Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Thơ Dương Kiều Minh ngọn lửa đêm Hàn

(Tham luận tại Tọa đàm Thơ Dương Kiều Minh trong diễn trình đổi mới thơ đương đại)

Văn Chinh - 16-05-2012 11:09:58 PM

Những ngày nghỉ Tết Nhâm Thìn, tôi nằm đọc tuyển tập Thơ Dương Kiều Minh, đến câu “Tổ tiên tôi có để lại bức hoành phi đề ba chữ ‘Hàn Mặc Hương’”tôi gọi điện để hỏi ông, chữ Hàn viết thế nào, Hàn trong hàn điểu mà cái lông cánh của nó dùng làm bút hay là hàn phong? chữ Mặc Hương viết thế nào, có phải là mực thơm hay tên thôn, tên xã? Nhưng Minh tắt máy. Minh tắt máy là gay go rồi, chưa biết chừng đã nằm thở bằng máy rồi. Tôi biết Minh không muốn bạn bè đến thăm ông ốm, nên biết ông bị bệnh hiểm nghèo còn cứ nấn ná. Tối ấy tôi phóng xe ngang qua thành phố, trời lạnh và gió; Hà Nội vắng lặng, ai ra đường hình như đều trong ô tô, rõ là Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân. Tôi cứ lẩm bẩm, rồi nhẩm đọc những câu thơ Minh:
Lăn qua cuộc đời, vịn vào ngang trái
       Nâng câu thơ trước ngực, mỉm cười
 (…) Linh cảm cuộc thay đổi lần cuối
        Cuộc dịch chuyển cuối cùng, chặng cuối cùng cuộc hành trình gian nan gập ghềnh, đơn độc và đơn độc. Cuộc hành trình tưởng phải bỏ nửa chừng, tưởng không bao giờ đi tiếp đoạn cuối.
       Ôi, cuộc đời bé nhỏ nhọc nhằn vậy sao
                                  Tôi ngắm mãi những ngày thu tận
Đọc, thương rồi cãi. Không hẳn đúng, Minh ạ. Nhọc nhằn thì nhọc nhằn  rồi, cuộc đời này đâu phải của mấy thằng mình, nó là của ông Giời; ông ấy cho ai thế nào thì được thế, cấm đòi. Đòi hỏi có khi Giời giận, Giời bảo ra chỗ khác chơi thì hỏng, hỏng hẳn. Nhưng Minh không bé nhỏ, đặc biệt là sức cảm nhận:
       Những ngọn gió như tứ thơ cường thịnh
                                       Cố hương (Củi lửa)
       ờ thế giới ngập chìm trong vẻ đẹp
       dáng uy nghi lực lưỡng đền đài
       tiếng em cười thuở mười sáu tuổi
                                       Mùa hạ (Củi lửa)
Chữ lực lưỡng rồi sẽ trở lại nhiều lần trong suốt bẩy tập thơ Minh, Nó như một mặc cảm, một khát vọng thì đúng hơn nơi con người Minh sức yếu. Trên vách phòng của Minh ở ký túc xá Trường Viết văn Nguyễn Du có dán một bài thơ, bài Cây đàn Guitar của Lorca, ấy là vật trang trí duy nhất. Nhìn chủ nhân thanh mảnh như cần đàn tranh, đọc câu thơ cứ rung lên bần bật, tôi có cảm giác Minh sẵn sàng xé mình cho thơ, cho Cái Đẹp. Và trực cảm không lừa tôi. Mấy chục năm sau, khi sửa soạn cho cuộc chuyển dịch cuối cùng, Minh đã viết: “Tôi thực sự đã sống trọn vẹn trong một giấc mộng thật đẹp trong chìm đắm và trong khổ luyện nhọc nhằn. Đối với một người như vậy là quá đủ, tôi chưa thấy gợn thoáng một ham muốn gì khác.” Sực nhớ VTV1 vừa phát chương trình Sống đẹp với câu hỏi hóm hỉnh: Sống đẹp hơn, bạn đã thử chưa? Vớ vẩn, đánh đổi gần tròn 53 năm để sống Đẹp sao nỡ bảo là thử?

*

*   *

Có một cậu bé nhà quê cô quạnh và nhút nhát trong thơ Dương Kiều Minh. Nhút nhát đến ngay cả tình yêu với cô bé láng giềng cũng không dám bầy tỏ và hình như tự thú nhận với chính mình cũng không:
         Em ngũng nguẩy tám năm về trước
         mắt thôn quê ngấn ướt đợi chờ
(…)  Đâu phải nữa con búp bê bằng cỏ
        con đường hoa vối rụng đầy
                                   (Bản giao hưởng đồng quê. Củi lửa)
Vậy rồi dường như đứa trẻ ấy đã vụt biến thành ông già, Củi lửa là bài Minh làm năm mới đôi mươi ngoài, nhưng khi ngoái nhìn ngày bé, cái ngày mà tuổi thơ ăm ắp buồn đã thấy xa như thể không sao nhìn thấy nữa:
        lăng lắc tuổi xuân
        lăng lắc niềm thôn dã
        Bếp lửa ngày đông…
Dấu vết duy nhất của tuổi trẻ ở đây là vẻ đẹp của câu thơ lăng lắc niềm thôn dã , vâng, một dấu vết gián tiếp. Ngay cả Dương Kiều Minh khi trở lại và ông thường hay trở lại bầu trời bé thơ để tìm kiếm, nhưng hết rồi, không có nữa. Hình như là vì phúc bất trùng lai. Tại sao tôi lại ngắt cái lăng lắc tuổi xuân khỏi câu thơ sau (mà tôi cho là tuyệt bút)? Vì một đằng thì nhà thơ tài năng nào cũng có thể làm, đằng kia thì chỉ thi nhân hiền giả mới làm nổi. Đấy cũng là chỗ lạ nữa của thơ Minh. Ở Trường Viết văn Nguyễn Du khóa III có nhiều công trường cách tân thơ, trong đó có hai nhà thơ Sông Đà: Nguyễn Lương Ngọc đục đẽo đá để tạo cái xù mộc cho biểu đạt thơ hiện đại còn Dương Kiều Minh lại nghiêng hẳn về hành trình tìm kiếm cái đẹp thơ minh triết. Trong cuộc chấm/ phản biện tác phẩm tốt nghiệp nghe nói có cả sự to tiếng? Nếu có thì theo tôi hình dung, đó chính là tiếng đục đẽo đá của Ngọc và những mảnh vỡ của thi pháp cũ đã văng qua cái barie quan niệm thẩm mỹ cổ điển; còn Minh, do nhút nhát và do tật lắp một phần, phần khác, ông dành hơi sức cho cuộc trường kỳ chìm đắm và trong khổ luyện nhọc nhằn mới qua được vài bước. Xin đọc những câu của thi nhân hiền giả ngoài 20 tuổi Dương Kiều Minh:
Trích từ Tháp bút (Củi lửa):
     Dáng thi nhân
    câm lặng và lực lưỡng
    Câu thơ viết lên nền trời
    Bài thơ viết lên nền trời
    ngông cuồng viết lên nền vương quốc

Trích từ Củi lửa:
    Đời con thưa dần mùi khói
    Mẹ già nua như những buổi chiều
Trích từ Cố hương (Củi lửa):
    Những ngọn gió như tứ thơ cường thịnh
    mang trả nước cái thời chưa là nước
    mang trả ta trong trẻo thuở lọt lòng
Đây nữa, trích từ  Mùa hạ (Củi lửa):
   Âm âm đồng ca phía nhà thờ vọng
   xa như hè sáng thế
   lặng im
   cao ngất
   oi nồng…

  Thuở niềm tin chưa mất
  thuở niềm tin chưa có trên đời

Tìm, thấy và thấy như thế đã có thể coi là nhiều. Nhưng, như đã nói, cái nhu cầu thẩm mỹ của Minh là lực lưỡng, là cường thịnh. Và như Minh đã nói, ông không muốn vinh quang quá khứ khoác lên vai tuổi già, cái cảm giác tay không ở nhà thơ luôn khắc khoải. Cho đến khi cậu bé đã thành ông, đứng tựa cửa nhìn lại cuộc đời, nhìn  về ngày xưa giá lạnh, về những ngôi sao như có như không, về khát vọng đẹp vẫn chân mây cuối trời. Nhưng cái nỗi đau thâm căn trong cậu bé ngày xưa  không ngừng đến tận bây giờ, ấy là những bài thơ vẫn nguyên vẹn ở đâu đó trong mơ, đến khi tỉnh giấc, bài thơ thật lại lãng quên. Tập Tựa cửa, tập thơ thứ năm của tác giả đã ra đời trên cái nền tâm cảm ấy, nhà thơ luôn có cảm giác bất lực trước cái đẹp không thể lưu giữ vĩnh hằng, lại không có cách khiến cái nhếch nhác biến mất khỏi trần thế - nơi Sống của những Con Người…
Về thơ Dương Kiều Minh, tôi có những câu hỏi không sao tự trả lời. Mỗi tập thơ in ra, Minh đều gửi cho; đọc thì thích, một lối thơ rất riêng, chẳng thèm giống ai, cứ một mình một giọng. Mỗi bài thơ là một không gian thơ, bài nối bài như tán cây lực lưỡng giao nối đan cài nhau, làm nên bóng mát che đầu, làm nên tiếng rì rào, tiếng những loài chim có thực và không có thực ríu ran xao xuyến lòng người đọc khiến người ta cảm nhận như được tặng vé bay vào một không gian khác, tạm gọi là không gian mỗi tập thơ Minh. Minh có bài Ghi ở Cao Bằng (Tôi ngắm mãi những ngày thu tận) khá tiêu biểu cho giọng thơ sang trọng của ông, nhưng có câu gợi cho tôi cảm nhận ấy: “Có lẽ mạch núi nơi đây liền với Thập Vạn Sơn” nhưng vì sao tôi vẫn chưa một lần viết về nó? Một câu hỏi nữa: Trong một xã hội mà giải thưởng văn chương nhiều kính thưa các kiểu, vì sao ông vẫn chưa một lần nhận. Khi cùng đồng nghiệp làm Giải thưởng văn học nông thôn, theo gợi ý của chị Tuyết Nga, tội lập tức gọi cho tác giả câu thơ lăng lắc niềm thôn dã, nhưng ông bảo thôi và khi gặp hỏi, ông mỉm cười ý nhị. Hình như câu tự bạch thơ là việc của người nhưng lại là vật của trời là ông nói thật?
Vả chăng, Minh chủ trương vô ngã, vô thường. Cho đến khi Minh gửi cho hai tập tùy đàm Tìm hiểu người xưa qua sách cổNhững viên ngọc quý, tôi mới gặp được dấu vết của bản ngã cứng cỏi đầy kiêu hãnh của Minh. Nhưng đó là những dấu vết chỉ thoảng qua, cũng mơ hồ chả hơn ở thơ Minh là mấy. Một câu thơ của Minh tôi không nhớ ở bài nào, tả cái vườn chùa vắng lặng có hàng bảo tháp ngay ngắn và lạnh. Thậm chí, Cớ gì ta cứ phải là một nhà thơ, ở bài Qua Tây Hồ vọng tưởng Chu Thần, (Tôi ngắm mãi những ngày thu tận) Minh đã mượn thơ cụ Cao mà nói như thế. Thơ, ấy là miền Minh lánh về, không phải chỗ khởi đi.
Nhưng có nhẽ Minh đã nhầm, mà nếu không thì thơ phải là việc của người do trời xui làm mới hẳn đúng. Cả tập tuyển thơ làm sã tay người bẩy chục ký, hình ảnh ký ức tuổi thơ gói trong ngôi nhà xưa của mẹ, mẹ đã mất cùng đống rấm bằng trấu chỉ còn lại mùi khói thơm trong con hiện là một lão già cứ trở đi trở lại nhiều lần. Và lạnh. Minh có rất nhiều câu thơ về cái lạnh và hầu hết chúng đều hay. Có cái lạnh như một bổ trợ cho sự hằng thường mà kiếp người, ở đây là Minh phải chịu:
      Tôi ngồi lặng lẽ trong đêm, từng làn gió lạnh tiếp thêm sinh khí
     
Có cái lạnh của nhịp thời gian đi:
      Đêm lạnh trở lưng không yên giấc
      Già nua săm sắn đến chào
     
Có cái lạnh như một tổ tông truyền:
      Hơi lạnh thăm thẳm lùa lên từ dòng sông hoang liêu cổ tích
     
và nó theo ta suốt cả đời dài, từ khí ta biết nó:
      Đã ba mươi năm, hơi lạnh thăm thẳm vẫn lùa về từ ký ức nơi dòng sông vách đứng
      (Những đống lửa bên đường... Khúc chuyển mùa)
Nhiều lắm, có cái lạnh mùa thu, mùa xuân, lại có cả cái lạnh mùa hè, có lạnh do trời, lại có lạnh do người:
      Chế ấm trà, rụt tay lại vì hơi nóng. Cầm lên đã nguội lạnh, bạn vẫn chưa tới
      (Ngày thu đợi bạn, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận)
Nhưng đáng sợ nhất là cái lạnh tỏa ra từ khí thơ, mặc dầu nó không hề nói đến:
      Những cánh đồng phơi gió đông mọc đầy cây cải dại. Những ngôi nhà lẫn dưới lùm cây kéo sát chân núi. Bạn nằm đấy cạnh rừng lim đền. Và, đâu nữa nơi nghĩa trang vườn ổi.
      (Tưởng nhớ các nhà thơ xứ Đoài. Khúc chuyển mùa)
       
Cả đời tìm mẹ, chỉ thấy gió ngàn thổi không dứt bên những dòng sông vách đứng chảy xiết. Chỉ thấy những lo toan của kiếp người dựng lên lô xô như những đụn rạ trên cánh đồng mùa gặt. (…)Tiếng chim gọi bầy xao xác tìm về dưới mái hiên tòa nhà cổ. Cả đời ta lạc mẹ, chiếc ổ mơ hồ vẫn đợi ta ở chân trời xa vắng.(…) Tôi lần ngược trở về con đường gia tộc. Cha tôi còn để quên điều gì trước lúc ra đi, người chỉ kịp mang theo lặn lội lo toan nghèo khó. Bóng tối tháng mười bưng kín mặt.
       (Tôi trở về theo cơn gió lạnh đầu mùa. Khúc chuyển mùa)

Trong đám tang Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn cứ lẩm bẩm không dứt: “Cả đời bạn nghèo, nghèo không đáng sợ. Cả đời bạn thua thiệt, thua thiệt không đáng sợ. Xót xa nhất là bạn không được hưởng, không được biết đến nước da người gái trẻ vào thời ê hề phẩm vật nó phồn thực thế nào.” Phấn nói, mắt Phấn mọng nước, miệng cố ghìm lại, hình như ông ghìm không để những câu dằn dỗi với Trời thoát ra khỏi miệng, vâng, Phấn là một Kito hữu. Và Phấn đúng. Trong bài Gửi con gái Nhật Ngân, (Ngày xuống núi) Minh viết:
      cha, kẻ mộng du hư thực, cuộc đời ném ra ngoài cuộc đời ném vào bão tố (…) Ấy mùa xuân đầu tiên cha thấy mình nghèo khổ còn gì? Ngoài con và khát vọng
Cả gia tài thơ đồ sộ, ngoài bài viết cho con gái trên đây như một khánh chúc, bài thứ hai cho con (Gửi con gái Nhật Ngân đầu xuân 2010. Khúc chuyển mùa) đã như một di ngôn, bài thơ tình trai gái duy nhất, bài Đầu đông thì đã bị thất lạc; nó chỉ còn được nhắc đến trong bài thủ thỉ cùng vợ đêm của  những ngày ốm già. Trời bắt Minh một đời giá lạnh, một đời đạo hạnh, Minh lại mệnh Thổ hành Mộc, lúc nào ông cũng thèm lửa, viết rất hay về cây và về lửa; đấy không phải Trời xui thì chả lẽ lại là Đất khiến?
Ở trên kia tôi có nói, Minh chủ trương vô ngã, vô thường. Nhưng không phải không có lúc bản ngã kiêu hãnh không từ nơi ông toát ra, khi mơ hồ, lúc cả quyết. Xin hãy đọc:
      Những tán cọ trổ lên trời hứng trọn sự lạnh lẽo buốt giá, cái khô cằn của đất đai, sự nghiệt ngã của sương gió để lại những dấu vết gằn guộc trên thân cây lực lưỡng. Tôi yêu những cây cọ mùa Đông như sự kiên nhẫn bền bỉ của những người dân vùng đồi. Thiên nhiên không phú cho họ gì ngoài sự chịu đựng. Sự chịu đựng của con người kéo dài qua các thế kỷ làm nên các thế kỷ
    (Những cây cọ mùa đông. Khúc chuyển mùa)

và nếu bạn thấy hay, thì hẳn bạn cũng tin như tôi tin, rằng thơ hay là có Trời xui làm.

*

*   *

Xin dành phần cuối nói thêm về Khúc chuyển mùa
Cổ nhân nói, phải sau một hoa giáp 60 năm mới hiểu được cái nhẽ sáng trưa chiều tối của một ngày, một kiếp người. Nhưng hình như nhà thơ với mẫn cảm trời phú thì không cần đợi đến thế, vào trước năm 37 tuổi, Puskin có bài thơ tuyệt hay về chàng xà ích với buổi sớm “hò vang mau đi thôi (…) đến trưa chí nhụt rồi,” buổi chiều thì “mặc cho bánh xe lăn/ thời gian xua vó ngựa”! Còn nhà thơ Dương Kiều Minh vào tuổi 50 đã cảm nhận xong về vòng quay đời người. Nó nằm trong vòng quay của vũ trụ và cùng với trời đất. Nhưng hạnh phúc nằm ở chỗ thi nhân cảm nhận niềm đắng cay và cả niềm ngọt bùi trong bước chân của thời gian đi vào ký ức, vào không gian tâm hồn, vừa thân thiết như bè bạn, vừa lạ lung bí ẩn như Phật Chúa an ủi sẻ chia những mất mát những thương tổn và cô đơn. Ta có thể gọi bài thơ Tự sự bên mùa của Minh như bản thánh ca của kiếp nhân sinh vậy…
Vâng, chữ Hán do người Việt dùng có thêm một nét nghĩa vì âm đọc của nó khác. Bức hoành phi gia tộc Minh truyền lại, là muốn nhắn nhủ cho con cháu rằng, nhà này chỉ có thể cầu lấy cái hương thơm của bút mực. Mà như vậy thì nghèo. Mà nghèo thì lạnh, vậy Hàn Mặc Hương cũng là lạnh giá, một cái lạnh gia truyền và Minh dành cả đời để nghiêm cẩn theo gia huấn. Nhưng những cái do Minh để lại, thì là ngọn lửa âm ỷ cháy. Minh có bài thơ Trong chiếc rương đơn sơ (Tôi ngắm mãi những ngày thu tận), có những câu bây giờ đọc lại mang một lớp nghĩa mới:
    Tôi xếp vào chiếc rương đơn sơ từng mảnh kỷ niệm
    Những gì ta cất đi tự chuyển sang một đời sống khác
    Như những cánh chim di cư từng luồng ký ức vỗ cánh khỏi ta bay vào cõi xa xăm
    Những gì ta lãng quên, chúng vẫn hiển hiện đâu đó trong trời đất.
Với tôi, ngay cả lúc này Minh đang nằm lạnh dưới đất kia, ông vẫn thỏa nguyện mỉm cười. Bởi ông biết, thơ ông đang sống một đời sống khác, đời sống của những ngọn lửa.


Hà Nội, tháng Năm, ngày 15 năm 2012

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Người đi về phía ánh trăng

VanVN.Net - Nhà thơ Lò Ngân Sủn là một thi nhân Việt Nam xuất sắc, tác giả của 14 tập thơ, 2 tập truyện ký, 10 tiểu luận nổi tiếng và hàng loạt bài thơ được phổ nhạc rộng rãi. Mãi ...