Gửi thư   
Bản in

Nhà thơ Mai Phương
Dấu ấn đời bút, đời người
Dường như có số phận, có định mệnh, có cái duyên hay cái nợ đời… thật.
Một chàng trai trẻ sinh ra từ mãi trong Phú Yên, lớn lên gặp buổi gian nan, “chẳng hiểu thế nào” lại “lọt” vào giữa tâm điểm của vùng than Quảng Ninh rồi gắn bó với nó, từ đó cho đến cả đời người. Tôi xin mở ngoặc đơn mà trích ngang ra đây lí lịch của nhà thơ Mai Phương, tác giả của cuốn sách mà tôi đang vì mê mà viết bài giới thiệu: Ông tên thật là Lê Viết Thuận. Sinh năm 1933 ở Tuy An-Phú Yên.
Đơn giản gọn nhẹ thế.
Năm nay nhà thơ Mai Phương mới có… 80 tuổi Xuân.
Tám mươi tuổi mà gặp ông ta vẫn được hưởng cái không khí tươi vui hồ hởi của tuổi trẻ. Mới sáng tinh sương chưa thả chân xuống giường đã nghe điện thoại reo. Màn hình hiện hai chữ tên anh, giật mình nhớ ra chiểu hôm qua anh hẹn lên Hà Nội. Nhìn đồng hồ mới có 6h30. Hỏi anh sao đi sớm thế. Anh cười trong máy: “Dậy nhanh, ra ăn sáng với tớ. Có đi sớm mới tới được sớm chứ!”.
Tôi vội đến điểm hẹn. Ông anh đang ngồi nhâm nhi càfe với anh bạn tri kỷ lái xe. Thấy tôi, ngay lập tức ông trao cho “cục gạch” - cuốn sách mới “ra lò”: Mai Phương Ký & Truyện.
- Chú mày cầm về đọc, hay thì đọc tiếp, dở thì bỏ dở luôn!
*
Tôi về nhà, nghĩ bụng: “Tình trạng này có khi mình phải mất với bố cả tuần đây!”. Nghĩ là nghĩ vậy nhưng tay đã vội mở sách. Cũng là theo thói quen, đọc chơi thử vài dòng, bài đầu, gặp ngay “Cọc Sáu, khúc tráng ca của người thợ mỏ”. Vâng, “Cọc Sáu”, một địa danh thân quen mà chả mấy hiểu lập tức tôi bị cuốn vào hồi ức chiến tranh. Thời đầu chống Mỹ, anh rể tôi ra quân, chuyển về mỏ than Hà Tu làm lái x e cho Mỏ. Tôi được nghe danh “Cọc Sáu” từ thuở thiếu thời là thế, và trở nên thân thiết vì nơi ấy có anh tôi. Anh tôi là đội trưởng đội tự vệ, bị hy sinh trận bom đầu tiên Mỹ ném xuống miền Bắc nước ta ở Quảng Ninh.. Đọc “Cọc Sáu” của Mai Phương gợi tôi nhớ lại toàn bộ không gian thời đất nước lâm nguy, thời hình tượng những người thợ mỏ như những người lính tiền tiêu “bới đất tìm vàng dựng xây Tổ Quốc”. Thời Quảng Ninh là điểm nóng, biển đảo là điểm nóng, thu hút hàng triệu trái tim những người trai trẻ lên đường. Tôi đọc tiếp theo đó, và đọc cả các bài sau của cuốn sách, tôi cứ thấy hình dáng anh tôi hiện lên thấp thoáng qua từng con chữ, qua từng dòng than, qua từng đời người.
Thường thì các nhà thơ viết bút ký rất hay vì họ “thổi” được hồn thơ vào các con số, làm cho các con số bay bướm, có sắc thái riêng và có hồn cốt riêng. Đọc bút ký của Mai Phương ta gặp rất nhiều phận người, rất nhiều chân dung đẹp, đẹp ở cái sự gồ ghề, cá tính, không thấy có “màu mè riêu cua” mà thật gần gũi thân thương, như anh tôi vừa hiện trở về với tôi vậy.
Đọc bút ký Mai Phương ta bắt gặp rất nhiều “vấn đề” của than, vấn đề của đất nước. Một thời than là chủ lực, than là “vàng đen”, than là nguồn sống. Xung quanh hòn than đất nước thời chiến tranh gặp muôn vàn sự kiện, gặp muôn vàn khó khăn hóc búa, và cũng phải thốt lên: “Kì lạ thay!” người vùng than đều vượt qua những cam go thử thách tưởng như không thể. Chỉ có ý chí kiên cường của lòng người vùng than, những gánh nặng đè lên vai người thợ mỏ, những đạn bom ác liệt của thời chiến thử thách sự sống còn của đất nước của con người vùng mỏ. Đọc bút ký Mai Phương gợi cho tôi nhớ lại những dòng cảm xúc tươi rói, những trang văn tươi rói của các nhà văn vùng than thời chiến tranh chống Mỹ. Họ thực sự là những người con anh hùng của vùng mỏ anh hùng với những “Đêm ấy vùng than ai thức”, “Kiểm tu” của các nhà văn trẻ, các cây bút trẻ đầy sung sức, những cái tên tràn sức sống: Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Sỹ Hồng, Yên Đức, Triệu Nguyễn, Nam Ninh, Trần Nhuận Minh…và sau này là lớp nhà văn “hậu chiến” thành công như Dương Hướng. Võ Khắc Nghiêm, Phan Thanh, Vũ Thảo Ngọc, Trịnh Công Lộc …

Đọc bút ký Mai Phương tôi mới biết được “một chi tiết nhỏ” bấy lâu cứ đinh ninh rằng, than Quảng Ninh với những mỏ than lộ thiên, nghe mà sướng cái màng nhĩ. Cứ ngỡ như ta hiểu thông thường “lộ thiên” là lộ ra ngoài. Nào ngờ, sự “lộ thiên” ấy người thợ mỏ phải đánh vật với độ sâu dưới hàng trăm mét để “bóc” đất ra, “điệu” than lên, như thể đánh vật với khủng long thời tiền sử. Có được một ki-lô-gam than “lộ thiên” như các nhà “lộ thiên học” ngợi ca thì người thợ mỏ phải mất cả đấu mồ hôi, thậm chí cả máu và nước mắt.
Đọc bút ký vùng than của Mai Phương ta mới có dịp gặp những ông Bình độc đáo, một ông Phó Giám Đốc mỏ Đèo Nai lam làm, ngăn nắp và gần gũi anh em thợ. Ông “cứu” Đèo Nai đang bên bờ vực…mất tên, vì phải nhập vào với Cọc Sáu. Ông Bình đã xin giữ lại, phục hồi từ lòng tin anh em, không thể vì khó khăn mà để mất phiên hiệu…
Đọc Mai Phương ta mới gặp ông Phú Thưởng dân miền Trung thẳng tính, nóng nẩy nhưng nặng tình người, không chịu khuất phục cái cách làm ăn cổ lỗ, “xốc” cái xí nghiệp tuyển than Cửa Ông lên vì giỏi chọn cán bộ, tin vào năng lực anh em…
Đọc bút ký Mai Phương, ta gặp những Đỗ Hữu Tờ, một người lính, một người bạn thiết của dân nghèo, vực cả một vùng bao năm đói khổ nổi lên như một hiện tượng mới trong công cuộc nuôi trồng thủy hải sản và cải tạo môi trường ở vùng biển Vân Đồn. Đỗ Hữu Tờ như một “người hùng” trong thời kỳ đổi mới. Anh đã từng chuyển giao kỹ thuật và giúp không cả giống cho gần 300 hộ dân của sáu xã đảo: Bản Sen, Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Minh Châu, Quan Lạn... Về đây ta nghe tiếng dân nói về Đỗ Hữu Tờ như nói về người con thân thiết nhất của quê hương: “Năm 2008 anh đã thành công trong việc tạo giống Hàu Thái Bình Dương lên đến cả triệu con mà trước đó ta phải nhập ngoại hết sức tốn kém.”
Đọc bút ký Mai Phương ta gặp những trang đời, những trang văn đậm tình nặng nghĩa của lớp lớp cán bộ từ muôn phương tụ về với vùng than. Ta không còn cảm giác phân biệt giữa Mai Phương nhà thơ, nhà văn với Mai Phương nhà báo mà ta chỉ thấy một Mai Phương yêu người vùng mỏ, yêu việc vùng than, gắn bó da diết đời ông với những bước thăng trầm của xứ mỏ “vàng đen” yêu dấu của đất nước.
Không phải dễ gì có được những người viết tâm huyết với vùng than đến máu thịt như các nhà văn cùng thế hệ với Mai Phương. Qua hơn 300 trang sách, chân dung vùng than với những sự kiện oai hùng và cả những khó khăn thời ấu trĩ được ngòi bút chân phương, từng trải của nhà văn, nhà thơ, nhà báo Mai Phương dựng lên qua các cuộc đời thăng trầm đầy kịch tinh của các nhân vật, tạo cho ta cảm giác thật thân thương gần gũi, mến yêu cùng tác giả, chia sẻ cùng người vùng than miền Đông Bắc của Tổ Quốc. Cuốn sách như một dấu ấn đời người của một đời bút và hơn thế nữa, đó là dấu ấn một thời của tình người đất mỏ.
(Nguồn: Văn Nghệ)

Nhà thơ Mai Phương
Dấu ấn đời bút, đời người
Dường như có số phận, có định mệnh, có cái duyên hay cái nợ đời… thật.
Một chàng trai trẻ sinh ra từ mãi trong Phú Yên, lớn lên gặp buổi gian nan, “chẳng hiểu thế nào” lại “lọt” vào giữa tâm điểm của vùng than Quảng Ninh rồi gắn bó với nó, từ đó cho đến cả đời người. Tôi xin mở ngoặc đơn mà trích ngang ra đây lí lịch của nhà thơ Mai Phương, tác giả của cuốn sách mà tôi đang vì mê mà viết bài giới thiệu: Ông tên thật là Lê Viết Thuận. Sinh năm 1933 ở Tuy An-Phú Yên.
Đơn giản gọn nhẹ thế.
Năm nay nhà thơ Mai Phương mới có… 80 tuổi Xuân.
Tám mươi tuổi mà gặp ông ta vẫn được hưởng cái không khí tươi vui hồ hởi của tuổi trẻ. Mới sáng tinh sương chưa thả chân xuống giường đã nghe điện thoại reo. Màn hình hiện hai chữ tên anh, giật mình nhớ ra chiểu hôm qua anh hẹn lên Hà Nội. Nhìn đồng hồ mới có 6h30. Hỏi anh sao đi sớm thế. Anh cười trong máy: “Dậy nhanh, ra ăn sáng với tớ. Có đi sớm mới tới được sớm chứ!”.
Tôi vội đến điểm hẹn. Ông anh đang ngồi nhâm nhi càfe với anh bạn tri kỷ lái xe. Thấy tôi, ngay lập tức ông trao cho “cục gạch” - cuốn sách mới “ra lò”: Mai Phương Ký & Truyện.
- Chú mày cầm về đọc, hay thì đọc tiếp, dở thì bỏ dở luôn!
*
Tôi về nhà, nghĩ bụng: “Tình trạng này có khi mình phải mất với bố cả tuần đây!”. Nghĩ là nghĩ vậy nhưng tay đã vội mở sách. Cũng là theo thói quen, đọc chơi thử vài dòng, bài đầu, gặp ngay “Cọc Sáu, khúc tráng ca của người thợ mỏ”. Vâng, “Cọc Sáu”, một địa danh thân quen mà chả mấy hiểu lập tức tôi bị cuốn vào hồi ức chiến tranh. Thời đầu chống Mỹ, anh rể tôi ra quân, chuyển về mỏ than Hà Tu làm lái x e cho Mỏ. Tôi được nghe danh “Cọc Sáu” từ thuở thiếu thời là thế, và trở nên thân thiết vì nơi ấy có anh tôi. Anh tôi là đội trưởng đội tự vệ, bị hy sinh trận bom đầu tiên Mỹ ném xuống miền Bắc nước ta ở Quảng Ninh.. Đọc “Cọc Sáu” của Mai Phương gợi tôi nhớ lại toàn bộ không gian thời đất nước lâm nguy, thời hình tượng những người thợ mỏ như những người lính tiền tiêu “bới đất tìm vàng dựng xây Tổ Quốc”. Thời Quảng Ninh là điểm nóng, biển đảo là điểm nóng, thu hút hàng triệu trái tim những người trai trẻ lên đường. Tôi đọc tiếp theo đó, và đọc cả các bài sau của cuốn sách, tôi cứ thấy hình dáng anh tôi hiện lên thấp thoáng qua từng con chữ, qua từng dòng than, qua từng đời người.
Thường thì các nhà thơ viết bút ký rất hay vì họ “thổi” được hồn thơ vào các con số, làm cho các con số bay bướm, có sắc thái riêng và có hồn cốt riêng. Đọc bút ký của Mai Phương ta gặp rất nhiều phận người, rất nhiều chân dung đẹp, đẹp ở cái sự gồ ghề, cá tính, không thấy có “màu mè riêu cua” mà thật gần gũi thân thương, như anh tôi vừa hiện trở về với tôi vậy.
Đọc bút ký Mai Phương ta bắt gặp rất nhiều “vấn đề” của than, vấn đề của đất nước. Một thời than là chủ lực, than là “vàng đen”, than là nguồn sống. Xung quanh hòn than đất nước thời chiến tranh gặp muôn vàn sự kiện, gặp muôn vàn khó khăn hóc búa, và cũng phải thốt lên: “Kì lạ thay!” người vùng than đều vượt qua những cam go thử thách tưởng như không thể. Chỉ có ý chí kiên cường của lòng người vùng than, những gánh nặng đè lên vai người thợ mỏ, những đạn bom ác liệt của thời chiến thử thách sự sống còn của đất nước của con người vùng mỏ. Đọc bút ký Mai Phương gợi cho tôi nhớ lại những dòng cảm xúc tươi rói, những trang văn tươi rói của các nhà văn vùng than thời chiến tranh chống Mỹ. Họ thực sự là những người con anh hùng của vùng mỏ anh hùng với những “Đêm ấy vùng than ai thức”, “Kiểm tu” của các nhà văn trẻ, các cây bút trẻ đầy sung sức, những cái tên tràn sức sống: Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Sỹ Hồng, Yên Đức, Triệu Nguyễn, Nam Ninh, Trần Nhuận Minh…và sau này là lớp nhà văn “hậu chiến” thành công như Dương Hướng. Võ Khắc Nghiêm, Phan Thanh, Vũ Thảo Ngọc, Trịnh Công Lộc …

Đọc bút ký Mai Phương tôi mới biết được “một chi tiết nhỏ” bấy lâu cứ đinh ninh rằng, than Quảng Ninh với những mỏ than lộ thiên, nghe mà sướng cái màng nhĩ. Cứ ngỡ như ta hiểu thông thường “lộ thiên” là lộ ra ngoài. Nào ngờ, sự “lộ thiên” ấy người thợ mỏ phải đánh vật với độ sâu dưới hàng trăm mét để “bóc” đất ra, “điệu” than lên, như thể đánh vật với khủng long thời tiền sử. Có được một ki-lô-gam than “lộ thiên” như các nhà “lộ thiên học” ngợi ca thì người thợ mỏ phải mất cả đấu mồ hôi, thậm chí cả máu và nước mắt.
Đọc bút ký vùng than của Mai Phương ta mới có dịp gặp những ông Bình độc đáo, một ông Phó Giám Đốc mỏ Đèo Nai lam làm, ngăn nắp và gần gũi anh em thợ. Ông “cứu” Đèo Nai đang bên bờ vực…mất tên, vì phải nhập vào với Cọc Sáu. Ông Bình đã xin giữ lại, phục hồi từ lòng tin anh em, không thể vì khó khăn mà để mất phiên hiệu…
Đọc Mai Phương ta mới gặp ông Phú Thưởng dân miền Trung thẳng tính, nóng nẩy nhưng nặng tình người, không chịu khuất phục cái cách làm ăn cổ lỗ, “xốc” cái xí nghiệp tuyển than Cửa Ông lên vì giỏi chọn cán bộ, tin vào năng lực anh em…
Đọc bút ký Mai Phương, ta gặp những Đỗ Hữu Tờ, một người lính, một người bạn thiết của dân nghèo, vực cả một vùng bao năm đói khổ nổi lên như một hiện tượng mới trong công cuộc nuôi trồng thủy hải sản và cải tạo môi trường ở vùng biển Vân Đồn. Đỗ Hữu Tờ như một “người hùng” trong thời kỳ đổi mới. Anh đã từng chuyển giao kỹ thuật và giúp không cả giống cho gần 300 hộ dân của sáu xã đảo: Bản Sen, Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Minh Châu, Quan Lạn... Về đây ta nghe tiếng dân nói về Đỗ Hữu Tờ như nói về người con thân thiết nhất của quê hương: “Năm 2008 anh đã thành công trong việc tạo giống Hàu Thái Bình Dương lên đến cả triệu con mà trước đó ta phải nhập ngoại hết sức tốn kém.”
Đọc bút ký Mai Phương ta gặp những trang đời, những trang văn đậm tình nặng nghĩa của lớp lớp cán bộ từ muôn phương tụ về với vùng than. Ta không còn cảm giác phân biệt giữa Mai Phương nhà thơ, nhà văn với Mai Phương nhà báo mà ta chỉ thấy một Mai Phương yêu người vùng mỏ, yêu việc vùng than, gắn bó da diết đời ông với những bước thăng trầm của xứ mỏ “vàng đen” yêu dấu của đất nước.
Không phải dễ gì có được những người viết tâm huyết với vùng than đến máu thịt như các nhà văn cùng thế hệ với Mai Phương. Qua hơn 300 trang sách, chân dung vùng than với những sự kiện oai hùng và cả những khó khăn thời ấu trĩ được ngòi bút chân phương, từng trải của nhà văn, nhà thơ, nhà báo Mai Phương dựng lên qua các cuộc đời thăng trầm đầy kịch tinh của các nhân vật, tạo cho ta cảm giác thật thân thương gần gũi, mến yêu cùng tác giả, chia sẻ cùng người vùng than miền Đông Bắc của Tổ Quốc. Cuốn sách như một dấu ấn đời người của một đời bút và hơn thế nữa, đó là dấu ấn một thời của tình người đất mỏ.
(Nguồn: Văn Nghệ)
Sự kiện
VanVN.Net - Sáng 27/04/2013, tại Bảo tàng Văn học Việt Nam (275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội), Lễ kỷ niệm 65 năm Báo Văn nghệ và trao giải Cuộc thi truyện ngắn tuần báo Văn nghệ 2011- 2012 được tổ ...
Nhân vật
VanVN.Net - Mỗi nhà văn đều có thần tượng văn chương của mình. Nguyễn Huy Tưởng cũng vậy. Với ông, người có sức quyến rũ hơn cả là Jean Racine (1639-1699), nhà soạn kịch cổ điển Pháp, tác giả những vở ...
Nhà văn đọc sách
VanVN.Net - Khi đã thâm nhập được vào sự dài lâu của lịch sử và nắm bắt được một vài để mà tâm đắc, khi đã ăn ý với một vùng đất đến độ chính nước da và giọng nói, dáng ...
Hoạt động Hội Nhà Văn
VanVN.Net – Hướng tới kỷ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng ngày 13/5/2013, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ trao giải thưởng văn học hưởng ứng cuộc vận động sáng tác, quảng bá ...
Tư liệu
VanVN.Net - Với sự phân hóa thành nhiều tiểu phái được hậu thuẫn bởi các tạp chí theo các tôn chỉ khác nhau, với sự hỗ trợ của nhiều đại học, phản tự nhiên trở thành trào lưu với nhiều tác ...

Tiêu đề
Viết bình luận của bạn