện nhà. Làm kinh tế ở quê, theo ông nuôi cá là nhất. Nhất thả cá, nhì gá bạc. Ông thường nói vậy. Cứ ao nhà mà suy, hàng năm thu dăm ba triệu là chuyện thường. Ao sẵn rồi, giống thì chịu khó đến trại cá mà mua, nhân lực sẵn đấy, cắt cỏ bỏ xuống ao khắc thành tiền. Chỉ hiềm một nỗi bây giờ làm ăn khó, bọn bất lương hay dòm ngó ao nhà ông. Nhưng ông cũng sẽ có cách.       

Khi đến đoạn kết thúc câu chuyện, ông Viện thường đặt chiếc tăm tre lên miệng cốc nhìn tôi chằm chằm, rồi hỏi một câu “ Chú hiểu không?”. Dĩ nhiên bao giờ tôi cũng hiểu, lắm khi chẳng biết ông bắt tôi phải hiểu những gì nữa. Còn ông thì đắc ý cười khà khà, không quên nhặt cái tăm tre lên, cắm vào miệng rồi trịnh trọng ra về.                             

Một trưa, sau khi đi quanh làng, ông khép vòng lượn tại nhà tôi.                       

- Tôi đưa thằng Đinh làm trưởng ban bảo vệ thôn đấy, chú hiểu không? - Ông nói.                 

- Đinh nào? – Tôi vội hỏi; vì làng tôi có những ba Đinh. Một Đinh giáo viên về hưu non, trạc tuổi tôi. Một nữa là thương binh. Còn một Đinh nữa mồ côi cha mẹ, nhà xế mé tây gần bờ ao nhà ông Viện, chuyên làm nghề buôn gà vịt ở chợ quê, làng vẫn quen gọi là Đinh Vịt. Ông nhìn chăm chú tôi như thử tài người tiếp chuyện, rồi cất giọng chậm rãi, điệu bộ quan trọng hệt đang ra quyết định bổ nhiệm một ông bộ trưởng:                            

- Thằng Đinh Vịt.                   

- Nhưng Đinh Vịt là chúa ăn cắp, nó rượu chè, ngổ ngáo thì bảo vệ ai? Tôi ngạc nhiên thực sự. Ông Viện dứ dứ cái tăm tre trước mặt tôi:                    

- Chú còn non lắm. Sao mà tôi lại không biết nó. Có điều thằng này ngoài cái liều lĩnh ra, nó cũng nói năng lý sự đâu ra đấy. Chú không biết là bọn trộm vặt làng này sợ nó một phép ư? Nó mà làm đầu lĩnh thì bọn kia phải nghe theo ngay. Ta phải dĩ độc trị độc chứ. Thời buổi này phải có anh mất dạy để trị anh mất dạy, cứ cứng tay mà dùng thì càng có lợi chứ sao. Nói cho kiệt lý thì cái tôi cần lại là cái ngổ ngáo của nó đấy. Chú hiểu không?                         

Lần này, thú thật tôi không thể hiểu ông, dẫu rằng tôi vẫn gật đầu như thường lệ. Trong một lần khác tôi đưa những băn khoăn của mình ra gặng ông Viện. Ông đã cười khà khà một tràng “ Chú yên trí, tôi là người biết chơi dao. Chú hiểu không”?       

Như để dẹp những nghi ngại của tôi, từ sau bữa có loa tay trên ngọn xoan trước ngõ thông báo việc anh Đinh từ nay nhậm chức trưởng ban bảo vệ thì quả nhiên làng có thưa đi những vụ mất trộm. Mấy thằng choai cấc láo trong làng nhìn anh cả Đinh Vịt như nhìn chúa sơn lâm. Đứa nào đứa ấy đi đứng có vẻ khép nép, kính cẩn. Cũng hằng trưa, ông Viện sang nhà tôi, trong câu chuyện thường ngày, lại có thêm tiết mục biểu dương anh Đinh Vịt. Ông hết khen Đinh Vịt giỏi cai trị bọn đàn em, lại quay sang tự khen mình có tài dùng người. Ông thật sự đắc ý với việc lấy độc trị độc mà ông coi như mình là người phát kiến. Nhìn cách ông thong thả đặt cái tăm tre to tổ bố trên miệng cốc, giọng nói oang oang, khuôn mặt to bè đỏ lừ vì rượu rắn, tôi thấy ông sang quá, mãn nguyện quá. Tôi gật đầu lia lịa trước câu hỏi “Chú hiểu không” của ông. Còn ông khi nhặt cái tăm tre lên, thường cươì khà khà, rất điệu. Có hôm, tôi về muộn nghe vợ con mách ông Viện sang chơi, có dẫn theo Đinh Vịt. Vợ tôi thường ngày lặng lẽ, thế nhưng khi kể lại cách Đinh Vịt lễ phép, một chị một em, cô ấy đã cười nhắm mắt nhắm mũi. Còn thằng con lớn của tôi thì buông ngay một  câu sặc mùi  chưởng Hồng Kông “Ba không biết thì thôi, chú Đinh Vịt giờ là vệ sĩ của đại ca Viện đấy”.            

Bẵng đi một dạo không thấy ông Viện sang chơi. Thường đúng trưa tôi nghe từ phía nhà ông ồn ào tiếng người lạ. Hôm thì tiếng trẻ em vừa khóc lóc, vừa kể lể, hôm thì tiếng chao chát của đám con gái, bà già. Có lần, tôi nghe rõ tiếng ông Na người ngoài Bắc lấy vợ giáo viên ở bên đồng Vạc:                     

- Trâu tôi ăn cỏ trên bờ, thế mà đồng chí ấy lại bảo ăn lúa. Tôi hỏi  ăn lúa ở ruộng nào, thì đồng chí bảo vệ không trả lời, cứ nằng nặc đòi đưa năm ngàn thì cho chuộc. Rồi cầm thừng dắt trâu đi. Sao lại có chuyện chuộc ở đây?              

Thôi đúng rồi, thằng Đinh bắt trâu bò hàng xứ, gán cho cái tội phá lúa hợp tác, rồi bắt nộp tiền chuộc, một cách làm ăn mới của Đinh Vịt đây ! Thảo nào đi qua nhà nó, thấy quanh gốc xoan trước ngõ, hôm nào cũng có vài con trâu, bò bị buộc sát mũi. Ngõ nhà Đinh thành nơi tạm giam của trâu bò. Không biết tiền chuộc Đinh nộp cho ai, chỉ biết dạo này chiều chiều Đinh mặt mũi phởn phơ, đĩnh đạc đi ra từ nhà bà Tám béo.      

Một bận ông Viện sang nhà tôi, theo sát gót ông là hai vợ chồng thầy giáo Tứ. Ông giáo gầy còm, giận run lên, mặt tái ngắt. Bà vợ mặt mũi lại đỏ gay. Chẳng chào hỏi gì tôi mặc dầu tôi là người quen của họ, ông giáo nói một thôi một thốc:                        

- Báo cáo ông xóm trưởng, thế này thì quá lắm. Ai đời cán bộ bảo vệ xóm các ông ban ngày ban mặt vào chuồng nhà tôi bắt gà. Anh ta chỉ vào con gà trống thiến của tôi đang nhốt, mà nói rằng con gà này hay ra phá lúa. Anh ta nói anh ta để ý rồi, giờ không bắt thì tý nữa nó lại ra phá. Vợ chồng tôi nói hết lời, anh ta cũng không thả, đòi chuộc hai chục ngàn. Tôi đề nghị xóm giải quyết thế nào, chứ cứ đà này thì mấy gia đình giáo viên xóm Mới chúng tôi sống sao được. Xóm mà không giải quyết thì tôi lên huyện.

 Bà vợ ông giáo giật mạnh áo chồng:                            

- Thôi ông. Cứ coi như con gà cáo tha. Mình rầy rà với nó đêm nó choảng cho vài viên gạch, lại chẳng vỡ ngói chết người thì gà qué thấm vào đâu. – Vừa nói, bà vừa kéo áo chồng. Bỏ mặc vợ chồng ông giáo co kéo nhau ở nhà tôi, ông Viện lật đật đi ra như người trốn nợ.                

Mấy hôm liền, vẫn có tiếng người xáo xác bên nhà ông Viện. Tiếng kêu kiện cứ to nhỏ, ồn ĩ vọng sang nhà tôi. Một lần vào giữa trưa, có tiếng xe con phanh kít trước ngõ nhà ôngViện. Xe đi, ông vạch rào chui sang nhà tôi, hổn hển:                          

- Chém cha cái thằng Đinh Vịt. Nó đào rãnh trước cổng làng, ngăn xe qua lại để lấy tiền. Mấy bận nó ngăn bọn xe tải, tôi đã bảo nó, nó cứ nhe răng ra. Ai dè hôm nay nó ngăn phải xe ông chủ tịch huyện. Thật hết chỗ nói. Tôi phải bãi chức thằng này mới được. Cứ để nó thì có ngày mắc vạ to.                     

Nói xong ông bươn bả ra về. Chiều ấy tôi ra mua bao thuốc lá ở quán bà Tám béo đã thấy Đinh Vịt đang tính toán sổ sách gì đó. Liếc xéo tôi, Đinh vịt nói với Tám béo giọng mát mẻ:         

- Ả lo chi. Em trả hết cho ả. Em mà thôi bảo vệ a, còn lâu! có thông báo, có quyết định hẳn hoi chứ có phải kiến tha em lên làm bảo vệ đâu ạ ạ?!

Tiếng “ạ” Đinh Vịt kéo dài như diễn viên trên sân khấu. Rồi đột nhiên, đổi mặt, nó nghênh ra phía nhà ông Viện chửi đổng: - Mẹ nó chứ, tao mà không làm bảo vệ thì ao cá nhà nó ai giữ thuốc sâu cho”?                      

Hỏng. Hỏng to rồi. Tôi nghĩ ngay đến cái ao cá ông Viện. Tôi thấy lạnh sống lưng khi nghe thằng Đinh đổi giọng. Nhớ lại cách đây vài năm, nghe người làng đồn Đinh có mẹo lừa người mua vịt, tôi đã tìm cách quan sát nó lừa ra sao.  Thì ra nó có buôn vịt thật. Những con vịt nhà nó nuôi  thuộc loại vịt cỏ, nhỏ mà gầy, còn những con nó mua buôn thì to béo. Cứ một con béo nó buộc một con gầy. Gặp người lạ nó mời chào đon đả, dẻo quẹo. Người mua dại dột, thò tay vào lôi con béo, tức thì kéo theo con gầy. Bằng cách rút múi dây thật khéo, con nhỏ sẽ chạy được ngay. Nó làm bộ đuổi theo, nhưng chỗ nó ngồi lại tiện cho con vịt chạy trốn. Thế là, sau một vài bước chân nó quay lại bắt người kia trả tiền hai con vịt. Những lúc đó tiếng nó rít lên, sắc lạnh. Nó lật mặt trơn tuột, làm người mua đành xỉa tiền mà trả rồi đi cho nhanh. Tan chợ những con vịt của nó lại quen đường về. Tôi đã rất tinh ý mà cũng không sao phát hiện được cái thần tình của nút buộc. ấn tượng làm tôi nhớ mãi trong những lần quan sát, ấy là lúc nó đổi mặt. Từ con người ra bộ hiền lành, lắc một cái đã hoá thành con thú. Nhớ đến đó tôi thật sự thấy lo cho ông Viện. Tôi vạch rào sang nhà ông cấp báo. Ông Viện nghe, mặt thừ ra nghĩ ngợi. Nhìn khuôn mặt ông buồn rười rượi tôi chẳng dám ngồi lâu .

Từ buổi đó ông Viện ít sang nhà tôi vào buổi trưa với cái tăm tre trên miệng. Một lần tôi hỏi, bà vợ cho hay đêm nào ông cũng thức để canh ao cá. Ông phải canh chừng sự phá hoại của thằng người mà ông trao quyền cho. Tuy ông không sang nhưng những thành tích bất hảo của Định Vịt tôi đều biết. Thứ thì do vợ con kể, thứ thì nghe qua đám người trưa nào cũng bù lu bù loa bên nhà ông. Rồi như có một thoả thuận ngầm sao đó, dạo này bọn choai choai càng thấy lộng hành. Định Vịt ngang nhiên đêm đêm tụ tập bọn đàn em  chè chén. Nhiều phi vụ táo tợn đã xẩy ra. Thành tích nổi bật của chúng trong đợt này là tiêu diệt được con vện to như con bẹc giê của nhà ông Viện. Ông Viện biết mất chó song đành im. Nói gì khi không chứng cớ. Mà chẳng nhẽ lại trao đổi cùng Định Vịt, hoá ra mình vẫn công nhận nó làm bảo vệ hay sao ? Tôi bàn với ông lên báo với công an huyện. Ông không nghe, cho việc này là nhiêu khê. Ai người ta lại cất công tìm dấu tích con chó cho mình. Ông đi đến quyết định tiếp tục dùng thằng Định Vịt, ông nói bằng giọng tuy không được phần hùng dũng như lần trước, nhưng không kém phần kiên quyết: "Tôi vẫn tiếp tục cuộc chơi, chú hiểu không?". Ngoài mặt thì vậy nhưng trong bụng ông lo lắm. Người làng sợ nó ít, riêng ông sợ nó nhiều. Gặp ông dịp này, thấy ông tóp đi, hàm răng như vẩu, đôi mắt thiếu ngủ đục ngầu. Tôi hỏi ông đã ban hành quyết định bãi chức định Đinh Vịt chưa ? ông buồn bã lắc đầu không nói.   

Mấy bữa nay trời mưa lớn. Mưa như vuốt tuột ngói xuống, như cầm vò mà trút. Đang buồn vì nỗi mưa to, nhà tối, tôi chợt thấy ông Viện đội mưa đi vào. Tôi mở rộng cửa, kéo ghế mời ông ngồi. Ông ngăn lại :       

- Thôi khỏi! tôi ra trạm xá xem thằng Định Vịt sống chết thế nào. Nhờ chú trông phía ao bên này, xem cá có nhảy ra thì gọi con lớn nhà tôi với.

- Thằng Định Vịt làm sao ?

- Thằng này càn rỡ. Thấy mưa to tưởng mất điện, nó mò ra sau trạm cắt trộm dây. Điện giật nó rơi xuống đống đá. Có lẽ chết. Nó chết đi cho làng nhờ !

Ông cứ đứng dưới mưa tầm tã. Khuôn mặt ông tươi tỉnh hẳn ra. Ông đội một chiếc nón lá mới, làm cho nước da thêm phần trắng trẻo, ánh mắt thì vui mừng không dấu được. Đã bước được mấy bước, ông còn ngoái lại cười với tôi.

Chừng giập bã trầu đã thấy ông quay lại. Ông bước vào, gỡ tơi nón ra một cách chậm chạp, mệt mỏi. Khuôn mặt ông tái ngắt. Tôi vội hỏi thằng Đinh Vịt sống chết thế nào. Ông trả lời, giọng ngàn ngạt như người phải cảm:

- Nó chẳng làm sao cả, về nhà rồi!

Nói xong, ông thả phịch người xuống ghế. Tôi giật mình khi nhìn vào cặp mắt lâu ngày thiếu ngủ của ông. Cặp mắt đờ đẫn vô hồn như mắt người chết. ở gần ông bao năm, lần này là lần đầu tiên tôi không nỡ nhìn lâu vào mắt ông.

 

                                

LÀNG VÒNG                                                                                     

Xách chiếc ấm đen từ bếp bước lên, đảo mắt khắp nhà, Trí quay sang hỏi vợ:   

- Mẹ có biết anh đi mô không?

Trai gái làng Vòng lấy nhau còn trẻ, nhưng gọi nhau như người già. Chồng gọi vợ là mẹ, vợ gọi chồng là cha. Anh, người mà Trí hỏi, tức là ông Đảm, con bác, mới về làng ở cùng vợ chồng Trí Bình gần nửa tháng nay.

- Cha cũng ở nhà mà lại hỏi tôi.

- Này, mẹ phải để ý đến anh đấy nhá. Lỡ xẩy ra chuyện chi thì khốn to. Anh chưa được bình thường đâu. Trí thổi tro ở nắp ấm phù phù, rót nước ra bát.

- Chưa được bình thường. Bình đai giọng. Cha tưởng anh như bữa mới về a? Này, chiều qua, cha đi khỏi, anh ở nhà mằn mò hỏi tôi trong làng có ai bán trâu thì mua một con. Tôi hỏi mua mần chi thì anh bảo chẳng lẽ mua để thịt. Tôi lại hỏi lưng anh đau vậy thì cày bừa sao được. Anh nói mấy bữa về đến nay thấy khá lên nhiều. Rồi lại nói đau thế chứ đau nữa cũng phải làm lấy mà ăn. Đi xin thì không quen. May mà ruộng chưa trả cho hợp tác. Đó, cha cứ lo…

Cứ như bữa đầu tiên ông Đảm về thì sợ chết. Đang mờ đất, Bình dậy thổi cơm cho chồng đi cày. Vừa mở cửa nhà ngoài, cô đã rú lên. Có ai đó đang nằm dài trước thềm. Nghe tiếng vợ, Trí cũng hốt hoảng chạy đến. Giật bắn người, hai vợ chồng nhận ra ông Đảm. Mặt mũi hốc hác, tiều tuỵ, râu ria lởm chởm, ông Đảm ôm chặt cái ba lô lộn trước bụng, ngồi ngủ trước bậc lên xuống. Lay mãi ông cũng chỉ ú ớ như người câm. Trí xốc nách, dìu ông anh họ vào nhà; Rồi ông ngủ liền hai ngày, hai đêm, cứ như người chết giả. Tỉnh dậy cái gì cũng ấm a ấm ắc, hệt người cõi âm đội mồ trở về. Những ngày đầu vợ chồng Trí hoang mang, chẳng biết chyện gì xẩy ra với ông bác họ. Ngày đi thì vẻ vang thế. Xe con đỗ ngoài đường to đưa đón, cỗ bàn mời họ mạc linh đình. Làng Vòng xưa nay đã có ai con làm nhà ba tầng ở ngoài thành phố lại là ông chủ, về đón cha ra ở cùng. Năm ngoái họ đại tôn xây nhà thờ còn góp tiền triệu, nay về như kẻ ăn mày. Ông cụ Hân sang chơi, thấy cảnh ông Đảm nằm queo trên giường, cứ vuốt râu cười nhạt: “Đất làng Vòng ở cái thế hồi quy, con rùa đi đâu cũng tìm đường trở lại. Thời nào rồi cũng vậy, đố anh trai cày làng Vòng thoát được cảnh theo sau đuôi trâu mà húp nước cáy. Có điều, thời này thì thằng nhảy lên ông, ông tụt xuống thằng cũng có mau hơn. Tôi thì chẳng lạ…”

Sau cơn ngỡ ngàng, bối rối, Trí thấy xót xa. Thương anh, một kiếp lận đận. Nhất là khi thấy anh nằm ngủ, người quấn kín chăn, nhưng lại để thò hai chân ra ngoài. Hai bàn chân to xù, ngón cái toè ngang, cứ nguyên vị thế, để sẵn sàng bật dậy là đi được ngay. Nhìn, nước mắt Trí cứ ứa ra. Chỉ đến trưa nay, nghe vợ kể lại, anh mới thấy vơi đi ít nhiều.

 

*

Đợi hai vợ chồng Trí, mỗi đứa mỗi việc đâu đó, ông Đảm len lén đi ra. Cẩn thận lách qua mấy bó tay tre buộc tròn dựng dọc vườn, chân cố tránh dẫm lên những trái khế ủng rụng, rồi men lùm tre nhà thờ họ, ông Đảm lần ra giếng Cả. Giếng cách làng non cây số, từ xa, giống như hòn đảo nổi lên đám ruộng làng Vòng.

Ông cố giữ cho thẳng lưng rồi mới từ từ hạ mông xuống mặt đá. Khi hai tay đã bíu chặt được phiến đá ghép, hệt người chơi xà, ông mới thả hai chân xuống bậc dưới. Lối lên xuống giếng giống hàng chục chiếc ghế bành, tha hồ cho ông ngự. Hơi nóng ấm sực của phiến đá ngấm khắp người. Lưng ông đang đau như bị chém, thoắt cái đỡ hẳn. Cơn đau đã dịu, ông khoan khoái ngả người nhìn lên.

Cây muỗm già xoè ô trên miệng giếng. Nó đan một vòng bóng râm úp chụp xuống lùm mua, cỏ lác, phủ lên mặt giếng một khoảng mát rượi. Những tia nắng lọt qua tầng lá dày, giống như những mũi kim châm cứu, làm ông tê mê. Ông thong thả vê thuốc cho vào nõ rồi châm lửa. Khói thuốc không chịu bay, chỉ lờ lờ lượn vòng trên đầu ông như một đám mây mỏng. Thời gian như cũng ngừng lại ở đây, dưới tán cây muỗm già còn may mắn sót lại qua binh lửa đạn bom này của làng Vòng.

Từ bữa đầu tiên về làng đến nay, trưa nào ăn xong mà trời nắng, thế nào ông cũng bỏ mặc vợ chồng thằng em để lọ mọ ra ngồi đây. Rồi tới khi cái lưng đau được sức nóng của hòn đá chườm cho dịu đi, trong đê mê dìu dịu của cơn say, ông lơ mơ bước vào một thế giới riêng. Một thế giới ông hãy còn tất cả, từ gia tài, vợ con, tuổi trẻ…

Đảm thấy mình khoẻ thế, phăm  phăm lội giữa đồng sâu, một tay vơ đẫy những lác cùng năn, một tay lùa xuống bắp chân vừa gỡ con đỉa trâu, vừa khoắng bùn nhổ cỏ. Năm ngón tay anh như hàng răng bừa thép, sục sâu quanh gốc lúa, bong bóng đất sủi lên ào ào. Mùi bùn bốc lên nồng nàn. Những con đỉa nhao lên, lặn hụp. Anh căng mũi, ngửi thấy mơ hồ đâu đó rất xa sẽ có cơn mưa. Mưa đi, để anh còn kịp cấy mấy khoảnh đồng cao. Anh ngửng lên trông trời.

Trong nắng nóng bỏng giẫy, nền trời vẫn xanh ngút ngát. Phía biển, từ ngọn rú Bầng, một đám mây trắng đặc quánh như sữa đang dần dần đùn lên từng đụn lớn. Dưới đám mây, từ phía làng, Đảm nhận ra bóng vợ đang đi đến. Nhàn một tay vén quần, một tay xách giỏ cơm, bước tập tễnh trên những bờ ruộng đã bị xén nhỏ, giống như đứa trẻ đi cầu bập bênh. Từ xa cô đã gọi to:

- Anh ơi, nghỉ tay ăn cơm đã. Nắng thế này mà cứ chúi mũi ngoài đồng, cảm xuống đây ai biết?

- Tôi mà cảm thì làng Vòng còn ai? Đảm cười, đoạn nhẹ nhàng:

- Tôi cố một chút, chiều đỡ nắng mấy mẹ con ra vừa làm cỏ, vừa cấy giắm. Lại phải lên chợ Tổng mua thêm ít mạ nếp. Trên đó nghe đâu dịp này thừa nhiều.

Nói rồi, Đảm lại cắm cúi làm. Đứng lâu, không thấy chồng nghỉ tay, Nhàn vén quần, lội xuống kéo Đảm lên. Đảm liếc nhanh hai bắp chân vợ. Trắng thật! Trong đám bùn sục đen ngòm, hai bắp chân nuột nà của vợ làm Đàm hởi lòng. Anh cố làm thế này cũng chỉ để chân em trắng, để con cháu sau này thoát được cái làng Vòng khốn nạn, quanh năm cao lương mỹ vị chỉ là nắm cáy hôi.

Trưa, đồng không mông quạnh, hai vợ chồng Đảm ngồi ăn cơm trên bờ ruộng như hai chấm nhỏ, mờ mờ, côi cút. Nắng xối xuống mặt ruộng, châm chích khắp thịt da. Khuôn mặt Đảm cứ đen ngời bên cạnh vợ...                          

*

“Púp”! ông Đảm giật mình. Một con ếch to từ trên bờ lao xuống giếng Cả. Nó rẽ nước lặn một hơi dài rồi từ từ trồi lên. Con vật doãng hai cái chân lực sĩ, thẩy những nhịp bơi nhẹ nhàng, tới gần chỗ ông ngồi thì dừng lại. Nó im lặng nổi trên mặt nước, hai chân trước co lại, hai chân sau duỗi ra giống như người nằm trên bãi cát, lười biếng, nhàn tản.

Chưa ai bắt được mày, thế là giỏi đấy. Bây giờ lươn cua ốc ếch rắn rết người ta bắt tuốt luốt, rồi đưa ra thành phố. Cả đến con cáy cũng chẳng còn là bao. Hói* Vòng làng ông xưa lắm cáy nhất vùng. Mười lăm tuổi, con trai như Đảm đã thạo nghề làm ruốc cáy. Sáng sáng, Đảm cùng thằng Đương, kém anh ba tuổi, mang đăng sáo xuống Hói Vòng lùa cáy. Hai anh em chọn chỗ khoét vũng đặt nồi, cắm sáo hai bên, chừa một lối cho cáy chạy vào nồi. Đoạn, ra sức vung sào đập vào bụi guốc. Nghe động, hàng đàn cáy chạy ràn rạt rồi rơi tọt xuống nồi. Non trưa đầy giỏ, Đương đem ra sông xóc rửa, Đảm về bắc nồi rang gạo nấu cơm thính cho kịp buổi chà. Mẹ mất từ khi thằng Đương mới lên năm, Đảm phải  tay cày, tay bếp. ông Hoá, cha Đảm là dân đi bè chuyên nghiệp, có chuyến hơn một tháng mới về. ở nhà thui thủi hai anh em, muốn có gạo ăn Đảm phải ra chợ. Chợ Nghèn phiên, ngày ba, ngày bảy, Đảm  xách liễn ruốc xuống ngồi cạnh bà hàng khô. Có phiên ngồi từ sáng đến trưa không ai hỏi đến, Đảm lại phải vay tiền đong gạo. Không có thức ăn, Đảm phải dỗ em, ăn xong thì cho lội sông, sang lấy bần xóm Đạo. Chan chan húp húp lưng cơm với môi nước cáy, bữa trưa hai anh em cũng xong. Thằng Đương thót một cái đã chui lùm sang rủ rê lũ bạn. Còn lại một mình, Đảm quẩy thùng ra giếng Cả, tự nhiên lại vòng qua nhà Nhàn.

Trưa bóng tròn, làng Vòng im ắng, Có tiếng gà xao xác mơ hồ từ phía sau lùm cây. Khóm tre nhà Nhàn vàng khô, đổ ngọn ra bốn phía như chiếc chổi rơm khổng lồ. Một ngọn gió nhẹ thổi qua, đám tre khẽ vặn mình èn ẹt, giống tiếng đưa võng. Đảm vội vã quẩy thùng đi nhanh, có bóng ai thấp thoáng ra vào dưới rèm.

Đảm vục đầy hai thùng nước, xong ngồi đợi ở bậc đá to. Đảm đợi ai, chẳng biết. Cứ muốn ngồi một lúc, chưa muốn đặt đòn gánh trên vai. Nhàn chắc bận học thi. Còn Đảm đã phải bỏ học từ hồi lớp 3. Nghĩ đến học thấy xa lắc xa lơ như trong chuyện cổ tích. Bữa bất ngờ gặp Nhàn đi gánh nước, thấy Nhàn cong lưng vất vả, Đảm đã chập đôi lại, giúp quảy về. Đảm bước nhẹ tênh tựa như chẳng có bốn thùng nước trên vai. Còn Nhàn thì hớn hở đi sau, miệng nhẩm đếm có mấy lần nước trong thùng sóng ra đất. Ăn nhằm gì, làng Vòng có dịch xa xuống chợ huyện, Đảm cũng còn lâu mới mệt.

Sau lần ấy, còn mấy chuyến quẩy giúp như thế nữa. Đảm đâm thích những trưa giếng Cả. Đảm gánh bốn thùng đi trước, Nhàn ở sau khúc khích cười.

 

*

Cọt kệt. Cọt kệt! Tiếng móc xích va thùng nước đều đều. Tiếng bước chân thậm thịch nghe gần rồi. Con ếch cộ dưới mặt giếng đã lặn hút từ bao giờ. Ông Đảm chống điếu đứng lên, quành sang bên kia gốc muỗm..

Ai gánh nước vào giờ này nhỉ? Người làng Vòng ít khi ra đây vào giờ bóng tròn. Ông hé mắt nhìn. Thằng Trí đang lấy nước. Nó cũng chập đôi thùng mỗi bên, hệt ông ngày xưa. Vục bốn thùng một lần, nó cho đòn gánh lên vai rồi đứng phắt dậy. Nước réo ào ào, chảy lênh láng bậc đá. Cái thằng em làm ngộ, chẳng kém gì ông.

Cái lưng lại đau, giờ thì khó ngồi xuống rồi. Ông Đảm tựa lưng vào gốc muỗm. Mặt giếng đang lăn tăn cơ man những vòng tròn. Nước vỗ vào bờ nhè nhẹ. Mấy cái lá muỗm khô vàng nổi dập dềnh. ông Đảm đưa mắt tìm con ếch cộ bây giờ ở đâu. Mặt giếng như rộng hơn lấp loá nắng. Những vòng tròn cứ liên tục phát ra từ phía ông ngồi.

Ừ, cuộc đời mình dễ thường là một vòng tròn như vậy. Hồi cha thằng Trí chết bom, nó sang ở với mình. Con chú ở với con bác thì cũng là ruột thịt. Giờ mình lại về ở với nó, chẳng phải là một vòng là gì?! Một đời cha cày ruộng rồi chuyển sang đi bè để nuôi con ăn học: Mong con thoát được kiếp trâu cày, vậy mà Đảm chẳng thoát nổi. Đảm muốn ra khỏi cái làng Vòng định mệnh, phải ra bằng được. Anh nung nấu ý chí ấy, bắt đầu từ chuyến bè cuối cùng của cha.

“Bè về rồi! Bè ông Hoá dài nhất làng, về rồi !!

Tiếng bọn trẻ vọng đến chỗ anh em Đảm lùa cáy. Hai đứa cuống quít, ôm cả bùn chạy về. Không thấy cha, cả hai cuống cuồng ra sông. Ông Hoá đang nằm thiêm thiếp ở trong lều.

- Cha! Đảm kêu thất thanh. Ông Hoá nặng nề ngẩng khuôn mặt vàng ệch, cặp môi đen tím mấp máy: “Cõng cha với!! Khó đi lắm!”… Đảm cõng cha như cõng một đứa trẻ, chỉ có điều là bụng ông to, kềnh kệnh sau lưng. Nước mắt Đảm chảy ướt hai tay cha. Ông Hoá gắt khẽ:

- Khóc chi ?!

Buổi trưa cả làng đến chật nhà. Ông Vinh, y tá từ thời Tây, đeo ống nghe, bắt mạch rồi thở dài; Nói mà khuôn mặt không động đậy:

- Anh em nhà Chắt Thị bệnh này, cháu Liêm cũng bệnh này toàn những anh đi bè khoẻ nhất làng. Giờ thì đến ông Hoá. Bệnh này, viện họ không nhận đâu, ông muốn ăn chi thì mua cho ông ăn!.

Đảm bỏ ra ngoài vườn ngồi lặng lẽ. Thằng Đương ôm lưng cha, khóc oà lên. Ông Hoá giọng lào thào, đã khó nghe lắm rồi:

- “Cha đã chết mô mà khóc, con”! Đương lại khóc to hơn.

Được một tuần thì ông Hoá mất. Trước ngày mất hai hôm, ông còn gượng dậy để nuốt giun đất. Có người bày cho Đảm đào đủ một trăm con để cho cha nuốt sống. Ai bị xơ gan cổ trướng, nuốt được là có cơ lành. Ông Hoá duỗi dài cổ, nuốt được mười con thì nôn ra chõng. Ông lắc đầu, chắp tay vái. Miệng lầm bầm câu khấn cửa rừng của người đi bè quanh năm: “Con lạy giang san… cho con ăn mày giang san”.

Đảm không lên cửa rừng để ăn mày như cha, anh trụ lại ở hói Vòng. Tiền bán bè nứa cuối cùng vừa đủ làm ma cho cha, còn mấy chục ngàn tiền thăm hỏi của xóm làng, Đảm dốc vào mua 5 chục vịt. Hai anh em làm lều ra Hói ở. Ngày đêm ăn ở cùng chúng, người tanh nồng phân vịt. Một mùa mưa, cả người cả vịt lênh đênh, lắm bữa vịt trôi hàng cây số, Đảm phải bơi bộ mà đuổi vịt về. Đêm đầu tiên vịt đẻ, hai anh em thức ròng, xem cái giống ngủ có một chân chúng đẻ ra sao. Lạ quá, lại mừng quá, hai anh em cứ nằm ở ngoài sương, nhìn vào ràng vịt thấy lấp ló những quả trứng mà ôm nhau, riết nhau như hai thằng cuồng.

Vịt đẻ được ba muơi lăm quả, Đảm để 5 quả lên bàn thờ cha, hai chục quả anh kế toán hợp tác vay tiếp khách, mười quả còn lại Đảm đưa sang nhờ mẹ Nhàn đi chợ. Như thế vừa có cớ gặp Nhàn, vì dạo này cô đang giúp mẹ phụ bán ở cửa hàng xã, vừa để góp vốn mua một con trâu.

Ao ước có một con trâu cày đến với Đảm từ bé. Những ngày ba cha con ra cuốc góc ruộng, Đảm cứ nung nấu trong đầu, có ngày tậu được trâu. Đảm bàn với cha có lẽ phải cả ba cha con cùng lên rừng một chuyến, chặt thêm gỗ thì may ra mới được kha khá tiền. Ông Hoá lắc đầu, nói rằng kiểm lâm ngặt lắm, vả lại bè về ta qua hai cửa cống, giấu cách chi cũng lộ. Lấy được gỗ dễ như cách các con vừa bàn thì đi bè mấy nỗi mà giàu. Sau này, khi vào Hợp tác, thấy mấy ông quản trị có trâu bò, Đảm lại càng thèm. Anh nhìn những thúng thóc được được rũ ra từ rơm trâu mà thèm, ghen tị. Công anh làm một ngày mười điểm, một lạng ba thóc, nhiều ngày Đảm gánh phân, đắp bờ được ngót ngét 30 điểm theo khoán, cũng mới được năm lạng lúa. Vậy mà mỗi lần trục lúa một gánh rơm trâu chia về rũ ra gần hai yến thóc. Người  ta đã cố tình để lúa lại trong rơm, chia cho nhau thóc rơm, dễ dàng hơn chấm lậu điểm. Không ai nói ra điều này, những nhà có trâu ai dại gì mà nói, với lại cả làng Vòng cũng mấy nhà có trâu, quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy ông quản trị, mấy ông kế toán thủ quĩ, với một vài nhà có máu mặt. Đảm biết vậy nên càng quyết chí mua bằng được. Ban ngày Đảm giao vịt cho em, còn mình thì về làng làm công hợp tác. Đêm đến lại thay phiên, ra hói ngủ canh đàn vịt. Qua mấy vụ, anh nhân lên được gần hai trăm vịt gốc. Số trứng mỗi đêm nhặt về sang gửi mẹ Nhàn bán hộ, đã phải đội bằng thúng. Bà Lân nhìn Đảm ngoài phần thương, đã có điều nể trọng. Phải cái nhà nó thân cô thế cô, gà trống nuôi nhau, mà con bà lại quen ăn trắng mặc trơn, có bề gì về sau lại khổ. Bà cũng có nhắm mấy đám trai phố chợ, có đứa đã đến nhà. Nhưng chúng đến rồi chúng đi, chẳng đứa nào ngồi lâu uống với bà bát nước. Dân kẻ chợ chê làng Vòng cua cáy, nước làng Vòng sền sệt phèn vàng. Chỉ có Đảm vẫn hàng sáng đội trứng sang gửi bà, rồi hàng trưa ra giếng Cả giúp Nhàn quảy nước. Bà Lân biết chuyện, lặng lẽ chưa nói gì.

Ngày Đảm góp đủ tiền tậu trâu thì Mỹ ném bom cầu Ngạn, khói trùm làng Vòng. Mờ sáng một mình anh lên chợ Thượng, dạo đến trưa mới mua được một nghé đực hai răng. Chiều dắt về thì làng Vòng vắng ngơ vắng ngắt. Đảm hốt hoảng buộc trâu vào gốc tre rồi chạy. Người làng xuống xóm Đống, kề cầu Ngạn để chữa cháy. Bọn Mỹ giết một lúc mười bảy người lớn nhỏ ở đây, trong đó có cả nhà chú ruột. Anh bươn ra nghĩa địa xóm Đống, gặp thằng Đương người đen nhẻm khói than, bế thằng Trí con chú anh, đang khóc ngàn ngạt trước một dãy mồ, Đảm cứ đứng như người hoá đá, lờ mờ thấy một gánh nặng sẽ đè trĩu vai mình.

Buổi tối, Đảm giết hai con vịt làm một mâm cơm, đặt lên bàn thờ thắp hương cho cha, cho cả nhà chú. Lại sai em sang mời hai mẹ con bà Lân. Bữa cơm của năm người diễn ra lặng lẽ, không ra vui mà cũng không ra buồn. Nhàn bế Trí  trên lòng, nhai nhỏ nhẻ. Đảm nao nao người khi thấy bà Lân gắp thức ăn vào bát anh. Chỉ có Đương là thản nhiên chan húp sì sụp. Cuối bữa, đợi Nhàn bê mâm bát ra ao, bà Lân mới ý tứ:

- Anh Đảm rồi phải lo liệu mọi việc đi là vừa. Có gì thì cũng cứ nói thẳng ra. Tôi cũng như mẹ của các anh ngày còn sống. Thời buổi bom rơi đạn vãi, ai biết mà lường. Nhà này hai trai đằng nào cũng có anh vào lính. Không anh thì em, ngày mai xã đã khám tuyển rồi.

Đảm cúi đầu ngồi nghe, tim đập to, hai tay bóp chặt mép chõng, chưa biết trả lời ra sao. Thằng Đương láu táu:

- Em đi bộ đội, cho anh Đảm ở nhà. Em quyết định rồi, không phải bàn bạc chi cả.

Bà Lân cười, chuyện vãn một lúc rồi chào về. Đêm ấy, Đảm với Nhàn được ngồi với nhau nói chuyện linh tinh làng tàng đến khuya. Một đêm, trời nhiều sao vô kể…                                          

*

… Anh Đảm ơi! Anh Đảm  ơi… ơi !…

Tiếng con gái gọi văng vẳng. Ông Đảm giật mình, ngó láo liêng. Cây muỗm  đang lặng lẽ thả xuống mặt giếng mấy chiếc lá vàng. Con ếch cộ đang nằm  yên dưới chỗ ông ngồi, giương cặp mắt lồi, dò hỏi.

Ai gọi mình nhỉ? Thằng Đương đi bộ đội, lấy vợ người Nùng, ở mãi ngoài Điên Biên, không về. Còn Nhàn chết rồi. Lâu nay có ai gọi ông là anh nữa đâu. Hồi vợ chồng mới có thằng Dũng, Đảm đã già hơn Nhàn nhiều lắm. Cao, xương, đen, lại hơi gù, Đảm đi bên cạnh Nhàn, khối người chào hai bố con. Nghe, Đảm không giận, mà cũng chẳng chạnh lòng. ở đời, ai chẳng muốn có con ngoan, vợ đẹp. Anh có cả hai. Thằng Dũng học thông mỗi ngày một lớn. Vợ ông, trời không cho đẻ tiếp, cứ  phây phây như gái thị thành. Ông còn muốn cho Nhàn đẹp hơn, trẻ hơn nữa thì mới thích. Mà quả vậy, ông càng già đi, thì Nhàn càng trẻ ra… Đổi lại, Đảm phải đạp xe hàng trăm cây số, lên tận miền ngược mua đỗ lạc, về chợ nhà bán lại, đong gạo đong mì. Một cân lạc mua ở trên đó về nhà Đảm đổi được gần mười cân mì hột. Vợ con không phải ăn đến mì hột, chỉ mình anh. Dạ dày như máy nghiền, miễn là được no, anh sẵn sàng đẩy xe vào chợ tỉnh, mỗi phiên chợ là năm trăm cân thóc. Năm trăm cân là một nửa tấn. Anh tự ví mình như con bò kéo. ừ, thì bò để vợ nhàn nhã, con học hành tấn tới. Khi thằng Dũng đậu vào đại học, mỗi kỳ ra thăm con, anh cõng trên vai hơn 50 cân gạo, ra Hà Nội như đi chợ. Đi mãi cũng thành quen, không vé tàu anh vẫn ra vào ga đàng hoàng không ai biết. Cái mẹo của Đảm  thật là đơn giản. Khi tàu đến ga Hà Nội, mọi người xuống hết, anh cứ ngủ lại trên tàu. Đợi đến lúc các nhân viên vệ sinh lên dọn dẹp tàu, anh mới giả bộ hỏi giờ tàu chạy về Vinh. Nhân viên nhà ga hỏi vé về Vinh, anh lúng túng xin lỗi. Bảo vệ bực mình lôi anh dậy, đẩy ra. Thế là thoát. Cái ăn cái uống dọc đường còn dễ hơn. Cơm gói ăn đủ một ngày đường, uống nước ở vòi rửa mặt, phần chi tiêu cho riêng mình chẳng hết là bao nhiêu. Anh dành dụm cho con, hởi lòng hởi dạ khi biết con học giỏi. Ông trời như cũng có mắt, bù lại sự hiếm hoi, chắt bóp của Đảm, thằng Dũng tốt nghiệp ra trường với bằng loại ưu, được làm việc trong liên doanh với nước ngoài. Bõ công anh thân cò thân vạc, lặn lội đêm ngày, cốt cho vợ, cho con thoát nước cái làng ao tù nước đọng. Cái sự già đi của khuôn mặt Đảm, là để đổi lấy bao nhiêu ước ao. Người làng Vòng đã gọi Đảm là lão, là ông ít ai còn gọi là anh.

Ai gọi anh Đảm ơi? ai? Nhàn chết thật rồi mà. Trong cái đêm hai vợ chồng thằng con phải đi gấp để gặp bạn hàng đang nghỉ ở ngoài bờ biển. Ông không muốn đi cùng, giá Nhàn cũng ở lại thì đâu đến nỗi. Chắc số trời đã định thế, cái phận ông phải chịu vất vả thế. Ngày vợ chồng thằng Dũng về khuyên ông bán nhà ra thành phố, ông đã không ưng. Nhưng cũng bởi tại Nhàn, bà ấy cứ một mực khăng khăng đòi đi.

- “Ông tiếc lắm  à? Cho ông ở nhà một mình nhé. Tôi ra ở với con’. Ôi dào, con đi, vợ đi thì còn ở lại với ai? Chắc bà lại mê cái xe nghe đâu tính ra tiền tỷ. Một tỷ lớn như thế nào, ông không biết, chỉ nghe thằng cháu họ đang học trường chuyên phố huyện bảo rằng chỉ cần chồng dọc một tỷ chiếc bút chì là lên tới mặt trăng. Ông rùng mình, lạnh sống lưng. ừ thì đi, nhưng khoan bán nhà vội. Giao cho vợ chồng thằng Trí con Bình trông hộ, sau này không ở thì xây thành nhà thờ. Ruộng đất chia lâu dài thì cứ giữ, ai làm cũng cho họ thuê. Đời đã biết đến đâu là cùng. Thấy ông gật đầu, bà Nhàn cười tít mắt. Cười to hơn là anh chàng lái xe cho con trai ông. Gã cũng xấp xỉ tuổi Nhàn mà ăn mặc cứ như thằng mới lớn.

Phải một nỗi từ ngày ra thành phố, ông thấy trong người yếu đi; ốm vặt luôn. Hai vợ chồng ông ở gác ba, ngày đêm máy điều hoà chạy xè xè. Ông không chịu được lạnh, còn bà thì luôn luôn kêu nóng. Ông không muốn đi đâu, mà thực ra cũng chẳng biết đi đâu, còn Nhàn thì ra phố luôn. Một chốc bà ấy lại gọi điện cho anh chàng lái xe của con trai. Hôm thì mua váy áo, hôm thì chơi công viên. Bà thông thạo giá cả ở thành phố như chợ quê. Mà hễ cứ bước về nhà là bà vô buồng tắm. Bà tắm rõ lâu. Tiếng nước xối ào ào làm ông Đảm cứ ơn ớn như người phải cảm. Nhiều đêm nằm cạnh vợ, ông thấy lạnh muốn dịch vào thì bà Nhàn kêu nóng, toài ra. Những lúc ấy, ông thấy sống lưng mình giật thon thót. Ông cứ thấy lo lo, chẳng biết lo cái gì.

Thôi, ông không đi thì ở nhà mà xem  ti vi cho khoẻ – bà Nhàn nói với chồng như dỗ con.

- “Vừa xem ti vi vừa uống bia, đời thế là sướng bằng vạn dân làng Vòng của ông rồi. Đi biển chỉ tổ nhọc xác”. Gã lái xe đế vào, mắt nhìn bà Nhàn cười, ranh mãnh. Vợ chồng Dũng đang bận bịu với các loại giấy tờ, tiền nong để đi gặp đối tác. Họ hẹn nhau sẽ làm việc ở nhà nghỉ, ngay trong đêm nay, sáng mai hai khách hàng của Dũng đã phải bay rồi. Ông cứ mãi quan sát đến sự bận rộn của con, nên cũng chẳng để ý đến việc bà Nhàn đã xuống ngồi trong xe từ bao giờ. Vợ chồng Dũng lễ mễ xách va li ra đến cầu thang, còn ngoái lại:

- Thôi, cha yên tâm, chúng con về nhanh mà!

Khi chiếc xe thuốn vào màn đêm rồi nhanh chóng chìm vào dòng đèn chảy trên mặt đường một hồi lâu, ông Đảm mới trở vào, tắt đèn đi ngủ. Nằm mà không tài nào nhấp mắt được. Chập chờn trong đầu ông là khuôn mặt bà Nhàn với nụ cười như con nít, khuôn mặt trai lơ của gã lái xe. Ông lạnh người chợt nghĩ ra, rằng lâu nay bà Nhàn đã quá chơi thân với hắn. Một anh lái xe sống xa vợ, thuê căn hộ trên khu tập thể, đã có lần mời hai vợ chồng ông đến chơi nhà. Lần đó, khi thấy bà Nhàn thành thạo căn hộ hắn, rồi đun nước mời ông; ông Đảm chưa nghĩ ra điều gì. Chỉ thấy lấn cấn trong người mà thôi. Đến hôm nay, khi bà nằng nặc đòi đi, có gã lái xe đứng sau đế vào, ông cũng chưa nghĩ được gì rành mạch. Chỉ đến lúc này bụng ông mới cồn cào, ruột nóng như có ai hun lửa. Ông chồm dậy, với tay bật đèn, bồn chồn đi đi lại lại.

Khó khăn lắm ông mới tìm được chiếc chìa khoá tủ đầu giường. Lẩy bẩy mở ra, ông tìm chiếc túi vải con. Mãi mới mở được nút dây thắt túi. Những xếp tiền ông tích cóp, những đồng tiền vợ chồng Dũng cho ông ăn quà, hãy còn. Hình như có cả những đồng tiền của bà Nhàn cũng góp vào đây. Ông muốn đếm lại chúng, nhưng không tài nào điều khiển đôi tay được. Đầu óc ông rối mù. Ông trút một tiếng thở dài, rồi lên giường nằm. Tự thấy mình vô lối.

Đột nhiên, toàn thân ông ớn lạnh, bổi hổi. Hai đầu gối mỏi lìa. Sống lưng giật liên hồi, đau như bị chém. Mồ hôi lạnh vã đầy mình. Ông vừa quạt chân xuống đã ngã ngồi trên sàn gạch. Lâu lắm, ông cứ ngồi như thế, không đứng lên được, như bị đóng đinh xuống sàn nhà. Ông muốn đứng lên, gọi điện thoại. Nhưng không biết gọi, mà gọi ai?

Tới khi có tiếng ô tô phanh kít trước cổng, tiếng đập cửa gấp gáp, tiếng người lao xao, ông mới nặng nề đứng lên, lảo đảo ra mở cổng. Một đám đông vây lấy ông. Có tiếng ai đó bên tai, nói rằng xe của con ông bị tai nạn. Ông không còn nghe được gì nữa, ù đặc, loạng choạng bước lên, gạt cái người mặc quần áo công an đang chắn trước mặt, để bước thêm vài bước. Thoáng thấy chiếc xe con bẹp dí được kéo sau xe tải, với bốn cái xác người bó bằng vải trắng, máu đỏ thấm loang lổ, ông mới hộc lên một tiếng rồi đổ vập đầu vào đống đá răm cạnh ngõ nhà. Một chớp lửa sáng loá trước mắt ông rồi sau đó là một màn tối thui thăm thẳm. Ông thấy một nửa phần trên của thân thể mình cứ chui mãi. Chui mãi, sâu xuống mấy tầng đất đen. Nhẹ bẫng không bị vướng víu vì đôi chân, cứ thế ông chìm dần, chìm dần vào đêm đen dài bất tận….

Lào thào, lào thào, ông nghe những tiếng người, tiếng sụt sịt, tiếng người đọc điếu văn, tiếng đất lấp quan tài. Không ai nói với ông điều gì, chỉ có mùi dầu xoa, mùi nước hoa làm ông ngập ngụa. Ông gọi rất to, gọi bà Nhàn, gọi vợ chồng thằng Dũng, đợi ông, cho ông đi cùng. Chẳng ai nghe ông. Không có tiếng trả lời. Ông như người tàng hình bên cạnh những người ra vào trong ngôi nhà của con ông. Loáng thoáng bên tai ông những từ công chứng, khế ước ngân hàng, niêm phong… Ông đã cười to, cười mãi, không ai cười với ông, có lẽ họ không còn hiểu được tiếng ông nữa. Người ta đang mải lo tính toán để trừ nợ vay của thằng Dũng. Nó không còn nhà. Những cái nhà to xây không phải bằng tiền của mình. ở đây nhiều nhà giống như nhà thằng Dũng, đến đó mà lấy hết đi. Ha ha… của phù vân. Của giả. Không giống như cái gói tiền bằng vải ông buộc kèm giải rút – nó thật. Nó đang cồm cộm phía bụng dưới của ông.

Ai đó tiêm vào cánh tay ông. Người đàn bà mặc áo trắng, đi lại, hệt bà Nhàn. Họ không nghe được tiếng của ông. Có lẽ ông thường nói lộn, không ra đầu không ra đuôi. Ông đã quên nhiều chuyện quá, có nói ra cũng chẳng biết nói gì. Chỉ có con đường đi về làng Vòng thì ông còn nhớ. Con đường chiếc xe đen đưa ông ra, bây giờ ông đi ngược lại. Ông tìm đường về. Ông trốn về. Ông thù những chiếc xe chạy trước mặt ông, những chiếc xe đã giết vợ con ông. Ông đi bộ. Đi mãi. Ông chỉ ăn cầm hơi, uống nước lã. Đêm ngủ ở vệ đường. Đất nóng sực, chườm lưng làm ông nhớ những phiến đá ghép ở giếng Cả làng Vòng. Những phiến đá to, làng ông phải đợi lụt mới dùng thuyền chở ra, ghép thành bậc lên xuống. Mỗi bậc giống hệt chiếc ghế bành.                                               

*

- Anh Đảm ơi! Anh Đảm ơi. Bác Đảm…!

Tiếng người con gái gọi sát sạt bên tai làm ông Đảm giật mình. Cái điếu cày rời khỏi tay ông, rơi lộc cộc xuống bậc đá. Ông luống cuống quay lại nhìn. Ông phải hạ tay xuống, bịt chặt mồm kẻo lại kêu lên: bà Nhàn…

Bình cầm nón quạt, vừa buồn cười vừa thương hại ông anh họ.

- Trưa nào anh cũng ra đây hả. Trời, em tìm khắp nơi. Này, anh về nhà đi, em hỏi trâu cho anh rồi. Lão Hoàn ở làng Đống bán để mua máy cày Trung Quốc. Lão đang chờ anh ở nhà đó. Về thôi, anh!

Bước xuống bậc đá, đưa tay đỡ ông anh họ, Bình ngạc nhiên thấy ông Đảm đổi thần sắc. Lúc nãy còn như người mất hồn, vậy mà giờ đã tươi thế, khuôn mặt ông giãn ra, mồm cười hiền.

- Mua trâu là phải, anh tính vậy là đúng nhất. Vừa đi, Bình vừa chuyện cà kê. Anh tính, đất làng Vòng sâu, máy mó gì, chạy mươi bữa lại chẳng phải nuôi bọn sửa máy dưới phố. Có tiền anh cứ mua thêm một bình phun thuốc sâu nữa. Có trâu, có sức, lại có tất cả, lo gì.

Vừa đi, ông Đảm vừa nghe cô em họ líu tíu chuyện trò. Ông bước những bước dài, cả mười ngón toè ra, áp sát gan bàn chân xuống lớp đất nóng mịn trên dường. Cái nóng như luồng điện, chạy suốt từ chân lên đến đỉnh đầu. Cơn đau lưng của ông như biến mất. Tới lối rẽ, chợt ông dừng lại.

Hai thằng bé cởi trần, tóc tai dính bết bùn, xách hai túi ni lông đựng đầy ốc, chạy trước mặt hai người. Thằng lớn cỡ lên mười, đứa nhỏ hơn, chắc là em ruột. Thằng anh vừa chạy vừa hỏi:

- Mi còn thiếu quyển chi nữa?

- Đạo đức với Tự nhiên xã hội. Hai quyển. Từng ni mua đủ không?

- Mai phải đi một trưa nữa. Giờ về đổ vào vại, cho nước vo gạo mà nuôi…

Hai thằng chạy ra bờ sông, rồi lao ùm xuống nước như hai con vịt. Bình ngạc nhiên, thấy ông Đảm đứng nhìn thỉnh thoảng lại lắc đầu. Rồi cười.

                                         

* hói là bãi bùn nổi bên bờ sông, có nơi gọi sác

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Các tin mới hơn