Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Thi pháp Nguyễn Quang Thiều: Nhìn từ dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị (Kỳ 1)

Đỗ Quyên - 19-06-2012 10:57:47 AM

VanVN.Net - Tọa đàm khoa học “Nguyễn Quang Thiều trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại” sẽ được tổ chức tại Viện Văn học trong dịp cuối tháng 6/2012. Nhà thơ Đỗ Quyên đã gửi VanVN.Net bản tham luận viết rất công phu, kỹ lưỡng không chỉ riêng về thơ Nguyễn Quang Thiều, mà ở đó còn mở ra nhiều hướng tiếp cận, nhiều góc soi chiếu về văn học nghệ thuật Việt Nam. VanVN.Net xin đăng tải toàn văn bài viết này (chia làm 3 kỳ để bạn đọc tiện theo dõi), có thể coi đây như một công trình mang tính chất “tiền nghiên cứu” khi chúng ta muốn đi sâu tìm hiểu, khám phá, trao đổi, tranh luận về những vấn đề của thơ Việt Nam đương đại.

“Mỗi tác giả, tác phẩm là một chữ, một câu

 trong bài-thơ-chung của nghệ thuật thi ca”

(Đ.Q)

 

MỤC LỤC

 

I. Thơ Nguyễn Quang Thiều trong dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị

II. Các ý kiến tham khảo

II.1. Một số tuyên ngôn, quan niệm về thơ của Nguyễn Quang Thiều

II.2. Một số nhận định, dư luận

III. Căn nguyên của các tranh luận về thơ Nguyễn Quang Thiều

III.1. Thơ Nguyễn Quang Thiều như một dạng nghệ thuật bấp bênh

III.2. Thơ Nguyễn Quang Thiều và “Nguyên tắc bình thông nhau”

IV. Đóng góp của thơ Nguyễn Quang Thiều

IV.1. Có hay không một “chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam”?

IV.2. Thi pháp Nguyễn Quang Thiều trên các bậc thang thơ Việt

IV.3. Cách tân thủy chung và thấu suốt

IV.4. Thơ Nguyễn Quang Thiều với vấn đề thơ hậu hiện đại

V. Những vấn đề thi pháp

V.1. So sánh với các khuynh hướng, trường phái tiêu biểu

V.2. Nội dung, tư tưởng          

V.3. Thể loại

V.4. Tứ thơ

V.5. Ngôn ngữ hình tượng

V.6. Nhịp điệu

V.7. Giọng điệu

VI. Nguyễn Quang Thiều của trường ca và trường ca của Nguyễn Quang Thiều

VII. Tạm kết

Phụ lục

***

Về mục đích “Tọa đàm hướng đến việc tìm hiểu và định giá thơ ca của Nguyễn Quang Thiều như một tiếng nói đại diện của thế hệ nhà thơ sau 1975 trong bối cảnh của quá trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại”, với sự chờ đợi lâu nay, chúng tôi đồng ý!

Và xin phép được cho rằng không hẳn chỉ vì “từ sau 1975, một thế hệ nhà thơ mới đã hình thành và có nhiều đóng góp vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ tiêu biểu cho những nỗ lực đổi mới thơ ca của thế hệ này.” 

Hai dấu mốc thời cuộc 1975 và Đổi mới 1986 rất quan yếu và thuận tiện. Với một số trường hợp, nếu như chỉ được neo vào các tọa độ văn học sử đó, sẽ khó nhận chân về nghệ thuật cũng như học thuật. Thơ Nguyễn Quang Thiều là một trong không nhiều trường hợp như thế của văn học Việt Nam, tạm xét trong nền thơ đương đại. Ở tham luận này, tác giả Nguyễn Quang Thiều như là một đối tượng thuộc dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị.

Các phần từ I đến IV là nhận định, bình giá chung về thơ Nguyễn Quang Thiều. Phần V và VI có phân tích riêng trên văn bản thơ từ tập tuyển Châu thổ và trường ca Lò mổ.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và tập thơ Châu thổ

I. Thơ Nguyễn Quang Thiều trong dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị

Cũng như đã làm với hai tác giả có thi pháp hoàn toàn khác là Tuyết Nga  và Mai Văn Phấn , phương pháp tiếp cận thơ Nguyễn Quang Thiều không chỉ theo các tiêu chí đối lập (hay - dở, đổi mới - nguyên cũ, hiện đại - truyền thống, cách tân - cổ điển, tiêu biểu - bình lặng, nổi tiếng - chìm khuất, v.v…) mà coi trọng tìm hiểu trong hệ thống và định giá trong tương quan.

Cho rằng mỗi tác giả, tác phẩm là một chữ, một câu trong bài-thơ-chung của nghệ thuật thi ca, chúng tôi mong muốn bình giá mỗi tác giả của dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị như những liên-tác-giả . Bàn về tác giả này cũng có thể luận đến tác giả khác, hay chuỗi tác giả khác, trong hoặc ngoài hệ hình. Không chỉ trong nghệ thuật thi ca, mà còn văn-hóa-của-thi-ca.

Trong các tiền đề chính của dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị mà hai bài trước đã nêu và minh họa ở hàng loạt tác giả, thơ Nguyễn Quang Thiều là sáng tác “có vấn đề”, gây ám ảnh và âm ỉ, sự hiểu và cảm cần con-mắt-thứ-ba.

Không là tác giả của loại thơ-đọc-đi-đọc-lại, Nguyễn Quang Thiều có thơ-đọc-một-lần. Nếu ở lần đọc đầu tiên không thấy hợp, sẽ rất khó đọc tiếp khi thiếu các giải thích đặc biệt, ngoài những phê bình, nhận định thông thường. Với tác giả này, cũng khó tách bạch thơ-cho-người-đọc hay thơ-cho-người-viết. Tùy duyên mà thích thơ Nguyễn Quang Thiều. Nhưng đấy ắt là thơ-cho-các-nhà-phê-bình, bởi nó liên hệ tới cả bốn tiêu chuẩn sống còn của văn chương - thẩm mỹ nhận thức, đặc trưng thể loại, phương cách sáng tác, hình thức ngôn ngữ. Như là một sáng tác, đấy cũng không phải là văn-học-khó tự thân, mà là loại sáng tác văn học khó phân định trong văn giới, khó bình giá giữa dư luận.

Bài viết này là một thử thách lớn cho Phương pháp dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị. “Sự tráo trở của phương pháp”  vẫn có thể chưa thấu được “Sự mất ngủ của lửa” !? Bởi xét cho cùng, công việc bình giá thơ Nguyễn Quang Thiều là đi giữa hai bức tường thi cách và thời đại, lại là thời đương đại của văn học Việt - một khu vực tri thức nghệ thuật có sáng tác và lý luận, thực tiễn và nghiên cứu không dễ dàng giải thích giá trị.

 

II. Các ý kiến tham khảo (Phụ lục)

Dù không hẳn là tiêu biểu, phần Phụ lục gồm những trích dẫn tài liệu trong một vài năm qua ít nhiều liên hệ tới bài viết.

 

III. Căn nguyên của các tranh luận về thơ Nguyễn Quang Thiều

III.1. Thơ Nguyễn Quang Thiều như một dạng nghệ thuật bấp bênh

III.1.1. Đầu tiên và quyết định: bấp bênh giữa quan niệm thẩm mỹ cổ điển và hiện đại

Đúng ra, thơ này nằm sâu trong thẩm mỹ cổ điển, nhưng cách thể hiện lại khiến người đọc cổ điển tưởng tác giả phá bỏ mỹ học cũ. Tức là có độ vênh lớn giữa hình thức nghệ thuật và chủ đề nội dung mà chính nó – hiện thực truyền thống và ổn cố của nông thôn, nông dân Việt Nam – là chốn linh thiêng của văn hóa Việt. Hình thức nghệ thuật là cái rốn sinh sự ở thơ Nguyễn Quang Thiều!

Cái Đẹp, cái Cao cả, cái Bi theo nghĩa rất chuẩn của ý thức cổ điển đều làm nên nghệ thuật thơ Nguyễn Quang Thiều. Thơ này không có cái Hùng – vốn là chủ đạo, đồng nghĩa với cái Cao cả của ý thức mỹ học quen thuộc ở Việt Nam; Và thiếu vắng cái Hài.

Liệu cách diễn tả văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Quang Thiều đã là văn hóa nông thôn Việt tiêu biểu? Liệu các nhân vật và cái Tôi trữ tình trong đó chính là người nông dân Việt đặc trưng? Khác hẳn trong văn xuôi của mình, trong thơ - trừ ở một số ít bài “xuất chúng” (Những người đàn bà gánh nước sông, Bài hát về cố hương, Cánh đồng, Trên đại lộ ) – hầu như tác giả không nói về tâm tư và sinh hoạt thường nhật của người nông và không hề có đại tự sự của “tam nông” Việt Nam. Nông thôn Việt đã quen trong thơ của hàng ngàn tác giả mà đại biểu là Nguyễn Bính (chân quê tình đất), Phùng Cung (nỗi đau thất thế), Đồng Đức Bốn (người quê trong cõi nhân sinh), Mai Văn Phấn (thiên nhiên và lòng người),… Nguyễn Quang Thiều nói về nông thôn và nông dân không giống cả ngàn tác giả khác, mà còn khác cả các đại biểu.

III.1.2. Thứ đến, bấp bênh về thể loại thơ và văn xuôi

Bài toán thể loại là khó có giải đáp nhất trong lao động nhà văn. Chủ quan và cá tính. Đã không ít tác giả thơ dính vào vòng luân hồi này của con chữ. Trên thi đàn thế giới lâu lâu lại nổi lên những núi lửa tranh luận phụt ra từ quan niệm thể loại, kẻ lay động thường là các thi sĩ. (Không khác gì chuyện giới tính nam nữ của người đời!)

Nguyên Sa ở một số bài đã lái thơ trên mái chèo văn xuôi rất điệu nghệ. Bùi Giáng có mươi bài thơ văn xuôi không tạo ấn tượng lắm. Trong các nhà thơ Việt hiện đại, làm thơ văn xuôi thì không ít, nhất là ở các tác giả trường ca và thơ dài, nhưng còn văn xuôi hóa thơ có lẽ ở Nguyễn Quang Thiều là nhất quán, dằng dai và thành tựu nhất? Có thể hơn cả Chế Lan Viên? Đinh Thị Như Thúy đang có nhiều cơ hội, song vì không dứt khoát “cải giống” cuồn cuộn như Nguyễn Quang Thiều. Nữ sĩ chỉ cho thơ bị ảnh hưởng êm đềm, chừng mực bởi văn xuôi. Dương Kiều Minh và Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Ngân Hằng và Lê Nghĩa Quang Tuấn cũng vậy.

Theo lý thuyết phê bình cấu trúc/ giải cấu trúc, thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn cổ điển về chất khi giữ ngôn từ làm phương tiện; Hình thức mang tính hiện đại và sự xóa nhòa thể loại trong bàn tay thơ luôn để lại vết. Đó là một lý do khiến nó khó được tiếp nhận với lối đọc thông dụng.

Chúng ta thử soi lại thơ Nguyễn Quang Thiều theo sự văn xuôi hóa thơ, bằng kiểu phân loại rất tinh vi của J.-C. Montel  - theo lý luận của J. Roubaud - trong tham luận mà tên của nó đã nói lên cái vô hạn (và cũng là vô bổ!) về cuộc tranh biện trên tạp chí thơ quan trọng nhất của Pháp hồi năm 2000: “Văn xuôi/ Thơ: cuộc tranh cãi bị xuyên tạc”.

Theo chúng tôi hiểu, có 6 tiêu chuẩn, thứ tự quyết định đâu là thơ đâu là văn: thời gian, đối tượng, hiện thực, chủ thể, nghĩa và nhịp điệu.

Thời gian trong thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn “áp đặt một ‘trải nghiệm’ độc nhất và chưa từng có” như tiêu chuẩn triệt để nhất phân biệt thơ và văn xuôi, nhưng không phải là “không đầu không cuối” theo cách làm thơ quen thuộc.

Đối tượng của thơ Nguyễn Quang Thiều tuy vẫn “không thể nhận dạng để tạo thành một vật cô đúc đồng nhất” - minh chứng rõ cho thơ này là… thơ! – nhưng lại diễn đạt kiểu tự sự.

Chủ đề trong thơ Nguyễn Quang Thiều thì đúng là “phòng tránh khỏi cái thường nhật” về hiện thực (Xem phần V.2) nhưng vẫn “nhắm tới sự hoàn tất tạm thời” chứ không “áp đặt ngay từ đầu như một sự gãy vỡ”. 

Chủ thể ở thơ Nguyễn Quang Thiều (độc giả) vừa tự thấy mình là độc nhất (trong thơ) vừa so sánh để nhận ra mình là một trong vô số. Nói như Đặng Tiến, “Yêu văn là yêu người. Yêu thơ là yêu mình.”, thơ Nguyễn Quang Thiều yêu cả hai.

Nghĩa của thơ Nguyễn Quang Thiều cũng cho thấy “thơ không nói gì hết, trong khi văn xuôi nói một cái gì đó”, và dưới đáy lòng thơ này muốn nói rất nhiều.

Cuối cùng: Nhịp điệu trong thơ Nguyễn Quang Thiều là tất cả. Tác giả coi tiết nhịp “độc lập với âm luật và sự đếm của thơ”, nhưng lại không có khẩu ngữ trong chất văn xuôi. Thêm đó, “cái gián đoạn trong cái liên tục” của thơ ở đây bị gần như triệt tiêu. Việc gây ra dáng vẻ của “thơ dịch” đến mức hàm oan “Thơ Tây giả cầy” cũng là từ đây.

III.1.3. Tiếp, bấp bênh về văn bản tác phẩm và dịch phẩm

Nó nổi lên khi tác giả có xuất bản thứ hai, năm 1993. Thật ra, “thơ như thơ dịch” và “dịch hay hơn cả thơ nguyên bản” là hai thái cực của giao thoa văn hóa, và luôn có khoảng cách giữa chúng. Nhà sáng tác và nhà dịch thuật cần nắm các quy luật văn học của ngôn ngữ mình sử dụng và ảnh hưởng, như hiểu luật giao thông. Lý thuyết văn học dịch trong các thập niên qua đã có những bước nhảy, song không – và có thể mãi sẽ không – làm ngưng các tranh biện triền miên về dịch, nhất là dịch thơ. Nhưng lý thuyết dịch sẽ có tác dụng cụ thể cho các nhà thơ có thơ như thơ dịch. Liệu thơ Nguyễn Quang Thiều có là ví dụ tốt khi tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa Nam Mỹ và ngôn ngữ Tây Ban Nha, Anh lên văn hóa Việt và ngôn ngữ thơ Việt?

Rất hiếm thi sĩ Việt có gần như toàn bộ thi phẩm bị “lãnh án” này! Thường chỉ một vài bài, hoặc trong nhiều bài chỉ một vài câu, ý. Người làm thơ nào cũng biết rõ hơn ai hết, các bản phác thảo thơ thường có chất thơ dịch. Nhạc tính là cái phân biệt rõ nhất giữa thơ Việt và thơ dịch. Nhiều bài trong di cảo lần đầu công bố của Chế Lan Viên như vậy. Không kể nhiều hình ảnh, biểu tượng và các động tác nhân vật phảng phất văn học Nam Mỹ, chỉ riêng cách dùng từ ở thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đặc kiểu Tây phương. Một con số biết nói về điều đó, và nhiều điều khác của thi pháp: trong toàn tập Châu thổ với tổng số 57.309 từ (kể cả văn bản phụ), các từ “người đàn ông” lặp 29 lần, còn với “người đàn bà“ thì tới tận 87 lần! Chắc rằng, từ cổ chí kim, không một thi sĩ Việt nào có nhiều “người đàn ông” và nhất là nhiều “người đàn bà“ bằng Nguyễn Quang Thiều!? Tiện, so luôn với tập Thơ tuyển Mai Văn Phấn (NXB Hội Nhà văn 2011, dày 467 trang cùng khổ sách Châu thổ, tổng số 65.111 từ): “người đàn ông”: 1 lần; và “người đàn bà“: cũng 1 lần.

Chúng tôi cũng mường tượng, dịch thơ Nguyễn Quang Thiều dễ nhiều hơn là khó. Cả bài thơ nào đó có thể không hiểu, không cảm được hết, song từng đoạn, thậm chí từng câu đều có cú pháp, hành văn đúng luật tiếng Việt. Không hề chơi chữ, ẩn dụ bóng láng kiểu Bùi Giáng, Lê Đạt. Dù không ít câu đoạn thiếu các thành phần chủ, vị, bổ ngữ nhưng thơ này có logic diễn đạt thẳng, chủ tâm mà không chủ đích; không ngập ngừng tưởng như vô ý kiểu Nguyễn Đình Thi; chẳng phi tuyến tính kiểu Thanh Tâm Tuyền.

III.1.4. Còn nữa: bấp bênh về văn bản tác phẩm và nhân thân văn học của tác giả

Như chúng tôi có dịp nêu ở một vài diễn đàn khác , về cái gọi là tính bất định của thơ. Thơ là nghệ thuật của ngôn từ và cả những gì không-ngôn-từ. Văn xuôi mới thuần là nghệ thuật của ngôn từ. Một trớ trêu trong văn học chỉ xảy ra với thơ, mà văn xuôi không có, đó là: có những loại thơ để nhận chân giá trị của tác phẩm còn phải cậy nhờ đến chính cái tên của tác giả. Với một số bài thơ đã như thế. Với một nhà thơ cũng có thể như thế. Và cả với một số dòng thơ cũng như thế. Thơ đó, tất nhiên, phải có giá trị tự thân. Là điều kiện cần, mà chưa đủ lọt tầm ngắm của văn giới và dư luận. Quy luật này phổ cập cho bất kỳ nơi nào có thơ. Song, ở các nền văn học mang âm hưởng chính trị điều đó thể hiện rõ hơn khi chịu khống chế của thị trường hay thời gian. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và các tác phẩm của mình cũng là một trong không ít ví dụ đẹp cho tính bất định của thơ. Hai mươi năm. Sau tập Sự mất ngủ của lửa, nhà thơ nếu không dần trở thành “VIP” của báo chí văn nghệ hàng đầu đất nước, của các tờ báo, trang mạng đại chúng có lượng độc giả lớn nhất, rồi của hội đoàn văn chương số 1 Việt Nam, thì có thể sự “chiên giòn” tập-thơ-mang-lửa-của-nghệ-thuật đó không mang theo nhiều cái phi thơ, thậm chí phản thơ đến vậy! Trời có mắt thơ. Càng bị như thế và cũng vì có chủ nhân “VIP”, loại thơ này càng tung bọt vẫy sóng trước các con mắt thơ ham tìm mới lạ dù có thể chưa thấy hay ngay. Nhiều chục năm qua, hiếm có thơ nào sống dằng dai và bất an trong dư luận như thơ Nguyễn Quang Thiều.

Với chúng tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều tới nay vẫn còn giá trị, nhưng không nổi bật bằng mươi năm trước. Nhà tiên phong đã có nhiều bạn hàng đầu, ở hàng lối khác, thậm chí khác hẳn. Bên cạnh việc dễ dàng phổ biến tác phẩm trên trang mạng, chính vì thơ Việt lúc này đang có nhiều bảng giá trị không thể so sánh đồng đẳng như trước, ít nhất như thời tiền - hậu Đổi mới 1986-1996.

Trong tương quan văn bản tác phẩm và nhân thân tác giả có hai trường hợp khác, mang phong cách khác hẳn thơ Nguyễn Quang Thiều, cũng là “VIP” của văn đàn và hơn thế, ở đẳng cấp cao của xã hội Việt Nam. Đó là thơ Nguyễn Khoa Điềm và thơ Hữu Thỉnh. Bằng sự thận trọng thông lệ, chúng tôi nghĩ rằng phát biểu của mình là đúng: Nếu như các tác giả không có nhân thân văn học như đã/đang, có thể tin là thơ Nguyễn Khoa Điềm và thơ Hữu Thỉnh sẽ được dư luận bình giá đúng với chân giá trị hơn. Và tức là sẽ trở nên hay hơn.

Hoàng Vũ Thuật và Dương Kiều Minh, Chân Phương và Ngô Tự Lập, Mai Văn Phấn và Phan Nhiên Hạo cũng là những tác giả dễ bị “chìm xuồng” nếu không chảy đúng sông đúng luồng. Với nhị vị Lê Đạt và Văn Cầm Hải tưởng không phải vậy mà là vậy! Trong “siêu thị thơ” Việt hiện nay, nếu các trang thơ Lê Đạt lần đầu tiên xuất hiện mà không có tên tác giả, hoặc tác giả không “dính chuyện Nhân văn”, đồ rằng các phê bình gia tinh tường nhất và có trách nhiệm nhất của thi đàn như Đặng Tiến, như Đỗ Lai Thúy sẽ gặp khó để làm các bài bình đẹp (và cũng phải nói là đúng!) như từng có. Còn với các “nhà phản biện thơ Lê Đạt”, như Trần Mạnh Hảo, cũng chẳng buồn phản biện.

Ngược lại, dù thành hay bại, những cách tân tạo sốc về hình thức và quan điểm mỹ học của Bích Khê, Xuân Thu Nhã Tập, Nguyễn Đình Thi “hôm xưa”; của Trần Dần, Chế Lan Viên, Đặng Đình Hưng, Dương Tường “hôm qua”; của Nguyễn Quốc Chánh, Mở Miệng, Nguyễn Đức Tùng “hôm nay” - bất kể nhân thân lừng lững hay xẹp lép, bất kể tiếng tăm hay tai tiếng ngoài thơ - cái “kim thơ” của họ trước sau cũng lòi ra khỏi túi càn khôn mang tên Thời gian. Không như thế về chuyển đổi thi pháp, Lưu Quang Vũ, Thi Hoàng, Hoàng Hưng, Lê An Thế (Lê Bi), Nguyễn Viện, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Tiến Dũng cũng là những cây “kim thơ”.

Thời điểm này, về số lượng, có chừng hai tá tác giả tương tự Nguyễn Quang Thiều, dù về giá trị và ảnh hưởng có thể nhiều vị chưa bằng, nhưng chưa và có thể sẽ không được “đèn trời thơ soi xét”. Danh sách 35 tác giả của dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị (Chú thích 4) nói ra phần nào. Vừa mới lọt tầm ngắm của dư luận và văn giới dòng chính, Đinh Thị Như Thúy là một đại biểu đúng. Còn nếu cần đưa ra hai tác giả đáng lọt mắt nhất thi đàn lúc này, thiển ý, là Lê Vĩnh Tài và Lưu Mêlan. Nếu phải chọn một: Lê Vĩnh Tài. Trong dòng văn học hải ngoại, chỉ kể tác giả có tạng thơ-ngôn-ngữ, cũng hai mươi năm qua những vị sau vẫn đang lặn chìm: Thường Quán, Uyên Nguyên, Vương Ngọc Minh (Lưu Hy Lạc), Hoàng Xuân Sơn… Thơ-ngôn-ngữ dễ bị đọc nhanh,“bỏ thì thương vương thì tức”, vì liếc qua về hình thể và nội dung không tạo dấu ấn.

Tại sao các thi nhân thường có thói bất cần, trọng thơ khinh tài? Bởi họ hiểu hơn ai hết cái bấp bênh của chiếc cầu thành bại bắc qua hai bờ tác giả và tác phẩm. Khác văn xuôi, với thơ khó có một hội đồng thẩm định vẹn toàn. Dù là giải Nobel hay giải Làng Chùa. Người đời có thể ít nghe một nhà văn hậu sinh nói lời trái tai với/về văn sĩ tiền bối. Chúng tôi không ngạc nhiên khi Nguyễn Huy Thiệp như không là chủ nhân những câu “vuốt mặt” các nhà văn tiền bối trong bảng danh dự Việt Nam hay thế giới. Và cũng không ngạc nhiên khi Nguyễn Hoàng Đức mở lòng tâm sự muốn “đạp đổ Nguyễn Du” để rồi nhận về những lời bình chê bai của độc giả lethieunhon.com.

Hơn cả một hiện tượng, cùng những mặt thống nhất, thơ Nguyễn Quang Thiều mang nhiều mâu thuẫn đặc biệt nhưng bình dị của văn học và xã hội Việt. Qua đó, người ta có thể hiểu văn học - nghệ thuật và văn nghệ sĩ có số phận và sức sống ra sao ngay cả với những thi phận may mắn. Nguyễn Quang Thiều không mang “trích ngang vĩ nhân” kiểu Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi; cũng không có “an toàn khu” như các nhà thơ quân đội thời hậu chiến như Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo… Song, cuộc đấu thi pháp của anh không kém phần quyết liệt, và có thể còn kéo dài chưa biết đến bao giờ. Bởi, đây là cuộc thử sức đầu tiên tương đối vị nghệ thuật của văn học Việt Nam hiện đại. Nếu có vài ba Nguyễn Quang Thiều, đồng thời hoặc sau đây, tương lai thi ca Việt Nam sẽ khác đi, tốt lên đáng kể. Mời diễn đàn hôm nay, thêm một lần, dù muốn dù không, hãy chia sẻ cùng “khổ chủ” điều rằng, “Tôi dị ứng trước các lời khen, chê” .

III.2. Thơ Nguyễn Quang Thiều và “Nguyên tắc bình thông nhau” 

Ở thơ Nguyễn Quang Thiều có sự lưu thông khó tách rời giữa thơ và văn xuôi; giữa truyền thống và hiện đại; giữa hiện thực và tưởng tượng; giữa ý và lời; giữa cảm xúc chuẩn tắc và cảm hứng tự do.

Thế nhưng, nhà thơ này nên nghiệp là nhờ biết vi phạm Nguyên tắc bình thông nhau mà vật lý học quy định cho các chất lỏng! Như đã nói ở phần III.1.2, tính văn xuôi trong thơ Nguyễn Quang Thiều không thể đạt tới độ cao của tính thơ. Trong các mục tiếp theo, chúng ta sẽ thấy, ngôn ngữ hiện đại cao hơn nền tư tưởng truyền thống mà tác giả nương vào. Hiện thực nhập nhòa trong tưởng tượng. Và lời phủ lên ý.

Các giao thông không ngang bằng như thế đều bắt nguồn từ cách ứng xử với thơ và văn trong cùng một tay bút.

Cũng như Nguyễn Quang Thiều, không nhiều tác giả viết văn một đằng làm thơ một nẻo: Lưu Trọng Lư, Nguyễn Đình Thi, Viên Linh, Trần Đăng Khoa…

Đa phần là nhất quán ở phong cách viết, dù thơ dẫu văn: Xuân Diệu, Phạm Công Thiện, Lê Đạt, Thanh Tịnh, Phùng Quán, Trần Ninh Hồ, Nguyễn Đạt, Võ Văn Trực, Trần Nhương, Nguyễn Viện, Thế Dũng, Lê Thị Thấm Vân…

Nhưng có không ít trường hợp “sắc văn tỏa hương thơ” và ngược lại: Chế Lan Viên, Hồ Dzếnh, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Mai Thảo, Du Tử Lê, Hoài Anh, Trần Mộng Tú, Trân Sa, Nguyễn Bình Phương, Đinh Linh…

Đã và sẽ còn nhiều dị nghị, chúng tôi vẫn nghĩ: kể từ thời Thơ mới tới nay, thơ Nguyễn Quang Thiều là cuộc tái hôn đầu tiên mà hạnh phúc của thơ và văn tiếng Việt.

Để xuống tới gốc thơ Nguyễn Quang Thiều, chỉ xét từ thế hệ sau 1975 và trong quang cảnh đổi mới thơ Việt đương đại: đúng và không đủ. Về thi pháp, cần nhìn thơ này trong dòng chảy từ Thơ mới, ít nhất cũng từ mốc thơ kháng chiến – chiến tranh sau 1945. Về cảm hứng, cần nhìn Nguyễn Quang Thiều như một tác-giả-tự-do trong dòng thơ chính thống. Cảm hứng là “gien” trời đất ban tặng thày mẹ sinh thành. Với nền văn học cách mạng và Mác-xít Lê-nin-nít, sự chuyển máu của cảm hứng sáng tạo là có thể - dù tự nguyện hay không. Nhưng có những người sinh ra đã là thi sĩ – chiến sĩ, như Nguyễn Vĩ, Tố Hữu, Chế Lan Viên… Có người phải rèn tập như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… Có người sinh ra để làm thi sĩ - tự do. Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là may mắn; nhưng Huy Cận và Tế Hanh vẫn tự do trong khả thể khi làm chiến sĩ. Vất vả là Nguyễn Bính, là Trần Huyền Trần, là Thâm Tâm. Sướng nhất: Hàn Mạc Tử và Bích Khê, hai khái niệm thi sĩ và tự do không tách.

Trong ý nghĩa đó, với chúng tôi, Nguyễn Quang Thiều là một thi sĩ - tự do.

Nói thêm, Nhóm Mở miệng là thi sĩ - chiến sĩ. Dù có thể, các vị đó và không ít độc giả nghĩ rằng họ là thi sĩ - tự do. Phải là bậc kỳ tài khủng khiếp lắm mới có thể dùng thơ làm chính trị, làm văn hóa như một dạng nghệ thuật: P. Éluard, Tố Hữu, A. Ginsberg… Ở họ không chỉ có tính đôi, mà còn là tính ba (triple): là nhà thơ của bản thân, là nhà thơ của thời đại, là nhà thơ của thể chế (với Tố Hữu thể chế là chính trị; A. Ginsberg: thể chế là văn hóa).

 

IV. Đóng góp của thơ Nguyễn Quang Thiều

IV.1. Có hay không một “chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam”?

Trong thế kỷ qua, bảng giá trị của các chủ nghĩa hiện đại trong thơ, trong văn học thế giới trên căn bản được phủ sắc màu Âu - Mỹ. (Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh là một hy hữu, nhưng có thể chỉ là phần nổi của tảng băng các khuynh hướng văn học ngoài Âu - Mỹ).

Thực ra, chúng tôi thấy, đã tồn tại một thực thể thi ca, tạm gọi là, Chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam có phần sáng tác đủ chất lượng nghệ thuật và tầm vóc về số lượng. Tiếc là phần lý thuyết còn ở trong… đầu các nhà lý luận và nghiên cứu: Với người Việt, chúng ta vốn không có sở trường tự lập thuyết và tự giải mã lý thuyết cho mình; Với người ngoại quốc: thơ Việt chưa đến lúc lọt tầm khảo cứu lý thuyết của thế giới.

Về sáng tác, có ít nhất ba điều tạo nên cái gọi là Chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam. Một: Thi ca Việt đã có cuộc cách mạng ngoạn mục bằng thời kỳ Thơ mới với đầy đủ các tiêu chuẩn; Hai: Các dòng thơ cách mạng, thơ chiến tranh Việt Nam 1945-1975 và thơ hậu chiến 1975-1986, trong đó có dòng trường ca chiến tranh, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn vong của dân tộc và nền độc lập của tổ quốc. Cuộc sống cảm xúc Việt trong những thời kỳ đó không chỉ mang giá trị tinh thần và tư tưởng mà còn có ý nghĩa vật chất và thực tế; Ba: Dòng thơ miền Nam 1954-1975 hòa trong văn học và văn hóa miền Nam vừa mang tinh thần Việt vừa có không khí của thế giới đương thời.

Hầu như không có lãnh vực nào của văn học và nghệ thuật Việt Nam được thành tựu vậy. Lúc này, khó có thể nghĩ tới chủ nghĩa hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam! Với điện ảnh hoặc hội họa Việt Nam càng không thể! Đâu phải vì thi sĩ Việt “giỏi” hơn văn sĩ, họa sĩ hay các điện ảnh gia Việt? Mà, vì thơ là loại hình nghệ thuật mang bản sắc dân tộc hơn hết thảy; vì người Việt đại chúng rất say mê thơ và do đó toàn xã hội Việt Nam dễ được/bị thơ chinh phục khi cần; vì thơ là nghệ thuật ngôn từ và chữ quốc ngữ ngay khi vừa làm chủ đời sống tinh thần Việt đã kéo theo cuộc cách mạng thơ – thay đổi toàn bộ hệ thi pháp của cả mấy ngàn năm thơ Việt.

Thơ Nguyễn Quang Thiều có gần đủ các yếu tố để dự phần vào cái gọi là Chủ nghĩa thơ hiện đại Việt Nam, ở cả sáng tác và “lý thuyết” (dù khuynh hướng sáng tạo này có được gọi tên hay không). Tức là, có thể chọn các trang thơ ấy như “ống nhòm” để quan sát bầu trời thơ Việt, ít nhất từ sau 1975.

IV.2. Thi pháp Nguyễn Quang Thiều trên các bậc thang thơ Việt

Với thơ Nguyễn Quang Thiều, thi pháp đồng nghĩa với ngôn ngữ. Phần V. sẽ bàn chi tiết về nghệ thuật thơ này. Cũng như thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền, thật ra thi pháp thơ Nguyễn Quang Thiều rất…mạo hiểm. Với các tác giả khác, nó tạo cảm hứng thay đổi cách viết. Chịu ảnh hưởng của nó về kỹ thuật, thủ pháp thì tốt, nhưng khó đeo đuổi như một thi pháp. Thành bại dễ thấy ngay trong một vài bài. Có thể thấy vậy qua ngôn ngữ thơ Nguyễn Quyến, Phan Hoàng, Đinh Thị Như Thúy; theo thể tài thơ văn xuôi của Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn; với hình ảnh thơ Nguyễn Lương Ngọc, Phan Huyền Thư, Nguyễn Bình Phương; ở nhịp điệu thơ Vi Thùy Linh, Phan Tường Vân, Đỗ Doãn Phương. Chuỗi tác giả đó, mỗi người mỗi phong cách - giọng điệu khác biệt, và không ai tạo thi pháp mới như/với Nguyễn Quang Thiều.

Thế nhưng hoàn toàn có thể nói, về giao lưu sáng tác và quan hệ văn hữu, khối tác giả này đã hình thành một trường phái văn chương vô danh bất tuyên ngôn phi thủ lĩnh, và nếu muốn, tại đây xin gọi là “Trường phái” Nguyễn Quang Thiều. (Nhiều tháng nay, “ăn theo” một giải thưởng, đã thành quen thuộc cách gọi Các nhà thơ Làng Chùa, cũng là theo tập hợp Các nhà thơ trẻ xứ Đoài trong hai thập niên qua).

Thật ra, trong nghề và nghiệp thơ, rất hiếm tác giả có thi pháp riêng; tức là có phương-pháp-làm-thơ mới và riêng xuất phát từ quan-niệm-về-thơ mới và riêng. Cũng không nên thơ mộng hóa vấn đề thi pháp. Có thể tạm ví, nhà thơ có thi pháp như một nhà khoa học có bằng tiến sĩ mà thôi. Đó là bằng cấp của học vấn chứ không phải bằng cấp của tài năng; càng không phải bằng cấp của thành tựu.

Có những nhà thơ có thi pháp mới, rất mới và rất riêng; nhưng có thể mãi mãi là cách thể nghiệm, một qui trình “chế tạo thơ”. Như các thi pháp của Khải Minh, Nguyễn Tôn Hiệt, Đặng Thân: chỉ tạo ra các bài-thơ, chưa thành thơ như một hình thái.

Các thi pháp của Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Nguyễn Thúy Hằng đã tạo thành tác phẩm nhưng chất thể nghiệm vẫn là hồn cốt. Đang nói ở đây nhiều lần về hai chữ “cách tân”, hãy cùng Dương Tường  xác quyết thêm một lần: Trần Dần là nhà cách tân số 1 của thi ca hiện đại Việt Nam!

Có những thi sĩ kiệt xuất mà như không tạo dấu ấn thực sự của thi pháp: Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, và cả Hoàng Cầm rồi Tô Thùy Yên nữa. Đến như Tố Hữu cũng không làm thi sĩ của thi pháp, dù đó là tác giả từng trở thành nguồn cảm hứng và đối tượng nghiên cứu cho phương pháp luận của GS Trần Đình Sử về thi pháp học có thể nói là đầu tiên của lý luận và học thuật văn học Việt Nam từ Thơ mới tới nay.

Có thi pháp thơ Chế Lan Viên. Suýt có thi pháp thơ Nguyễn Đình Thi; nhưng may quá có thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền nối tiếp. Nguyễn Bính là “ca” rất lạ: Nói có, không đúng; nói không, sai; thôi thì nói như Thụy Khuê: thi pháp Nguyễn Bính là không thi pháp. Và không thể quên điều này: Thi pháp thơ Bùi Giáng! Không tính đến “thi pháp thơ Bút Tre”, “thi pháp thơ Xuân Sách”, vì ở đây chỉ là về thơ trữ tình và thơ nghiêm túc.

Lại có một số vị “đi hàng hai” của thi pháp: Nguyên Sa, Đinh Hùng, Bích Khê, Du Tử Lê, Thường Quán, Đỗ Kh., Nguyễn Quốc Chánh, Lưu Hy Lạc, Mai Văn Phấn, Đinh Linh, Nguyễn Đức Tùng…

Có mảng sáng rực của thơ Việt hiện đại sau Thơ mới nhờ không ít tác giả đã làm rung chuyển thi pháp thơ trường ca và ít nhiều thành công cả về thể loại lẫn tư duy trường ca: Nguyễn Quang Thiều cũng trong số này, cùng Trần Dần, Thu Bồn, Thanh Thảo, Cao Đông Khánh - và nhất là ở dòng trường ca hậu chiến - Trần Nhuận Minh, Trần Anh Thái, Nguyễn Linh Khiếu, Tam Lệ, Lê Vĩnh Tài… (Xem tiếp phần VI.)

Không kể phong trào Thơ mới như một chuyển động xã hội, thơ Việt Nam dường như chỉ có năm nhóm văn nghệ, trường phái tạo ra hoặc liên hệ tới thi pháp : Xuân Thu Nhã Tập (Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh…), Nhóm thơ Bình Định/ trường thơ Loạn (Quách Tấn, Hàn Mạc Tử, Yến Lan và Chế Lan Viên), Nhóm Dạ Đài (Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch), Thơ tân hình thức Việt (Khế Iêm, Đỗ Kh., Nguyễn Đăng Thường, v.v…), và Nhóm Mở Miệng (Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy và Nguyễn Quán). Không kể Nhóm thơ Bình Định, bốn nhóm phái còn lại đều có cao vọng - và ít nhiều đã thực hiện - ra khỏi thi pháp Thơ mới.

Thời chiến tranh chống Mỹ, các nhà thơ xuất sắc trưởng thành trong và ngoài quân đội bằng những giọng điệu riêng tạo nên dàn đồng ca của thi pháp thơ cách mạng và hiện thực XHCN. Từng thi sĩ - Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Thi Hoàng, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt… - khó có thể có thi pháp riêng, bởi với mỗi người và với tất cả, chiến tranh là thi ca, cách mạng là thi pháp!

Tóm lại, thi pháp Thơ mới trong cuộc cách mạng lần thứ nhất đã lật lịch sử thi ca Việt Nam sang “chương hai”, từ ý niệm thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật thời trung đại sang quan điểm hiện đại cùng các nền thơ khác trên thế giới. Từ đó tới nay, cuộc cách tân thơ Việt về thi pháp với những đại biểu, theo thứ tự và thành tựu là:

1. Nguyễn Đình Thi (1946; tiên phong, dang dở);

2. Thanh Tâm Tuyền (1955; ảnh hưởng lớn, hiệu quả);

3. Trần Dần (1963; ảnh hưởng lớn, thể nghiệm);

4. Nguyễn Quang Thiều (1992; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục);

5. Thơ tân hình thức Việt (2000; ảnh hưởng đáng kể, còn tiếp tục);

6. Nhóm Mở Miệng (2001; ảnh hưởng giới hạn; tiếng tăm, tai tiếng ở các vấn đề ngoài thơ).

Nhân đây, xin trình bày lại hành trình sáng tác theo bốn bậc thang đẳng thức thơ:

1. Cách mạng (Cải cách) thơ                  =   Văn hóa (Thời đại) mới + Chủ nghĩa (Triết thuyết) mới

2. Cách tân (tiên phong, mở đường) thơ  = Thi pháp (Khuynh hướng) mới

3. Đổi mới thơ                                      =  Bút pháp mới

4. Sáng tạo thơ                                    =   Phong cách (Thủ pháp) mới

 

IV.3. Cách tân thủy chung và thấu suốt

Nếu như thơ Mai Văn Phấn cách tân nương theo mọi nẻo đường thì thơ Nguyễn Quang Thiều là độc đạo và thẳng tắp. Loại thơ-đọc-một-lần là vậy! Nếu như thơ cách tân Mai Văn Phấn ít bị phản ứng mạnh thì thơ Nguyễn Quang Thiều đã và đang bị như với không ít tác giả mở đường khác. Loại thơ-cho-các-nhà-phê-bình là vậy. “Thi án cách tân Nguyễn Quang Thiều” kéo dài đã hai mươi năm: Hơn cả thơ Thanh Tâm Tuyền. Nhưng khoảng mươi năm nay (tạm lấy mốc 2001-2002 hình thành văn học mạng ở Việt Nam), Nguyễn Quang Thiều cũng có thể nói: “Tôi không còn cô độc”, với chừng 30 tác giả hậu Đổi mới tạo nên một trào lưu cách tân thơ Việt trên cả hai khuynh hướng hiện đại và hậu hiện đại, với sự “nổi loạn nghệ thuật” nội dung và tư duy, hình thức và thái độ, hơn hẳn thời Nhóm Sáng Tạo và Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Đến thời điểm này, ngọn cờ tiên phong đang phần phật trên hai, ba tá bàn phím mà 18 vị thuộc về danh sách khả tín của Inrasara , chứ không chỉ ở đôi ba tay bút (Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương) trong thời đầu của thế hệ Đổi mới 1986-2000.

Thế hệ này có nhiều cơ may về thiên thời – địa lợi (chính trị, văn hóa và văn học Việt Nam và quốc tế) cho khát vọng cải cách thi pháp truyền thống và phong cách anh hùng ca thuần túy của thơ chiến tranh. Về tài năng cá nhân, tác giả này cũng như đã tận dụng sự may mắn trời cho và vị thế nghề nghiệp. Anh tỏ ra hiểu điều kiện cần cho những cải cách văn nghệ là khách quan quyết định: Phải do thúc bách chung cả xã hội; Và với thơ cần sự đồng hành của cải cách ngôn ngữ và và văn hóa. Không giống đa số tác giả khác, Nguyễn Quang Thiều cùng hai người - trước vài năm là Dương Kiều Minh, sau dăm năm là Mai Văn Phấn – đã không lấy nội dung thời cuộc làm “thi pháp mới”. Họ không chủ trương “nói cái từng không được nói”, mà là nói cái muôn thuở bằng ngôn ngữ chưa được/biết nói.

Khác Trần Dần và Thanh Tâm Tuyền; Nguyễn Quang Thiều không quấy đảo quan niệm thẩm mỹ quen thuộc. Khác Đặng Đình Hưng và Dương Tường; Nguyễn Quang Thiều không “cầm đèn” cách tân chạy trước “ôtô thơ”. Biến động trong thi pháp thơ của anh - dù có những lớp độc giả không chấp nhận – cho thấy tác giả đã làm thơ trước - cách tân sau. Trong danh sách sáu đại biểu cách tân nêu trên, Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Quang Thiều là hai nhà cách tân hồn nhiên với quan hệ nội dung và hình thức không quá căng thẳng như các vị khác.

Rất nhiều bài thơ, tập thơ và trường ca của Nguyễn Quang Thiều hòa trộn cả ba phong cách truyền thống, hiện đại và hậu hiện đại: Ngay từ năm 1994, bài Thánh ca tĩnh lặng (tr. 130, Châu thổ) đã là một ví dụ vượt thời gian.

IV.3.1. Về quan niệm thẩm mỹ, thơ Nguyễn Quang Thiều kích nâng nền mỹ học truyền thống lên với tư duy và hiện thực hiện đại nhưng vẫn bảo toàn tính chất của nó. Có thể nói Nguyễn Quang Thiều là một thi sĩ nhân bản chủ nghĩa với lý tưởng thẩm mỹ của cái Tôi thời hiện đại. Như thế, thi pháp thơ này khó có thể phóng túng theo các trường phái hiện đại mang hệ mỹ học mới, như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa siêu thực; và cũng khó cố thủ cùng các chủ nghĩa lãng mạn hay hiện thực đơn điệu. Cũng nhờ thế, Nguyễn Quang Thiều không phải “loay hoay suốt hai thập niên” kiểu Mai Văn Phấn (trích Inrasara). Anh miệt mài trên thi pháp độc đạo của mình.

Ở thơ này, cái Đẹp nhiều khi pha đậm với cái Bi, làm nên cái Cao cả. Cái Đẹp trong thiên nhiên quyết định cái Đẹp trong nghệ thuật và trong xã hội - đó là mỹ quan Nguyễn Quang Thiều. Cái Hùng gần như không có. Làng thơ Việt vốn dĩ “cả làng hùng ca”, thơ Nguyễn Quang Thiều “lạc e” (air) về khoản này. Lại khó hơn thơ Dương Kiều Minh về cú pháp thơ. Tức là khó đơn khó kép. Cái Hài cũng không thấy ở thơ Nguyễn Quang Thiều. Thể tất được, vì đây là của hiếm trong mỹ cảm thơ Việt suốt từ Thơ mới tới thời Đổi mới. Nhưng không có thái độ phúng dụ, biếm hài kết hợp Đông - Tây như Thanh Thảo và Nguyễn Đức Tùng; Bùi Chát và Đặng Thân; không có cái tự trào, vui tếu Đông phương mang Việt tính như Trần Nhuận Minh và Nguyễn Trọng Tạo; Phạm Công Trứ và Nguyễn Anh Nông; thơ Nguyễn Quang Thiều về mỹ quan chưa sẵn sàng với điều kiện hậu hiện đại. (Xem tiếp phần IV.4.)

IV.3.2. Về cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình, cái Tôi của thơ Nguyễn Quang Thiều đã dự phần làm cho nền thơ cách mạng và hiện thực XNCH sau chiến tranh ra khỏi cái Ta và khác cái Tôi chủ nghĩa cá nhân của Thơ mới. Cũng khác cái Tôi hiện sinh chủ nghĩa của thơ miền Nam. Đó là cái Tôi của chủ nghĩa nhân đạo trong một xã hội hiện đại thời bình đầy bất trắc và một nông thôn bị đô thị hóa gấp gối. 

Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Quang Thiều là “cách tân từ cách tâm” (trích Hoàng Hưng). Đặng Đình Hưng và Dương Tường: cách tân từ cách trí? Trần Dần thì cách tân cả tâm lẫn trí.

Vẻ ngoài rậm tạp, thơ Nguyễn Quang Thiều tương phản với hình dáng đơn sơ ở thơ Nguyễn Đình Thi, mà  lại giống ở cảm xúc “đa nguyên – dân chủ” trong việc dẫn dắt thơ tự do. Thơ Trần Dần độc đáo cũng vì sự độc đoán duy lý và tuyến tính. Người đọc phải chịu trận dưới chân tường tư duy mà ngước lên. Thơ hay là Chết! Nói như Phạm Thị Hoài, tác giả đánh đồng nhân cách (cái Tôi thi sĩ) và văn cách (thi pháp). Có thể vì chịu cuộc đời khốc liệt. Có thể thi pháp đó thuộc về máu thịt. Có thể do cả hai. Thiển nghĩ, vì Trần tiên sinh không dựa lên một triết luận chắc chắn hoặc thích đáng, trong khi mà phía Nam, cùng khoảng thời gian đó Thanh Tâm Tuyền nhờ triết lý hiện sinh và các phương pháp ẩn dụ hiện đại của nhiều trường phái thi ca phương Tây khiến cảm giác thơ mạnh bạo mà vẫn không nhất nguyên. Kỳ khu là ngữ-pháp-thơ-BaTê: trúc trắc so với ngữ pháp thơ thông thường nhưng không bạo lực đánh thuốc mê (kiểu Xuân Thu Nhã Tập) mà ma thuật bỏ bùa người đọc. Dù cùng trên nền tư tưởng phương Đông ảnh hưởng của cảm hứng trữ tình trong cái Tôi của chủ nghĩa cá nhân phương Tây, nhưng triết học và mỹ học thơ Nguyễn Đình Thi rất khác ở các thi sĩ Thơ mới khiến Đỗ Minh Tuấn từng dè dặt đặt tên - “cái vô ngôn, cái tính Không trong thi pháp” . Một tâm sự của nhà thơ rất có ý nghĩa: “(…) hồi xưa tôi ít đọc Thơ mới, tôi thích triết học hơn. Khi đọc thơ hiện đại của thế giới, tôi thấy nó có cách viết rất tự nhiên và thế là tôi cầm bút viết những dòng thơ không vần như trôi theo dòng tình cảm tự nhiên nó đến.”

Nếu như thơ Nguyễn Quang Thiều có cơ sở triết học thay cho tư tưởng nhân sinh (được hiểu như là ý đồ tải đạo), tin rằng thơ này sẽ bớt “rậm” và thành tựu một cách dứt khoát. Nếu như người thơ Nguyễn Quang Thiều được nén xuống, nén xuống nữa cái nợ kiếp người do bác mẹ sinh thành, với làng Chùa “cát từ mặt… chảy xuống ròng ròng” (Sông Đáy) tin rằng thơ này nhi nhiên và đi đến đông đảo bạn đọc hơn.

Thơ tự do không vần Nguyễn Đình Thi nhẹ ngoài nặng trong, thư thái và sâu thẳm; tức là bảo toàn chất nhi nhiên mà thơ cổ điển niêm luật đã tạo qua hàng ngàn năm. Làm thơ vì chính trị, nhưng Nguyễn Đình Thi không có chính-trị-của-thơ trong thi pháp. Thơ Trần Dần và thơ Thanh Tâm Tuyền chống chính trị hóa trong thơ bằng chính-trị-của-thơ. Thơ Nguyễn Quang Thiều vì con người, vì quê hương, vì trách nhiệm công dân với làng với nước, vì bổn phận làm người trên trái đất. Thơ này rất chính trị mà không vì chính trị. Không xuất phát từ cảm hứng thời cuộc, nó có ý thức chính trị mà không có ý đồ chính trị. Nguyễn Quang Thiều cũng không có chính-trị-của-thơ trong thi pháp. Không kể cả một nền thơ cách mạng và chiến tranh theo phương pháp hiện thực XHCN, không kể dòng thơ miền Nam trước 1975 và thơ hải ngoại sau 1975, chỉ kể trong khuynh hướng Đổi mới đến nay thì rất ít tác giả không có chính-trị-của-thơ trong thi pháp như vậy. Với Nguyễn Quang Thiều thi pháp là ngôn ngữ của cái Tôi thời hiện đại.

IV.3.3. Về ngôn ngữ nghệ thuật, thơ Nguyễn Quang Thiều “tồn tại hay không tồn tại” là ở đây!

Thanh Tâm Tuyền từng tuyên bố: “Tôi đi tìm tiếng nói/ Cho cổ họng của tôi”, và 35 năm sau Nguyễn Quang Thiều cũng đưa ra đường thơ tương tự “Qua cổ họng của buồn đau/ Qua cổ họng của cô đơn/ Qua cổ họng của thẳm lặng cất giấu” (Thánh ca tĩnh lặng), rồi 50 năm sau với Lê An Thế: “vật chất là thời gian…/ là thơ tôi/ đang mất dần ngôn ngữ”.

IV.3.4. Về thể thơ không vần điệu, có chất văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều cách tân khác hẳn hai tiền bối Nguyễn Đình Thi và Thanh Tâm Tuyền, trong khi nhị vị này khá giống nhau về hình thức kết cấu. Có thể nói, với ba tác giả, xuất hiện một ngã-ba-thơ-không-vần-điệu thoát hẳn thi pháp thể loại Thơ mới. Trong mươi năm qua, vô tình chứ hoàn toàn không vì ảnh hưởng từ thơ Nguyễn Quang Thiều, những lối viết thơ không vần điệu biến hóa khôn lường khiến hình thể thơ Nguyễn Quang Thiều lùi xuống như là cổ điển. Vô tình là nói tương quan giữa các người viết, thực chất đó là cái hữu ý của một thời đại thơ hiện đại và hậu hiện đại. (Xem tiếp phần V.5.)

IV.3.5. Về quan hệ văn hóa trong thi pháp thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi cho rằng qua đó sẽ có lý giải về các bất thường và khó hiểu của một loại thơ vốn mang bản sắc vùng văn minh lúa nước châu thổ Bắc Bộ, trong thiên nhiên cũng như trong tâm linh, với các hồi ức, ám tượng, súc vật, đồ vật, kỷ niệm…

Do thiếu khả năng chuyên môn, ở đây chúng tôi chỉ gợi ý về một khía cạnh của thơ Nguyễn Quang Thiều theo cái nhìn từ Thuyết Bất vô  - một thuyết căn bản của văn hóa thuần Việt do thiền sư Đại Huệ (1088-1163) đưa ra, với ý niệm về tương quan hữu cơ hai chiều bình đẳng của những cặp đối lập. Theo GS Lê Hữu Mục, nguyên tắc Bất vô gói gọn trong câu thơ “Bất hợp bất phân li” như là tiêu chí của văn hoá Việt, biểu hiện trong tôn giáo, ngôn ngữ, nhân sinh…

Lâu nay, ngôn ngữ Việt biến đổi đa dạng và có nhịp điệu cân đối là nhờ tính hữu cơ như ở câu đối, ca dao, thơ lục bát, thơ Đường luật, văn xuôi cổ… Tới thời Thơ mới, tiếng Việt gặp khó khăn với văn xuôi hiện đại có suy nghĩ và lối nói theo ngữ pháp của các ngôn ngữ Anh – Pháp vốn ít tính hữu cơ mà thiên về tính khoa học, sự độc lập giữa các thành phần. Thi pháp thơ sẽ chỉ thành tựu khi có những liên hệ ở trong hay ngoài hệ thống văn hóa của ngôn ngữ thơ. Lục bát là nguồn gốc của thơ tiếng Việt, kể cả trong các thể thơ Đường luật và sau này trong thơ không vần, thơ tự do. Ở các phần sau, như V.3, qua phân tích các bài thơ cụ thể, sẽ thấy nhịp điệu không theo sáu-tám của lục bát ở thơ Nguyễn Quang Thiều tuy vi phạm nguyên tắc Bất vô nhưng đã cố giữ sự hữu cơ trong toàn bài thơ bằng thủ pháp hình ảnh. Được mất của thơ cách tân Nguyễn Quang Thiều có lẽ là đây, khi mà tác giả mang tính văn xuôi phương Tây thay đổi nhịp thơ Việt?

Theo tài liệu nêu trên, thiền sư Đại Huệ đã liệt kê 36 cặp “đối pháp” với 5 cặp thuộc “ngoại cảnh vô tình” (5 extérieures inanimés), đó là: Trời-Đất, Mặt trời-Mặt trăng, Bóng tối-Ánh sáng, Âm-Dương, Lửa- Nước. Trong một số phương pháp phê bình văn chương Việt Nam, đã có những tác giả dùng quan hệ biện chứng âm dương; như ở hai thập niên qua với các tiểu luận của GS Hoàng Ngọc Hiến, nhà lý luận - phê bình Đỗ Lai Thúy, hay trong một loạt khảo cứu của nhà văn Xuân Cang… Chúng tôi cũng để tâm điều này như là một cách hỗ trợ, so sánh khi tìm hiểu tác giả và tác phẩm thơ Việt.

Trong khuôn khổ tham luận, dưới phần Chú thích là phác thảo danh sách 3 dòng thơ Việt hiện đại: dòng thơ âm tính; dòng thơ dương tính; dòng thơ song tính . Tiêu chí hiện chưa thật rõ ràng, tất nhiên theo các yếu tố làm nên thi pháp, có kết hợp tương quan truyền thống - hiện đại, văn hóa Đông - Tây, nhân thân tác giả… Nhận xét ban đầu: Dòng thơ song tính Việt cao nhất về số lượng, có lẽ vì cảm xúc và lãng mạn là phong cách văn nghệ của người Việt, của văn hóa phương Đông; đồng thời chất hùng ca của thơ Việt lại cao do dân tộc phải kinh qua nhiều cuộc chiến giữ nước và dựng nước.

Nếu như nhận thêm ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây như thơ Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi tin thơ Dương Kiều Minh sẽ không chìm sâu loang rộng mãi và lâu đến thế trong cốt cách Đông phương; để mà thêm chút cuồn cuộn hoang dại Trung Mỹ như thơ Nguyễn Quang Thiều, tăng chút kiêu hãnh và lừng lững của nguyên thủy Đông phương như thơ Đinh Hùng, trình diện tư tưởng Đông phương một cách đau đời mà thông minh như thơ Hữu Thỉnh, giải tỏa minh triết theo hướng trực diện và hóm hỉnh như trường ca Trần Nhuận Minh... Được như thế, ánh sáng có giá trị tiên khởi cho một mùa văn học của tập Củi lửa sẽ không chỉ tỏa ngay sau thời Đổi mới mà còn tới tận hôm nay hòa nhịp với các điều kiện hậu hiện đại của xã hội Việt Nam.

Cũng thế về việc tiếp nhận tri thức phía Tây bán cầu “ngay tại bản địa” với Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Hoàng Vũ Thuật, Phan Thị Thanh Nhàn, Bùi Chí Vinh; và cả với một số thi sĩ - tiến sĩ như Tuyết Nga, Phạm Đình Ân... Song, như thế lại khó hợp với Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, nhất là với Nguyễn Duy: tam vị mà “đi Tây ăn học” từ tuổi vị thành niên, e rằng văn học cách mạng - hiện đại Việt Nam sẽ không có ba giọng thơ mang phong thái tươi rói truyền thống Việt nổi chìm bên các suy tưởng tân tiến trong thứ ngôn từ đã điêu luyện lại tự nhiên như là tiếng nói cho một thời đại văn học trong tiếng súng. Còn nữa: May mà Nguyễn Bính chỉ “lên tỉnh” rồi “về” thì mới trở thành “vua nước Bướm”! Nguyễn Bình Phương chẳng cần đi đâu, “ngồi” vầy vậy thôi vẫn điểm xuyết các thi phái Âu - Mỹ trong thái độ văn học Đông phương của mình.

Nguyễn Quang Thiều là minh họa mạnh nhất cho xu thế “Go West” (Đi về phía Tây) cho thơ ca phần phía Đông của trái đất, trong đó Việt Nam. Cũng như Nguyễn Linh Khiếu, anh còn tỏ rõ điều đó qua thơ trường ca hậu hiện đại Việt. Đại diện ba thế hệ thơ Việt đương đại, Trương Đăng Dung, Ngô Tư Lập và Hàm Anh đang là ba minh chứng tốt lành – và có phần thuyết phục hơn Nguyễn Quang Thiều với đông đảo bạn đọc – cho các cảnh quang Đông và Tây hội ngộ của kỷ nguyên toàn cầu hóa.

 

IV.4. Thơ Nguyễn Quang Thiều với vấn đề thơ hậu hiện đại

Trong tập Châu thổ, không khó lắm để thấy tác giả xếp các sáng tác có thể coi là theo khuynh hướng hậu hiện đại, ở phần trước bài cuối cùng, gồm 16 bài, kể từ 0h17 phút (tr. 345) đến Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ (tr. 368). Có lẽ hai bài Công việc của tháng Mười Một, Bài ca trước phần mộ Diễm Châu lạc trong loạt bài này? Ngoài ra, và đáng kể, trường ca Lò mổ là một đóng góp độc đáo vào xu hướng trường ca hậu hiện đại Việt Nam đang tung mở trong mươi năm qua. (Xem phần VI.)

Các tiêu chuẩn thông thường của cách viết hậu hiện đại đã hội tụ về tác giả này. Bởi ngay trong lối viết lãng mạn – hiện thực và hiện đại, thơ của anh đã có nhiều phá cách nhờ độ bấp bênh như đã nêu: Giấu nén đề tài ý tưởng bằng ngôn ngữ hình tượng như là một kiểu giải trung tâm; Xóa nhòa nội dung “câu chuyện lớn” khi trộn thể văn xuôi vào thơ; Di chuyển hình ảnh và liên tưởng ký ức nhanh như là một hình thức liên văn bản; Phi tu từ và trần thuật tối đa; v.v…

Như đã nói ở phần IV.3.1. về quan niệm thẩm mỹ, thơ Nguyễn Quang Thiều không có độ hài hước nên khi chủ ý hoặc vô tình viết chệch ra hay đi hẳn vào lối hậu hiện đại, tác giả khó có các sáng tác nổi trội qua các bài thơ bình thường. Khi đề cập một số bài cụ thể, nhất là trường ca Lò mổ, ta sẽ thấy khó bình giá thơ hậu hiện đại của tác giả. Cung cách, giọng điệu không thể thiếu của lối viết hậu hiện đại là giễu nhại. Nó là phần nổi của tảng băng phản tư sâu nặng trong tâm thức hậu hiện đại. Ở 14 bài thơ hậu hiện đại nêu trên, ta như không thấy điều đó; mà chỉ nhận dạng hậu hiện đại qua các kỹ thuật, như mô phỏng, tính trò chơi, phân mảnh từ hình thức đến nội dung, liên văn bản… Cụm 14 bài này là sáng tác ở mức đạt, chưa đủ cá tính sáng tạo, tức là thảy vào biển thơ hậu hiện đại khó nhận ra chủ nhân. Chúng tôi chỉ chịu hai bài Chúc thư (tr. 350) và Những con mồi (tr. 365) là tạm xứng danh Nguyễn Quang Thiều.

Mai Văn Phấn viết không nhiều trong khuynh hướng này mà có vài bài đặc sắc. Thật ra, chuyển hệ thi pháp là điều gần như bất khả với nhiều cây bút. Với hậu hiện đại càng khó khi quán tính tư duy thơ đã mọc rễ theo lứa tuổi, nhất là trong bút pháp và cá tính. Trong các tác giả tạm gọi “cao niên” chuyển hệ thi pháp, chúng tôi thấy có Thanh Thảo là giao hảo nhất với “em chân dài” hậu hiện đại mà không tới mức tai tiếng. Nguyễn Đăng Thường, Thi Hoàng, Nguyễn Đình Chính: khỏi nói, tam vị đã hậu hiện đại từ khi “ăn nằm” với “chị ngực nở“ hiện đại. Thi Hoàng khi phát biểu thì ăng-ti hậu hiện đại, nhưng vẫn vô thức ẵm vào sáng tác một số biểu lộ hậu hiện đại.

Các sáng tác mới, khác khuynh hướng lãng mạn - hiện thực và tỏ ra theo hướng hậu hiện đại của Bằng Việt, Đỗ Trung Quân, Trần Hữu Dũng đều có vẻ không tới. Cũng như Nguyễn Quang Thiều; Bằng Việt và Trần Hữu Dũng thiếu hài giễu và phản tư. Trần Hữu Dũng đang là tác giả “cao niên chuyển hệ” sung nhất thi đàn lúc này không chỉ số lượng (công bố tác phẩm mới gần như hàng tuần, có khi hàng ngày!) mà cả tư duy lẫn hình thức thơ. Đỗ Trung Quân khi phản tư hơi chao đà, còn hài giễu chưa đủ đô. Riêng về độ giễu nhại hậu hiện đại, dù chưa hoàn chỉnh Lê Vĩnh Tài đang là tay số 1 khuynh đảo thi đàn; nhuyễn hơn Lý Đợi, Bùi Chát nhiều; và quan trọng: thơ hơn. Nhưng về thi pháp, thơ Nguyễn Đức Tùng mới là cách tân hoàn toàn về chất giễu nhại mà có thể nói là thi ca Việt chưa từng có; ngặt nỗi, thi pháp này đảo lộn cả quan niệm thơ nên chắc phải mất khoảng thời gian không ngắn mới hòa vào mạch thơ trữ tình Việt đang có. Chúng tôi vừa mới đọc được ba bài đáng giá của giọng khôi hài xám trong thơ đương đại toàn cầu: Bản đồ - tác phẩm cuối cùng của Nobel 1996 vừa qua đời, nữ sĩ Ba Lan W. Szymborska (Lê Bá Thự chuyển ngữ); Ánh sáng ban đêm của nữ sĩ Mỹ N. Willard (Lê Đình Nhất Lang chuyển ngữ); và Toán cấp 1 của nam (thi) sĩ Việt Nam Thanh Thảo.

Khiếu thẩm mỹ (chẳng chịu cười trong thơ!) trời sinh ra thế, và cũng có thể bởi Nguyễn Quang Thiều từng đốt cháy mùa lãng mạn, không kinh qua giai đoạn anh hùng ca cũng như thời “hiện thực hồng” mà “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” vào thời hiện đại với cái Bi làm trọng. Thơ của anh hiện đại ngay sau khi xuất hiện không lâu.

Lý do sâu hơn: các bài thơ hậu hiện đại của Nguyễn Quang Thiều hình như buông lỏng ý đồ văn hóa phổ cập. Tác giả vẫn mải “làm thơ”, trong khi sáng tác hậu hiện đại là… làm văn hóa! Văn-hóa-thơ. Phong cách hậu hiện đại là biết quên tính nội tại của mình hoặc làm loãng nó trên bề mặt văn bản, giả vờ và hồn nhiên khiêu khích độc giả bởi thẩm mỹ truyền thống bị động chạm, xúc phạm. Vờ thế thôi, để di chuyển tam giác Chân - Thiện - Mỹ sang hệ quy chiếu mới, tức là tâm thức tồn tại và điệu kiện sống còn mới. Trực diện hơn, chân thực hơn. Đó là “giá trị tiêu dùng” của sáng tạo hậu hiện đại.

-------------------------------------------------------------

i Nguyễn Đăng Điệp: “Thư mời viết tham luận Tọa đàm khoa học” của Ban tổ chức 15/2/2012; và vienvanhoc.org.vn 5/4/2012

ii Đỗ Quyên: “Về một dòng thơ cần giải thích giá trị - Trường hợp Tuyết Nga”, Tạp chí Nhà văn số 2/2009; và vannghesongcuulong.org 9/2/2009

iii Đỗ Quyên: Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị”; Sách Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn; NXB Hội Nhà văn, Hà Nội 2011; và dangvansinh.blogspot.ca 16/5/2011

iv Hiện nay, danh sách dòng-thơ-cần-giải-thích-giá-trị gồm 35 tác giả là: Chân Phương, Đinh Thị Như Thúy, Khế Iêm, Hoàng Xuân Sơn, Lê An Thế, Lê Đình Nhất Lang, Lê Ngân Hằng, Lê Văn Ngăn, Lưu Mêlan, Mai Văn Phấn, Ngô Tự Lập, Ngu Yên, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Nhã Ca, Phan Nhiên Hạo, Phạm Phú Hải, Tam Lệ, Thi Vũ, Trần Khiêm, Trần Huyền Trân, Trần Thiên Thị, Trịnh Sơn, Thường Quán, Trần Nhuận Minh, Trần Tiến Dũng, Tuyết Nga, Uyên Nguyên, Văn Cao, Vương Ngọc Minh, và Yến Lan.

Với chúng tôi, đó là những thi sĩ đã/đang/sẽ góp phần tạo nên hình thể thi ca Việt hiện đại, bằng những bút pháp có một không hai của mình, và đa số ít được hoặc chưa được giới phê bình và dư luận quan tâm tương xứng.

v Tên tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Cuba A. Carpentier; dịch giả Nguyễn Trung Đức

vi Tên tập thơ quan trọng nhất của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều    

vii Nguyễn Quang Thiều: Châu thổ, thơ tuyển lần thứ nhất, NXB Hội Nhà văn 2011: Những câu thơ in nghiêng và không kèm tên tác giả là trích từ đây.

viii Roubaud, Jacques: “Thơ/ văn xuôi khác biệt chỗ nào?; Hoàng Hưng dịch, Tạp chí Thơ; và vietvan.vn

ix Trích bản thảo sách Vạch áo Nàng Thơ

i Dẫn theo Đặng Huy Giang: Báo Văn Nghệ Trẻ; và nhavantphcm.com.vn 6/3/2012

xi Một quy luật của vật lý: Nguyên tắc bình thông nhau - Trong bình thông nhau chứa cùng một chất lỏng đứng yên, các mặt thoáng của chất lỏng ở các nhánh khác nhau đều ở cùng một độ cao.

xii Dương Tường: Sách Thơ; Trần Dần, NXB Đà Nẵng 2007; và “Trần Dần - một cuộc đời quyết liệt với thơ”; evan.vnexpress.net 2/3/2010

xiii Đỗ Quyên: “Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt”; Tạp chí Sông Hương số 257 - 7/2010; và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010

xiv Inrasara: “Thơ Việt, từ hiện đại đến hậu hiện đại”, inrasara.com 3/3/2009; và “Nhận diện các trào lưu thơ Việt đương đại”, nhavantphcm.com.vn 12/12/2010

xv Đỗ Minh Tuấn: “Cõi tĩnh mịch trong thơ Nguyễn Đình Thi”; Tập tiểu luận Ngày văn học lên ngôi, NXB Văn học 1996; và trieuxuan.info 23/3/2012

xvi Hà Minh Đức:“Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi”; trieuxuan.info 24/2/2012

xvii Lê Hữu Mục: “Thuyết Bất Vô”; vanhoanghean.com.vn 14/1/2012

xviii Phác thảo Danh sách ba dòng thơ âm-dươngViệt hiện đại:

Dòng thơ âm tính Việt: Nguyễn Bính, Đinh Hùng, Hoàng Cầm, Đoàn Văn Cừ, Thâm Tâm, Du Tử Lê, Phùng Cung, Phạm Thiên Thư, Viên Linh, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Nguyễn Tất Nhiên, Phan Thị Thanh Nhàn, Đỗ Quý Toàn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lý Phương Liên, Nguyễn Nguyên Bẩy, Nguyễn Đạt, Nguyễn Quang Thiều, Nh. Tay Ngàn, Dương Kiều Minh, Vũ Trọng Quang, Nguyễn Bình Phương, Đoàn Thị Lam Luyến, Đỗ Trung Quân, Trần Hòa Bình, Lê Thị Kim, Nguyễn Quốc Chánh, Hồng Thanh Quang, Trần Mộng Tú, Trương Nam Hương, Thường Quán, Hoàng Xuân Sơn, Văn Cầm Hải, Bùi Chát, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lãng Thanh, Trương Đăng Dung, Trần Khiêm, v.v…

Dòng thơ dương tính Việt: Chế Lan Viên, Nguyễn Vỹ, Trần Dần, Hữu Loan, Trần Mai Ninh, Nguyễn Đức Sơn, Phùng Quán, Trần Vàng Sao, Vũ Cao, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Bắc Sơn, Thanh Thảo, Ngô Kha, Xuân Quỳnh, Cao Đông Khánh, Bùi Chí Vinh, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Viện, Thạch Quỳ, Lê Huy Quang, Nguyễn Thị Thanh Bình, Hoàng Trần Cương, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Việt Chiến, Đinh Linh, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Hoàng, Âu Thị Phục An, Lý Đợi, Nguyễn Đình Chính, Thận Nhiên, v.v…

Dòng thơ song tính Việt: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Văn Cao, Lê Đạt, Tô Thùy Yên, Phạm Công Thiện, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Đại Thanh, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Việt Phương, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Xuân Thiệp, Thi Hoàng, Bùi Minh Quốc, Trần Đăng Khoa, Hoàng Hưng, Trần Ninh Hồ, Thanh Tùng, Luân Hoán, Ý Nhi, Phạm Đình Ân, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Thụy Kha, Dư Thị Hoàn, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Hoa, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Trác, Y Phương, Khế Iêm, Đỗ Minh Tuấn, Đỗ Kh., Lê An Thế, Chân Phương, Trần Anh Thái, Inrasara, Lê Thị Huệ, Trần Tiến Dũng, Trân Sa, Trần Quang Quý, Phan Huyền Thư, Lê Thị Thấm Vân, Phan Nhiên Hạo, Đỗ Nam Cao, Nguyễn Hoàng Đức, Trịnh Sơn, v.v…

(Còn tiếp)

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...