Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Toàn cầu hóa văn hóa và toàn cầu hóa văn học

(Tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ IV)

Ngô Hương Giang - 03-12-2012 02:26:59 PM

VanVN.Net – Cuối tháng 11/2012, tại Hà Nội, Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ IV được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc gia với chủ đề “Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững”. Hội thảo có sự tham gia của gần 1.000 đại biểu đến từ 36 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, được chia thành các tiểu ban. Thạc sỹ Ngô Hương Giang đã có 2 tham luận gửi tới 2 tiểu ban. VanVN.Net xin trích đăng bài viết của Thạc sỹ Ngô Hương Giang trình bày tại tiểu ban Ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật Việt Nam trong hội nhập và phát triển bền vững.

Những năm đầu thế kỷ XX, Husserl và đặc biệt là Heidegger đã nhìn thấy viễn cảnh phá sản của triết học và tư tưởng Tây phương (1), thể hiện sự bế tắc của cái nôi tư tưởng thế giới. Còn, Michel Foucault trong cuốn sách kinh điển Chữ nghĩa và sự vật của mình đã từng tuyên cáo về sự vắng mặt của con người trong tính duy lí và khả năng khai phóng những ý niệm tinh thần cá biệt, tiên liệu cho sự kết thúc bản sắc cá nhân mạnh mẽ mà loài người đã làm được cho đến đầu thế kỷ XIX: “Trong thế kỷ XIX, sự cáo chung của triết học và sự báo trước văn hóa tương lai thống nhất với tư tưởng về sự cáo chung của bản thể con người và sự xuất hiện của con người trong tri thức [...] con người đang biến đi, giống như khuôn mặt vẽ trên cát đang biến đi” (2).

Con người thực sự bước vào Ngôi nhà chung của văn hóa toàn cầu – nơi mà một cá nhân có thể mang giữ bản sắc của nhiều cá nhân khác. Và cho tới những năm đầu thế kỷ XXI, Francis Fukuyama  trong cuốn sách Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng đã mở ra sự phản ứng mạnh mẽ trước những gì mà chủ nghĩa lịch sử tiên liệu tương lai tất yếu về một xã hội công hữu. Đặc biệt là sau vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2000 tại Mỹ, các nhà văn hóa đã lo ngại đến vấn đề những kẻ thù của xã hội mở (các thế lực ngầm, mạng lưới khủng bố, tổ chức phi quốc gia) sẽ nắm quyền viết lại lịch sử. Kể từ đó, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa tôn giáo cục bộ đã tạo nên sự ám ảnh trong đời sống tâm lí con người hiện đại. Con người trở nên bất an, nảy sinh thái độ nghi ngờ về tồn tại quanh mình, và nghi ngờ về chính sự hiện diện của mình.

Đâu là bản sắc của mình và đâu không phải bản sắc của mình? Một câu hỏi dường như không thể giải đáp trọn vẹn. Con người cuối cùng trong tiên liệu về sự kết thúc của Francis Fukuyama là ai? Khi mà hàng ngày tin tức từ Baghdad (Iraq), từ những cuộc đụng độ của Taliban (Afghanistan) vẫn rong rỏng vang trên truyền hình như sự ám ảnh văn hóa, ám ảnh về tương lai vắng bóng thực sự của con người, một con người trong trạng thái khởi thủy: Tự do thống ngự và kiêu hãnh với chính mình. Đi tìm câu trả lời cho những nghi vấn ấy dường như trở nên vô vọng, vì lẽ, con người hiện đại đã thực sự trở thành công dân toàn cầu (theo cả nghĩa thực và nghĩa hàm ẩn).

Toàn cầu hóa văn hóa không còn vương vấn trong ý nghĩa về sự chọn lựa rạch ròi có/ không, nên/không nên…, mà nó là tất yếu. Trong vòng xoay tất yếu ấy, con người phải chấp nhận chung sống cùng nó. Do đó, toàn cầu hóa văn hóa xuất phát và ăn nhập với toàn cầu hóa kinh tế. Ngày nay, người Việt Nam có thể sử dụng món gà rán KFC (Kentucky Fried Chicken), hay đồ uống Pepsi trong các cửa hiệu danh tiếng McDonalds, mà không cần phải vương vấn ý nghĩ về nguồn gốc của những phẩm vật ấy. Chiếc áo dài của người Việt Nam với 3 vòng chuẩn mực vốn là niềm tự hào dân tộc Việt Nam, nhưng ước vọng cục bộ ấy không còn nữa, khi một người Mỹ, một người México hay một người Nhật mặc nó, dù biết rằng họ chẳng thể tạo ra sự duyên dáng đặc biệt như con gái Việt Nam. Đơn giản vì, chiếc áo dài Việt Nam đã trở thành Chiếc áo dài toàn cầu hóa (Global- long dress). Chiếc điện thoại di động ngày nay đã xóa nhòa ranh giới xuất xứ cũng như giai tầng xã hội sử dụng nó, giờ đây một sinh viên Việt Nam hoàn toàn có thể gửi ảnh của mình cho người bạn ở Pháp, Anh, Mỹ, miễn là chúng có cùng chế độ và công cụ sử dụng. Một chiếc Ipad hay một công cụ đọc sách Kindle có thể tạo nên làn sóng văn hóa sửng sốt, thu hút lượng người sử dụng khổng lồ mỗi năm, đơn giản, vì nó góp phần hòa trộn và đặt văn hóa các quốc gia gần nhau (Mix- culture).

Tất yếu, khi đã có toàn cầu hóa về văn hóa, thì sẽ có toàn cầu hóa văn học. Nếu như cách đây 20 năm trở về trước, để có thể chuyển dịch một tác phẩm văn học từ nước ngoài vào trong nước, dịch giả phải mất rất nhiều thời gian và công sức. Người chuyển dịch văn bản phải truy cập thông tin qua các sách báo in ấn truyền thống, hoặc trực tiếp sang tận nơi có tác phẩm in ấn để mang về nước. Thậm chí, có tác giả văn học đạt giải Nobel mà sau 10, thậm chí 20 năm, tác phẩm mới được giới thiệu tới bạn đọc qua bản dịch, phản ánh sự trậm trễ và xa lùi tính thời sự về thông tin. Cũng vì sự hạn chế ấy về thông tin liên- tuyết, nên các dịch phẩm sau khi ấn hành thường tạo nên cơn sốt hàng mạnh mẽ; có tác phẩm được tái bản tới hàng chục lần mà vẫn cứ sốt hàng. Tuy nhiên, chỉ sau 10 năm trở lại (tính từ năm 2000), với sự lớn mạnh chưa từng thấy của Internet tại Việt Nam, thì tính hai mặt của toàn cầu hóa văn học đã xuất hiện. Có thể nói, chưa khi nào, văn học Việt Nam chứng kiến sự “vượt biên” nhanh chóng như 10 năm đầu thế kỷ XXI. Một tác giả đạt giải Nobel hay giải Concour hôm nay, thì chỉ cần 1 đến 2 tháng sau, tác phẩm của họ đã được giới thiệu đến bạn đọc trong nước, thậm chí, những tác phẩm thuộc thế giới thứ ba vốn là món hàng xa xỉ với văn học Việt Nam, thì cũng dần dần xuất hiện trong các ấn phẩm dịch. Điều ấy phản ánh tính bất khả cưỡng của toàn cầu hóa thông tin, toàn cầu hóa văn hóa, phản ánh khả năng phi biên giới của thông tin Internet qua cổng tri thức chính được số hóa bằng Anh ngữ.

Nhưng cùng với nó, người đọc cảm thấy lạc lõng trong một thế giới- sách phì độn (Hyper-book world). Ngày nay một độc giả vào nhà sách có thể dễ dàng tìm thấy những ấn phẩm mang hàng chữ Best seller hoặc New York Time bình chọn vẩn vơ, quyến rũ giác quan thông qua lối PR (Public relations) nhà nghề và khả năng in ấn chuyên nghiệp khó thể cưỡng lại. Bên cạnh đó, hệ thống máy đọc sách điện tử cũng ra đời, tạo nên cú sock văn hóa – văn học thực sự. Người đọc thấy mình ít nghèo hơn về tâm hồn, nhưng kèm theo đó lại là nghi ngờ bất khả kháng, ẩn sâu bên trong ý thức, trách nhiệm của một người đọc về tác phẩm. Người đọc đặt giá trị giải trí văn học lên trên giá trị giáo dục đạo đức nhân cách. Vì vậy, sách xuất hiện nhiều trên thị trường, song hiệu quả đọc sách lại là nghi vấn cần đặt ra. Thật hiếm thấy trong số sách văn học hiện nay được các nhà xuất bản tái bản tới lần thứ hai - điều không phải là xa lạ nếu như chúng ta trở lại thị trường sách cách đây mười năm về trước.

Tính chất tự phát của thông tin số hóa cũng kéo theo nó là tính chất dân chủ trong sáng tạo. Nhiều nhà văn đã tự khẳng định mình trong các blogs hay website văn học. Nhưng dân chủ trong sáng tạo văn học không đồng nhất với tự do sáng tạo văn học. Dân chủ trong sáng tạo, tạo ra đội ngũ sáng tác đông đảo, có thể nói là nhà nhà làm văn, người người làm văn. Nhưng ý thức tự chịu trách nhiệm về ấn phẩm của mình dường như mờ nhạt, nghĩa là thiếu vắng Tự do- sáng tạo. Theo tôi, nếu sáng tạo là khai minh, là lập thức trong quan điểm của mình về những gì chưa có, hoặc đã có nhưng còn mờ nhạt, nhà văn đi sâu vào cái  mờ nhạt chưa ai đi ấy để khẳng định mình thì là sáng tạo. Còn tự do, thiết nghĩ là hành vi tự chịu trách nhiệm về việc/điều mình làm/sáng tạo. Một người có thể làm những điều mình thích, sáng tạo điều mình tâm đắc, mà không có ý thức tự chịu trách nhiệm về hành vi làm/sáng tạo ấy, thì người đó không thể xem là người tự do trong sáng tạo. Điều này cho phép chúng ta bác bỏ những quan niệm thái quá về quyền tự do trong sáng tạo của những cá nhân thiếu vắng – ý thức sáng tạo tích cực. Toàn cầu hóa văn học ở Việt Nam đang đi từ dưới lên trên chứ không phải đi từ trên xuống dưới, nó kích thích và mở rộng phạm vi sáng tạo mang tính quần chúng, bình dân, phản ánh quyền dân chủ trong sáng tác, góp phần mở ra khả năng sáng tạo phi-biên giới đối với những cá nhân ít điều kiện để khẳng định mình. Tuy nhiên, mặt trái và kẻ thù của xã hội mở ấy nằm ở chỗ, sự thừa mứa về thông tin bao giờ cũng là sự cào bằng về ý nghĩa sáng tạo và giá trị tác phẩm. Nhiều cá nhân nhân danh sáng tạo để có chỗ đứng trong làng văn học toàn cầu, nhưng lại không có ý niệm về việc tự chịu tránh nhiệm cho tác phẩm của mình sau khi nó hoài thai, để rồi, những đứa con quái dị của thời đại thì cứ ra đời, còn người sinh ra chúng thì thiếu trách nhiệm, bỏ rơi nó trong những “túp lều” blogs dưới hình thức những cuộc cãi vã, bài bác và xuyên tạc ý niệm của nhau.

Trong xu hướng toàn cầu hóa văn hóa – văn học ấy, văn học Việt Nam cần phải chuẩn bị tâm thế và một cảm quan thẩm mỹ lành mạnh trong sáng tạo cũng như trong tiếp nhận văn học. Nếu tự do trong sáng tạo nhấn mạnh đến ý thức tự chịu trách nhiệm về khả năng lập thức của mình trước những khoảng trống văn học, thì, việc tiếp nhận văn học trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin cũng cần thiết đặt lại vấn đề tự do - tiếp nhận. Theo đó, tự do - tiếp nhận, tức là anh phải chịu trách nhiệm về việc bồi đắp, phát triển nhãn quan thẩm mỹ trong khi tiếp nhận tác phẩm văn học. Tự do - tiếp nhận là chịu trách nhiệm về đánh giá của mình trước luồng thông tin văn học mà anh hội nhập, chuyển hóa thành những phát ngôn cụ thể. Chỉ khi ý thức về tự do - tiếp nhận được đặt ra, dọn chỗ cho sự phán xét nghiêm túc, thì khi ấy, chúng ta mới giải quyết được vấn đề chất lượng hưởng thụ nghệ thuật từ tác phẩm văn học. Như trên, tôi đã đề cập đến tính chất gia nhập của toàn cầu hóa văn hóa  văn học có xu hướng đi từ dưới lên trên, đi từ giá trị hưởng thụ bình dân đến hưởng thụ cao cấp, điều này vừa tích cực, vừa bất cập. Chất lượng nghệ thuật bị quy giản vào số lượnglực lượng sáng tác/ tiếp nhận văn học. Điều này phản ánh quy mô lan rộng của ý thức nhân văn trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cùng với sự chuyển hóa theo chiều ngang về số lượng trong không gian văn học, thì chúng ta cũng đồng thời thu hẹp chiều sâu của giá trị nghệ phẩm. Thực trạng văn học Việt Nam đương đại cho thấy, việc kiểm soát nghệ phẩm trong ý thức tiếp nhận là vấn đề cần đặt ra nghiêm túc. Một website văn học trong ngày có tới hàng triệu lượt xem và có tới hàng trăm tác phẩm được post lên Internet cùng lúc, điều ấy tạo ra vấn nạn cần giải quyết với nghi vấn về chất lượng văn học. Trước đây, văn học thường được đọc ở những nơi nghiêm trang hoặc những phòng trà nghệ thuật, phản ánh ý thức hàn lâm trong sáng tạo nghệ thuật, thì giờ đây, thay vào ý nghĩa quan trọng của việc bồi tụ các giá trị nhân văn, thì các chủ blogs hoặc admin website văn học lại xem ý nghĩa giải trí như một xu hướng, trào lưu đắc dụng. Trước đây các hiện tượng như dịch thơ “vô lối”, hiện tượng cách tân nghệ phẩm đến thái quá hoặc xướng họa những câu thơ có tính “văng mạng” cực hy hữu, thì giờ đây lại phổ biến. Vậy, giá trị nghệ thuật đích thực nằm ở đâu? Và ý nghĩa giá trị nhân bản trong văn học (Literary humanism) tại sao bị quy giản vào hàng thứ yếu? Tất cả truy vấn phức tạp trên gói gọn trong một công thức: Chủ thể trong văn học Việt Nam thiếu vắng ý thức tự chịu trách nhiệm về mình.

Vấn đề nhân bản hiện đại trở thành chủ đề nóng cần được giải quyết. Thế kỷ 19 và thế kỷ 20, người ta đã bàn đến vấn đề nhân bản kỹ thuật khá sâu, rộng, thậm chí, có hẳn bộ sách nhiều tập chuyên bàn về vấn đề này như Người và Máy: Nhập môn nhân bản kỹ thuật (3của hai tác giả Jean Laloup, Jean Nélis. Vì vậy, thuật ngữ nhân bản kỹ thuật không còn xa lạ với cũng ta nữa. Nó biểu tả bản chất của con người máy móc, duy lí, thiếu cảm xúc, thậm chí, chuyện tình cảm cũng bị kỹ thuật hóa tự bản chất. Văn học hậu hiện đại với lối cắt dán biểu hiện phần nào sự phản ứng của con người về vấn đề nhân bản kỹ thuật. Sống trong một đời sống thiếu vắng cảm xúc, thì tất yếu, nó sẽ đẻ ra một thời đại thiếu vắng tính người, nhường chỗ cho sự vô cảm lên ngôi. Trong tình cảnh ấy, văn học như là “vật chứng trước thời gian” (Trương Đăng Dung) có sức mạnh đề kháng lại bản chất kỹ thuật của con người. Còn văn học theo đúng nghĩa là còn xúc cảm nhân bản đích thực. Vì rằng, chẳng ai có thể sáng tạo nên những tác phẩm giá trị, khi họ đeo đẳng trên đầu mình lợi ích vật chất đến tha hóa, hay chịu sự dẫn dụ đến “mụ mẫm” thông qua/bằng khối óc quá tỉnh táo.           

Khi Internet phát triển mạnh, con người ít cô đơn hơn, có cơ hội mở mình ra với thế giới bên ngoài, thì cũng là lúc con người trở nên vô cảm, tàn nhẫn nhiều hơn theo cấp số nhân trước những tiêu cực mà đời sống số hóa mang lại. Cuộc sống bất an bởi những luồn thông tin đa tuyến trên Internet, đã đẩy con người vào sự khiếp sợ với chính mình. Con người xem cái chết nhẹ nhàng và rẻ rúng như việc người ta có thể sent to một bức ảnh nóng, ghê rợn trong “thời của những kẻ giết người” (Henry Miller). Ngày nay khi bạn đọc mở bất kỳ một website nào, dù là chính thống hay phi- chính thống, thì động từ “giết”, “chết” xâm chiếm hầu hết các tin tức của một ngày. Ý niệm về sự thanh thản, về Chân - Thiện – Mỹ dường như chỉ còn trong quá khứ của tư tưởng. Từ đó, vấn đề nhân bản thông tin lại trở thành điểm nóng, gào thét, yêu cầu sự cứu vớt của con người. Nhân bản - thông tin đã gợi lên thảm cảnh ê chề của đời sống số hóa. Đạo đức xã hội bị băng hoại. Thái độ vô cảm đến cuồng nhiệt của con người đã trở thành điểm nóng quan tâm toàn xã hội. Con người ít vào nhà thờ hơn, thậm chí, giới trẻ đã xem phương tiện đa truyền thông như facebook, yahoo, blogs như một thứ tôn giáo đen, là đảo hoang của tâm hồn. Đã đến lúc truy vấn muôn thủa của con người cần được nhắc lại:trong Thế giới ảo ngày nay, liệu có tôn giáo nào đủ mạnh để cứu vớt họ ra khỏi hố thẳm bất an đến rợn mình, hướng con người tới ý nghĩa của cuộc sống đích thực, giàu nhân tính? Đó là câu hỏi lớn cần lời giải đáp khẩn cấp. Trước sự trầm thống ấy của con người, thơ ca một lần nữa lại khẳng định sự huyền nhiệm của mình. Sự lớn mạnh cả về nội dung và hình thức thể hiện của các website, Blogs cá nhân, chứng tỏ sự ảnh hưởng sâu rộng của cảm xúc “người với người sống để yêu nhau”, tiên liệu cho sự cứu rỗi phần nào đó ý niệm nhân bản bằng sự thánh thiện của nghệ thuật.

Cuộc sống thừa mứa về vật chất, tất yếu sẽ kéo theo cơn thèm khát về chỗ dựa tinh thần. Các nhà kinh doanh sau khi bước qua thế giới vật chất nhiều bế tắc đã gửi tinh thần mình trong các website văn học nghệ thuật. Hiện tượng bách gia làm thơ đã trở thành vấn đề nóng trên Internet. Đây là điều đáng mừng cho vấn đề nhân bản. Nhưng cũng lại trở thành mối ưu tư của thơ ca nghệ thuật. Bên cạnh những tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, thì cũng tồn tại không ít tác phẩm kém chất lượng đang mọc ra như nấm, lấn át, thậm chí, chiếm được chỗ đứng nghệ thuật mạnh mẽ hơn các tác phẩm đích thực. Sự PR của giới truyền thông được phổ biến dưới dạng Facebook hay các Inter-blogs (liên- blogs) đã làm nhạt nhòa giữa thơ chân chính và thơ tầm thường. Nhưng lịch sử có quy luật của nó, tính chất tự đào thải khắc nghiệt của truyền thông số hóa sẽ gạn lọc những hạt sạn của nghệ thuật, giữ lại giá trị cho các nghệ phẩm đích thực, giúp làm đẹp cho đời.

Vấn đề nhân bản thông tin kéo theo một nhịp, ăn nhập với vấn đề toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa sẽ cào bằng các ranh giới, thử thách nhân bản bằng thông tin phi- biên giới. Nhưng, nó lại tạo ra cho con người cơ hội để thể hiện và khẳng định mình một cách dân chủ hơn. Nếu như trước đây, để đọc một bài thơ của tác giả nào đó, thì bạn đọc phải ra hiệu sách hoặc vào các thư viện tìm đọc. Nhưng giờ đây chỉ cần một click chuột nhẹ nhàng thì bài thơ cần tìm sẽ hiện ra ngay trước mắt đầy đủ, được minh họa bằng các hình ảnh nghệ thuật sinh động, thậm chí, tác giả của tác phẩm đó có thể ghi âm lại giọng đọc của mình, có thể chuyển thể thành nhạc để bạn đọc cảm nhận nhiều hơn về bài thơ ấy. Nếu như trước đây, để tìm kiếm được tài năng thơ, thì nhà xuất bản hoặc các Hội văn học nghệ thuật phải tìm đỏ mắt trong hiện thực sáng tác. Thì giờ đây, chỉ cần một click chuột đơn giản vào google hoặc vào Facebook chưa đầy 1 phút  đã có hàng nghìn kết quả tìm kiếm. Song, giữa việc bão hòa về thông tin và giá trị đích thực của thơ ca nghệ thuật, luôn phải trải qua sự tranh đấu và tự đào thải. Những nhà thơ tài năng cần phải khẳng định mình bằng những suy tưởng sâu về bản chất con người, khám phá trong những nhân cách lớn từ điểm nhìn nghệ thuật tương xứng. Khả năng cảm nhận thi ca của người đọc ngày càng cao, đòi hỏi sự đột phá trong cách thức thể hiện tư tưởng của chủ thể sáng tạo. Đó là một thách thức đặt ra với chủ thể thể sáng tạo. Chúng ta không khó bắt gặp những tác phẩm kém chất lượng được sáng tác nhằm để đọc ở những “túp lều” blogs văn học tầm thường, dung tục, nhưng cũng không phải là quá khó để tìm kiếm những “thần khúc” được các “vị chúa” sáng thế trên văn bản đọc trong “ngôi đền” linh thiêng của nghệ thuật – Nơi chỉ dành riêng cho những nghệ sĩ đích thực và bạn đọc đích thực mới có thể cảm nhận hết vẻ tôn nghiêm, cao quý, quyền uy, quyến rũ và thanh tao của nghệ phẩm.

Sự băng hoại trong đạo đức xã hội, sự phá sản về mặt tư tưởng, sự nhởn nhơ của nghệ thuật thứ cấp, bình dân, phản ánh thực trạng thiếu trách nhiệm nghiêm trọng của sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật. Tiếp nhận nghệ phẩm của bạn đọc giờ đây ít chú trọng đến quá trình suy tư, nghiền ngẫm từ những thông điệp trên văn bản, hay là chủ thể sáng tạo lười suy tư và thiếu vắng tư tưởng về hiện thực, thiếu vắng tinh thần lập thức (Besinnung) trong văn học, xa rời trách nhiệm đào sâu thực tiễn, khám phá ý nghĩa nhân bản thời đại? Câu hỏi ấy cần thiết phải được truy cứu một cách nghiêm túc. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, bản sắc văn học Việt Nam, nói sâu hơn là Việt tính trong con người Việt Nam là gì, khi đối diện với thực tiễn toàn cầu hóa thông tin? Câu hỏi ấy đã kèm theo nó về việc khôi phục lại ý nghĩa của câu trả lời đã tồn tại suốt nghìn năm trong ngôn ngữ Việt Nam: Cái – Con. Chỉ khi chúng ta ý thức rằng, chúng ta vẫn còn suy tư về ý nghĩa của từ Cái và từ Con, là khi ấy chúng ta còn Việt tính. Bởi vì, còn ý niệm về từ Cái và Con là còn ý niệm về khả năng tự chịu trách nhiệm trong hành vi của mình: “Con dại cái mang”, “Cái đêm hôm ấy đêm gì”.... Tiếc rằng, ý niệm Cái và Con đang mờ dần trong dụng hành ngôn ngữ tiếng Việt, mà thay vào đó là những âm hưởng chói tai vô nghĩa của biến thể ngôn ngữ ngoại lai, mang nặng dấu ấn Hippy trong đời sống văn hóa. Khi nào chúng ta không còn ý thức về mình, không còn lưu giữ ý niệm Cái - Con như một hằng số văn hóa, thì khi ấy Việt tính bị phá sản, và chúng ta không còn là chúng ta nữa.


Chú thích


(1) Xin xem:

a. Edmund Husserl (1970), The Crisis of European Sciences and Transcendental Phenomenology, Northwestern University Press, USA, Part 1: “The Crisis of the Sciences as Expression of the Radical Life- Crisis of European Humanity”, P. 3 -20.

b. Martin Heidegger (1977), The Question: Concerning Technology, Garland Publishing, USA, Part III: “Science and Reflection”, p. 155 – 182.

c. Ở Việt Nam, những  năm1969 – 1970 lớp giáo sư, trí thức miền nam đã bàn khá kỹ về quan điểm của Heidegger trước viễn cảnh phá sản của triết học và tư tưởng Tây phương trên các tạp chí hay các chuyên luận về tư tưởng, trong đó có thể kể đến Phạm Công Thiện với “Sự thất bại toàn diện của Heidegger và Con đường tư tưởng Việt Nam”, Ngô Trọng Anh với “Vị trí của vô thể Heidegger trong tư tưởng Đại thừa”, Trần Công Tiến với “Từ Heidegger I đến Heidegger II”…đặc biệt là cách nhìn, cách đánh giá của Lê Tôn Nghiêm qua thiên tiểu luận “Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương”, sau đó, ông đã nâng lên thành chuyên luận cùng tên và được ấn hành vào 1970 bởi nhà xuất bản Lá Bối (xem thêm: Viện đại học Vạn Hạnh, “Tư tưởng”, số 5/ 1969, Sài Gòn; Lê Tôn Nghiêm (1970), Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương, Lá Bối ấn hành, Sài Gòn.)

(2)  Dẫn theo J. K. Melvil (1997), Các con đường của triết học phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, H, tr. 142 – 143.

(3)  Jean Laloup, Jean Nélis (1971), Người và Máy: Nhập môn nhân bản kỹ thuật, Ủy ban dịch thuật - Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Edmund Husserl, 1970, The Crisis of European Sciences and Transcendental Phenomenology, Northwestern University Press, U.S.A.
  2. Edmund Husserl, 1980, Phenomenology and the Foundations of the Sciences, Martinus Nijhoff Publishers Press, London, U. K.
  3. Francis Fukuyama, 1992, The End of History and The Last Man, The Free Press, New York, U. S.A.
  4. J. Dérrida, 1989,  Of Spirit: Heidegger and the question, The University of Chicago Press, U. S. A.
  5. Jurgen Habermas, 1989, On society and Politics, Becon Press, Boston, U.S.A.
  6. Martin Heidegger (1977), The question concerning technology, Garland Publishing, New York, U. S. A.
  7. Michel Foucault, 1980, Power/ Knowledge, The Harvester Press, U.S.A.
  8. Paul De Man, 1997, Aesthetic Ideology, University of Minnesota Press, London, U.K.
  9. Theodor W. Adorno, 2002, Aesthetic Theory, Continuum Publishing Group Press, New York, U. S. A.

 

 

 

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nguyễn Mạnh Cầm: Nhà ngoại giao của thời đổi mới và hội nhập

VanVN.Net - 85 tuổi đời, gần 70 năm theo Cách mạng, cuộc đời của Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tiêu biểu cho một thế ...