Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

NSND Sỹ Tiến, một “dị nhân” vô song của sân khấu Việt – Kỳ 3

(Nhân 100 năm cải lương Việt Nam)

Vi Thùy Linh - 18-06-2012 10:09:36 AM

VanVN.Net - “Kịch sĩ Sỹ Tiến thổ tận can tràng – một công nhân sân khấu. Bốn đoàn không quảng cáo hoang đường, quý vị sẽ thấy Chu Du hộc máu như thực, được thể hiện bởi Sỹ Tiến – Mã Sư Tăng Việt Nam” - đoạn quảng cáo này cùng ảnh Sỹ Tiến là affix dán khắp Hải Phòng 50 năm trước.

“Huyền thoại” Chu Du và ước nguyện của ông hoàng cải lương Bắc

 

NSND Sỹ Tiến và NSƯT Bích Được (vai Hoạn Thư) trong phòng hoá trang rạp Chuông Vàng, trước giờ diễn vở Kiều (1962).

Tôi có dịp cùng danh ca Lệ Quyên – con gái út NSND Sỹ Tiến về Hải Phòng hè 2010, cùng chị đi qua các rạp hát mà bố mẹ và chị đã diễn mà dù sang Pháp 22 năm, các khán giả trung niên vẫn nhận ra, gọi tên chị. Đứng ở bến xe Tam Bạc, nơi đoàn Kim Ngọc từ Sài Gòn ra đóng đại bản doanh hồi thập niên 50, mời Sỹ Tiến xuống diễn, chị đã khóc. Con đông, khi có tuổi, Sỹ Tiến vẫn đi diễn. Lửa nghề làm ông bền sáng. Những vai Tống Nhân Tông (vở Tống Nhân Tông tra án Quý Phi), Ngũ Tử Tư, Quan Công, Chu Du, An Lộc Sơn là các vai thành công của ông không ai bì kịp.

Để thu hút khán giả, được ông thầy lang người Hoa mách nước, ông đun thuốc Bắc và phẩm, tối diễn thì chiều phải nhịn ăn, uống 2 lít “thuốc” ấy. Đến màn diễn, vừa hát vừa vũ đạo vẫn đứng tại SK, 3 lần thổ huyết, “máu” phun 3 lần khác nhau, lần cuối như vòi rồng “phun” vào Trương Phi đỏ cả phục trang, bắn xuống khán đài. Màn “rùng rợn” ăn tiền này, giới SK cả nước chỉ Sỹ Tiến làm được. Ông vận hơi, điều khí để “phun” được đúng lúc, đẹp và hiệu quả, là quặn thắt ruột gan. Đàn con 8 đứa, nuôi thêm các cháu, lại hiếu khách, nên căn gác 24 phố Lương Ngọc Quyến nhà ông luôn là “câu lạc bộ”, nơi tụ họp nhiều tên tuổi lớn của giới SK và văn học. Những bậc lớn tuổi hơn luôn coi ông là bạn, do ông theo nghề, nổi tiếng sớm, vì tài mà trọng nhau. Cuốn sổ đã ngả màu, nhiều bút tích ghi hôm 16/3/1975 mà bạn bè chúc mừng sinh nhật 60 của ông, vẫn còn. Tôi được gia đình ông cho xem bảo vật ấy. Câu phương ngôn “Cho tôi biết bạn anh là ai, tôi sẽ biết anh là ai”, thật đúng với ông hoàng CL này. Bút tích trân trọng của Hoàng Quốc Việt, Trần Văn Giàu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Huy Cận, Văn Cao, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Xích Điểu cùng Tô Vũ, Thanh Châu, Hoàng Châu Ký, Kim Lân, Lưu Quang Thuận, Ngô Linh Ngọc, lớp nghệ sĩ đàn cháu như: Đoàn Dũng, Trà Giang, Doãn Hoàng Giang, Huỳnh Điệp, Nhật Minh, Lê Chức đều nể trọng, yêu mến Sỹ Tiến, một nghệ sĩ lỗi lạc.

Trước 1954, ông đã là ký giả sân khấu sắc sảo, bởi là người trong cuộc, viết về sân khấu là viết về tình yêu nước, đả kích lũ tay sai cho Tây, nên độc giả, bạn nghề gọi ông là “Molière Việt Nam” (Molière 1622-1673, nhà hài kịch lớn nhất Pháp thế kỷ 17). Chất nhân văn, khát vọng về cái đẹp, lòng bác ái trước thân phận cũng khổ, lại khiến ông được mệnh danh “Victor Hugo Việt Nam”. Vở kịch đầu tiên trên SK Hà Nội sau ngày giải phóng, tháng 10/1954 cũng là vở đầu tiên viết về đề tài công nhân Giành ánh sáng tự do (được Hội NSSN VN chọn là 1 trong 100 vở hay nhất của SKVN) do Sỹ Tiến viết. Báo L’ Humanité (Nhân đạo) của cơ quan TƯ Đảng Cộng sản Pháp số ra 9/5/1955 đã giới thiệu về Sỹ Tiến và vở này, ví nó như vở: Mặt trời là của chúng tôi, Tổ quốc khi phát xít chiếm đóng Paris của Pháp. Chính nhờ cách mạng, ông đã sửa lại phần kết vở Đời cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang (1906 - 1966) - Chủ tịch Hội Văn nghệ miền Nam Việt Nam. Hai Thành (Tiêu Lang) chồng cô Lựu (Kim Xuân), bị Hội đồng Thăng (Tuấn Sửu) đổ tội, đầy đi tù Côn Đảo để cướp vợ. Cô Lựu sinh 1 con trai với hắn. Được giác ngộ trong tù, Hai Thành theo cách mạng và trở về. Con trai Hai Thành giết chết Hội đồng Thăng. Vợ chồng Lựu – Hai Thành không còn bế tắc cùng đường tăm tối như KB gốc. Soạn giả Tư Trang (tên thường gọi của Trần Hữu Trang) đã viết thư cảm ơn Sỹ Tiến, người trước đó đã là bạn thân của cá nghệ sĩ lừng lẫy Sài thành, viết về họ, viết thay họ những trầm luân kiếp cầm ca. Đời cô Lựu chỉnh lý bổ sung năm 1963, được dàn dựng bởi Sỹ Tiến tại rạp Chuông Vàng gây “cơn sốt”. Sau đó, NSƯT Sỹ Hùng - trưởng đoàn CL Phương Đông Hải Phòng đã dựng vở này, tạo tiếng vang với 10 đêm diễn chặt người xem ở Nhà hát Lớn đất Cảng 1964. Cặp vợ chồng NSƯT Sỹ Hùng - Tường Vi, em trai ông, cùng vợ chồng ông đã đóng góp nhiều cho sân khấu cải lương. Ông Sỹ Hùng sau này là giám đốc Nhà hát CL VN, có viết hồi ký Mảnh đời sân khấu, ghi lại cuộc đời mình trong hành trình nghệ thuật, là một cách lưu giữ kỷ niệm, sự kiện, quá trình phát triển của CL. Cả 2 nghệ sĩ Khánh Hợi, Tường Vi đều sảy thai, mất con, hai ông cha chôn con rồi tối lại lên sân khấu, còn đau hơn kép Tư Bền. Đó là giai đoạn trước và sau 1945, khi Sỹ Tiến lập ban Độc lập hoàn chân diễn vào tận Quảng Bình, để tuyên truyền lòng yêu nước.

Xốc 1 cái, tay áo rộng hất lên tạo thành 3 nếp, chỉ tiểu tiết ấy thôi, không có nghề cao, không làm được. Năm 1958 – 1960, hai đoàn nghệ sĩ Trung Quốc tới Hà Nội với các nghệ sĩ nổi tiếng: Lưu Tiểu Lâu, Hỷ Thái Linh (đoàn Bình kịch Cáp Nhĩ Tân; Mã Sư Tăng, Hồng Tuyến Nữ (Việt kịch Quảng Đông). “Họ diễn và muốn phía VN diễn các tích của họ, gọi là “giao lưu”, thực chất là so tài” - NSƯT Liêu Lang nhớ lại.

Những ngày sôi nổi ấy diễn ở Nhà hát Nhân dân (Cung Việt Xô bây giờ). Chỉ tầm cỡ Sỹ Tiến mới trưng trổ được, khi phải diễn các tích Tàu cho đồng nghiệp vốn quê gốc của tác phẩm. Quan Hán Khanh, Bạch Xà  Nương do Sỹ Tiến soạn lại và dựng diễn nhiều lần, chưa đủ “nặng đô”. Ông phải đích thân diễn Quan Công, Chu Du, phía bạn nắc nỏm tâm phục khẩu phục “hảo hảo” không ngớt. Chính nghệ sĩ Mã Sư Tăng công nhận: “Ông được công nhận “Mã Sư Tăng VN” từ trước khi tôi sang đây. Và giờ tôi thấy ông còn hơn cả tôi, vì tôi chỉ biết diễn, còn ông thì còn viết, dựng, dạy đều kỳ tài”. Họ kết bạn với nhau. Sau đó, ông bà sinh con gái đặt tên Lệ Quyên, kỷ niệm sự kiện đáng nhớ trên. Lệ Quyên đi hát và đoạt huy chương vàng TP từ nhỏ. Chị thường ngâm thơ, ca những đoạn tâm đắc khi bố viết vở. Mới 16 tuổi, chị đã được Đài TNVN mới tới 58 Quán Sứ thu âm hát CL tiếng Nam, hồi ấy hiếm nghệ sĩ Hà Nội nào hát được. Bởi kế thừa được tài năng của bố mẹ lại xinh xắn, giống cha như đúc, Lệ Quyên được bố mẹ yêu, kỳ vọng nhất. Và không hổ danh cha mẹ, chị là ca sĩ nhạc nhẹ đầu tiên VN đoạt giải quốc tế tại Tiệp Khắc 1981 trong cuộc thi Inter Talent ở Praha và năm sau ở Dresden (Đức), cũng là năm cha chị bệnh nặng, qua đời ở tuổi 67.

Cả đời Sỹ Tiến không được phân nhà, chưa một lần xuất ngoại, chịu không ít ấm ức thua thiệt nhưng không oán trách, văn cách, tâm hồn ông luôn phóng khoáng, rộng mở, đầy yêu thương. Bút tích Thế Lữ chép tặng lớp kịch “An Lộc Sơn và Dương Quý Phi” làm quà tặng sinh nhật 60 Sỹ Tiến, ghi rõ: “Thân ái tặng anh Sỹ Tiến lớp kịch mà anh đã sống với An Lộc Sơn những giây phút tuyệt vời trên sân khấu ngày nào”. Nghệ sĩ Võ An Ninh thì tặng ảnh đen trắng ông ngồi đò trên suối Yến, rủ bạn Sỹ Tiến du xuân chùa Hương. Còn học giả Hoa Bằng thì viết “Trên trang hý khúc thân yêu/ Có danh Sỹ Tiến hùng kiêu, anh tài”. ĐD, NSND Phạm Văn Khoa cứ tiếc lỡ chưa mời được Sỹ Tiến vào một phim của ông.

Bị huyết áp cao, tai biến, vậy mà hễ tỉnh, ông lại nhắc đến nghề, hỏi thăm đồng nghiệp. Năm 1976, ông được cử vào TP HCM thanh tra văn hoá, gặp lại các bạn thời tuổi trẻ, những người từng giữ, mời ông vào Nam mở đoàn hát. Lúc ốm nặng, ông vẫn ước ao vào Sài Gòn vì nhớ bạn, thương những ngôi sao vang bóng quạnh hiu tuổi xế chiều. Khi nghệ sĩ Kim Chung từ Pháp về, tới BV Việt Xô thăm ông, kỳ lạ thay, Sỹ Tiến minh mẫn lạ thường, nhớ lại tất cả kỷ niệm quan trọng của đời sân khấu, nói tới các bản thảo, dự định dang dở. Sự bừng loé ấy là lần cuối, ngay đêm đó 17/11/1982, ông từ trần. Người nghệ sĩ sinh mùa Xuân ra đi vào mùa Đông, để lại nhiều công trình quý giá với cái titre khiêm nhường: “Bước đầu”: Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, Tìm nguồn âm nhạc cổ điển dân tộc, Hướng dẫn sử dụng nhạc cụ dân tộc, Nhà soạn kịch cải lương Trần Hữu Trang, Lịch sử sân khấu cải lương, Lịch sử sân khấu tuồng, Lịch sử sân khấu chèo, Viết một vở cải lương như thế nào, Ba mươi năm sân khấu cải lương XHCN … đều là những bộ sách quý báu.

Nhiều lần Sỹ Tiến dẫn đoàn vào Nam diễn, CL vốn của người Nam, nên cả khán giả lẫn bạn nghề đều xem các nghệ sĩ Bắc là “dưới cơ”. Nhưng Sỹ Tiến và các đồng nghiệp Thủ đô đã chinh phục họ, nhất là nghệ sĩ Phùng Há, Năm Châu đặc biệt xem trọng Sỹ Tiến. Là người Hà Nội, song ông lại làm cải lương - kịch hát phía Nam được thăng hoa và đạt đỉnh cao. Giờ đây, Sán Nhiên Đài (sau đổi thành Hiệp Thành - Lạc Việt) đã không còn sau 1 lần bị cháy, rạp Đông Đô xuống cấp. Khán giả không còn mặn mà với cả sân khấu lẫn văn chương, do tình hình chung ảnh hưởng. Khi thực trạng CL nói riêng, SK nói chung hôm nay không thuận để mong về tương lai chưa đến mà chỉ ước được như ngày xưa. Nhan sắc, trình độ, tình yêu nghề của lớp nghệ sĩ hiện thời không thể bằng lớp tiền bối. Các lão nghệ sĩ cải lương ở Hà thành, nay chỉ còn NSƯT Khánh Hợi (1923 - đang ở 1A Mã Mây), NS Tám Toàn (1920, ở 12 Ngõ Gạch), NSƯT Bích Được (1925, đang ở Thanh Nhàn, là bà ngoại ca sĩ Minh Ánh, Minh Anh), vợ chồng NSƯT Tiêu Lang (1929) và Kim Xuân (1931) vẫn ở 48 Bát Đàn, NS Châu Thuận (1926, ở 37 Hàng Ngang), đều đã ngoài 80, 90 tuổi. Đó là những tài danh quý báu của Thủ đô,của SK VN. Tất cả họ đều không quên Sỹ Tiến.

Và di sản đồ sộ của sự nghiệp Sỹ Tiến, vẫn kéo dài ánh sáng không chỉ trong hồi quang ký ức, mà trong khát vọng của những tình yêu máu thịt, đam mê dành cho SK VN của các lớp thế hệ nghệ sĩ chưa bao giờ lụi tắt. NSND Sỹ Tiến đã có một câu nói được nhiều người nay đã thành bất hủ. Câu nói vẫn còn như vang vọng khắp các SK, các ngõ ngách của đời sống SK, không chỉ phía hào quang sáng đèn, mà cả sau cánh gà, nơi “hố nhạc” (vị trí của các nhạc công đứng, ngồi để chơi trực tiếp cho vở diễn). Đó là ngọn lửa tiếp truyền cho các nghệ sĩ thời ông và sau này: “Nếu ta chết, đừng chôn ta! Hãy căng da ta lên mặt trống, để ta được sống gần sân khấu mỗi ngày”. Với Sỹ Tiến, SK là sự sống. Ông đã truyền tình yêu nghệ thuật, văn chương cho các con, truyền lửa cho đồng nghiệp của mình. Ông vẫn sống, bóng toả một dị nhân bằng vai diễn và máu chữ của người đã tận hiến cho SK đến cả linh hồn.

Kỳ 2
Kỳ 1

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...