Kỷ niệm 60 năm Hội Nhà văn Việt Nam

21/2
8:15 PM 2017

KỶ NIỆM 60 NĂM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM: MỘT NHÂN CÁCH ĐẸP, MỘT ĐỜI VĂN TỎA SÁNG

Đoàn Trọng Huy-Ma Văn Kháng- cây bút mới ngày nào trình làng truyện ngắn đầu tay Phố Cụt trên tạp chí Văn học (1961), đã trải qua 55 năm miệt mài, dẻo dai, bền bỉ, tiếp tục cho ra mắt cuốn Người thợ mộc và tấm ván thiên - tiểu thuyết, vào đầu năm 2016. Chỉ riêng với khối lượng sáng tác, đã rất đáng nể phục: 25 tập truyện ngắn với hơn 200 tác phẩm, cùng với 20 tập tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận.

                                               Nhà văn Ma Văn Kháng (nguồn Internet)

Tính đến 2012, được ngoài 10 giải thưởng văn học các loại, trong đó có các giải thưởng cao quý như Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 (2001), và trước đó là Giải thưởng Văn học Đông Nam Á ASEAN (1998). Ma Văn Kháng còn có vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 4) với cụm tác phẩm Tuyển tập truyện ngắn, cùng ba tiểu thuyết: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn.

Với sự nghiệp văn chương khá đồ sộ, tạm sơ kết vào “buổi hoàng hôn của đời” như vậy, đã đủ làm ta thêm phần mến yêu và kính phục thực sự một nhà văn uy tín đã bước lên hàng lão làng - 80 xuân. Thành tựu của một chặng đời văn sáng giá là của một tâm hồn cao đẹp, sống hết mình vì nghiệp viết biết bao nhọc nhằn, nghiệt ngã, khốn khổ nhưng cũng rực rỡ lý tưởng thánh thiện cao quý.

 Đường đời Ma Văn Kháng, nhìn  đại thể, có mấy chặng lớn: Theo nghề nghiệp - là hơn 20 năm dạy học ở miền núi. Sau đó, cho đến nay là khoảng 40 năm viết văn ở miền xuôi khi chuyển về Hà Nội từ năm 1976. Như vậy, theo tuổi đời là đã qua thời thanh niên sôi nổi ở nơi miền biên viễn của đất nước, rồi đến tuổi bốn mươi thì đã có một sự nghiệp đáng kể. Đúng ra, là nghiệp dạy và nghiệp viết đan lồng vào nhau. Tháng 3 năm 1961, không kể làm báo, nhà văn trẻ đã viết truyện ngắnTừ năm 1977, với Gió rừng (tiểu thuyết), coi như chính thức bước vào nghiệp viết.

Xét về địa vị xã hội và nhân thân qua dạy học, có thể coi 20 năm đầu đời là thời gian hình thành nhân cách người thầy giáo trẻ. Vào tuổi lập thân “tam thập nhi lập” và “tứ thập bất hoặc” đã hình thành nhân cách nhà văn khá chững chạc khi tham gia biên tập, kinh qua Tổng biên tập, rồi Phó Giám đốc nhà xuất bản Lao động vào thời gian 1976 - 1996 (20 năm). Ma Văn Kháng được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn khoá 5, đồng thời Ủy viên Đảng Đoàn Hội Nhà văn. Sau đó tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn khoá 6, Chủ nhiệm tạp chí Văn học nước ngoài. Đó là thời gian 2 khoá từ 1996 - 2005, khi đã quá tuổi  “tri thiên mệnh”

Hai mươi lăm tuổi phát lộ tài năng văn chương. nhà văn trẻ từ đó vững vàng tiến bước và đạt  danh vị khá cao, có tên tuổi trên văn đàn. Vào tuổi  “xưa nay hiếm” vẫn ở thế  “thượng phong” Một mình một ngựa với vũ khí cá tính sáng tạo xông xáo trên mặt trận Đổi mớiĐó là một nhân cách, một chặng đời văn Ma Văn Kháng “hữu xạ tự nhiên hương”.`

Thực ra trong nhà văn Ma Văn Kháng vẫn có cốt cách người thầy. Nói cách khác, con người mang tư cách kép. Nhân cách ông thầy và nhân cách nhà văn hoà nhập, tồn tại một đời.

Cũng như Ông Đốc Hồng (Nguyên Hồng), Ma Văn Kháng còn là Phó Giám đốc Trường Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du, từ 2006 - 2007. Thầy dạy chữ, thầy dạy văn đều là cao quý. Đặc biệt là tác phẩm Ma Văn Kháng còn được trích tuyển vào sách giáo khoa trường phổ thông. Vậy là, Ma Văn Kháng đã mặc nhiên được công nhận và khẳng định vai trò kỹ sư tâm hồn cho thế hệ trẻ. Thêm vào đó, ông còn có nhiều tác phẩm viết về người thầy qua quãng đời trải nghiệm đầy vinh quang nhưng biết bao vất vả, nhọc nhằn, kể cả buồn tủi, bức xúc, oan uổng tội nghiệp… Ông thầy tự bạch: “Vì thương thân, thương cho cả nhân vật”. Đám cưới không có giấy giá thú (1989) là một minh chứng rất tâm huyết. Lúc đó, “nghe được  những lời chê trách của anh chị em trong ngành có khi mình cũng muốn ứa nước mắt”Tư tưởng của tác phẩm và thông điệp của nó còn sức gợi lớn hơn nhiều. Tác giả đề cập rộng ra đến vai trò và số phận người trí thức mới - kẻ sĩ cách mạng qua ông thầy…

Nên người ngay từ buổi lập nghiệp, cũng là lập thân. Một chặng đường đời dài dặc: Hành nghề - dạy học, và viết văn, đã tự tạo được một cốt cách, một bản lĩnh sống vững vàng. Đời văn, nghiệp viết đã hun đúc nên con người mang lý tưởng chân, thiện mỹ với một tình yêu mê đắm. Chính con người mang cốt cách đôn hậu, ân tình, nhân nghĩa ấy đã tạo nên nghiệp lớn cho mình. Tình yêu con người như ngọn lửa thiêng liêng luôn bừng cháy trong tim của người cầm bút đã từng cầm phấn. Ánh sáng nhân văn từng toả chiếu trên trang giáo án tiếp tục rạng toả, bừng lên mãnh liệt trên trang viết nhà văn. Đó cũng là cái ánh sáng linh diệu đã làm nên những Phút giây huyền diệu thường xuyên miên man suốt đời văn.

Trong văn giới, không ít ngôi sao mới loé sáng đầy hứa hẹn nhưng rồi vụt tắt. Vì vốn sống đã cạn - vốn sống trong đó tổng hợp cả lý luận và thực tiễn, gián tiếp và trực tiếp về đời và đạo. Mà phải có tư tưởng nghệ thuật - tư tưởng chủ đạo để biến tất cả thành nghệ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là ít học hỏi, thu lượm chi chút… và như vậy dĩ nhiên, họ không thể đi xa, càng không thể lên cao. Ma Văn Kháng thì khác. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã chịu học hỏi, tích luỹ cho mình một vốn tri thức tổng hợp đáng nể phục. Tri thức cá nhân rộng và sâu, tinh và chắc, khả năng vận dụng lại nhanh nhạy, linh hoạt, biến hoá…. có phần giống Tô Hoài, Sơn Nam ở mặt khảo cứu, như tìm hiểu lịch sử Lao Cai qua các thời kỳ là một công trình khảo cứu rất công phu. Cùng với hiểu biết thực tế đới sống nhân dân các bộ tộc bản địa nữa. Do đó ta hiểu vì sao kho tàng kiến thức miến núi nhà văn khai thác mãi mà như chưa hề vơi cạn dù đã hơn nửa thế kỷ cầm bút. Cần gì học nấy, đụng đâu sâu đấy. Viết về thuỷ lợi là phải có kiến thức cơ bản gần như một chuyên viên kỹ thuật (Ngược dòng nước lũ). Viết về hình sự phải khảo sát hồ sơ, kiến thức nghiệp vụ tương tự cán bộ điều tra công an, tư pháp (Bóng đêm, Bến bờ). Để viết Người thợ mộc và tấm ván thiên nhà văn đã phải cám ơn thày giáo Vật lý Nguyễn Khắc Ty, “người đã dạy nghề mộc để tôi cá cơ sở hiểu biết viết nên cuốn sách” (Lời cảm ơn đầu sách).

Học mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng là phải biết tiếp biến, sáng tạo, Chủ yếu là chí cầu tiến, học một phải biết mười, phải biến thành mười. Viết phải luôn cách tân: mở ra khuynh hướng mới, khai thác nhiều đề tài, thể tài mới, xây dựng hệ thống chủ đề mới, tìm kiếm những phương tiện nghệ thuật mới…

Là một trong những người thích thú Truyện Tây Bắc, mê Tô Hoài nhưng Ma Văn Kháng đã tìm cách khám phá những vỉa quặng mới tận miền biên ải và có cách viết mới so với bậc đàn anh. Xông vào mảng truyện vụ án cũng vậy. Nhiều lý thú nhưng sao để kịp bước các nhà tiểu thuyết lừng danh thế giới như một vài tên tuổi; Conan Doyle (1859 - 1930), George Simenon (1903 - 1949), Agatha Cristie (1890 - 1946), James Hadley Chase (1906 - 1985)… Tất nhiên, truyện Tây khác, truyện Ta không như vậy. Lại như loại truyện hình sự thường được coi là “á văn chương”, chỉ để  mua vui, giải trí. Tuy nhiên Bóng đêm và Bến bờ lại là một giải đáp thuyết phục. Truyện hình sư chính là truyện thế sự, là chuyện cuộc đời, chuyện sư đời. Chống cái ác phải nhân danh cái thiện, diệt trừ cái xấu bằng cái đẹp lý tưởng, mỹ lệ. Người đứng trên tất cả phải là người anh hùng…

Trong khuynh hướng thế sự mới, Ma Văn Kháng đã góp phần phát hiện đề tài gia đình như tế bào của xã hội, với vai trò, vị trí đặc biệt. Đó là sân khấu cuộc đời thu nhỏ. Mùa lá rụng trong vườn là tác phẩm có giá trị như một khám phá mới Đời sống thường nhật phức tạp với những chuyển động, diễn biến trong thời cuộc, cũng thể hiện cuộc giao tranh, vật lộn âm thầm mà quyết liệt về ý thức, cảm quan, lối sống, phong cách hành xử.

Ma Văn Kháng đã mạnh dạn phát triển loại truyện  mang tư tưởng triết học, giàu yếu tố triết luận. Đó là tiểu thuyết luận đề mới, truyện ngắn luận đề mới. Khác với trước kia, nay luận đề như hạt nhân cấu trúc quy tụ toàn bộ phương tiện thể hiện nghê thuật. Triết luận đời sống xuyên suốt trong và qua các tác phẩm.

Đổi mới ngòi bút của mình là điều không hề dễ dàng chút nào, bởi đó vốn không phải là kỹ thuật, tiểu xảo, mà cốt lõi là tư duy, cũng chính là đổi mới tư tưởng nghệ thuật

Đời viết Ma Văn Kháng tới nay nhìn chung là thăng tiến. Tuy nhiên thực tỉnh là phải trải bao thử thách, bao thăng trầm, và qua đó lại thể hiện rõ cái bản lĩnh vững vàng, đức kiên nghị, quả cảm của nhà văn. Đã có những va đập, những luồng dư luận trái chiều một thời, chủ yếu là phải chống chọi với lối cảm thụ và phê bình giáo điều, áp đặt xã hội học dung tục, những quan niệm sáng tác đầy tính công thức, máy móc. Song vốn bản chất sống dung dị, bao dung, nhà văn không lấy làm điều nhiều sự cố, kể cả khi biết tác phẩm của mình bị in lậu, bị vi phạm bản quyền nhiều lần, nhưng vẫn tặc lưỡi dĩ hoà vi quý: “Thôi,… cho nó qua đi”... Để mọi chuyện qua đi, khỏi bận tâm buồn bực, đỡ mệt và đỡ mất thì giờ. Nhà văn thường tự an ủi như vậy.

Dấn thân, dám chịu va đập, thậm chí dám “mang thương tích” trong cái nghề có yếu tố “mạo hiểm”, nếu lỡ mồm, lỡ bút. Dĩ nhiên, để mong được “ra nụ ra hoa” như triết lý câu thơ của Chế Lan Viên thường lấy làm điều tự nhủ.

Tuổi đời ngả bóng, bệnh tật phập phù, nhà văn vẫn bất chấp mọi trở ngại khó khăn, vượt lên hoàn cảnh để tiếp tục dấn bước. Là một trong những ngọn cờ đổi mới văn học, nhà văn vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm. Ví như tự kể qua hai quyển tiểu thuyết gần đây: Bóng đêm và Bến bờ: “Khám phá thêm những địa hạt mới của nguồn văn chương muôn đời còn bí ẩn”. Ví như: “gia thêm vào chất liệu câu chuyện quan trọng là xúc cảm thẩm mỹ (...) chất trữ tình lãng mạn và niềm say mê lý tưởng cùng những yếu tố hiện đại của văn chương. Chẳng hạn, cái mặc cảm cô độc, những ám ảnh của tàng thức, sức nặng của tầm cao văn hoá, phần bí mật của đời sống tâm linh, và cơ duyên cùng cái khát vọng của libido, sức sống sexy trong khi xây dựng nhân vật...”. Thế là, tác phẩm với câu chuyện vụ án thường chỉ có tác dụng mua vui, thoả mãn trí tò mò: “hiện ra trong một tầm vóc văn chương mới lạ”.

Vào lứa tuổi xưa nay hiếm, giới văn nghệ thường lưu hành một nhiệm vụ rất vui vẻ và hứng thú là “hồi tuyển”. Tức là, viết hồi ký và làm tuyển tập. Tuy nhiên, ngoài tuyển tập sáng tác, Ma Văn Kháng còn chắt lọc để tuyển cả phần phê bình, tiểu luận như để gói trọn đóng góp của mình cho đời viết. Đó là một sự đóng góp có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn qua trải nghiệm đời sống văn nghệ. Nhà văn đã làm “xanh” lại, “xanh” thêm những lý luận dễ bị “xám xịt” vì không theo kịp thực tiễn đời sống, và nhanh chóng trở nên tụt hậu so với thời đại. Gần đây nhất, tập Nhà văn anh là ai? là một đóng góp như vậy. Trong nhiều trường hợp, nhà văn còn tự mình mổ xẻ, tự giãi bày, phân tích tác phẩm, ý đồ, tư tưởng, cảm hứng cá nhân, cũng là để minh chứng cho những lý luận hàn lâm kinh viện. Chính điều này đã tạo nên hứng thú cho người tiếp thu, nhất là thế hệ những người cầm bút sau này.

Vào tuổi 80, đã viết có đến hàng vạn trang, có tác phẩm để đời, con mắt tinh tường ấy vẫn nhìn thẳng vào sự thật trên đời, vẫn mở tầm nhìn sâu xa trong cõi tâm hồn con người. Bàn tay ấy vẫn thường ủ ấp, nâng niu cái đẹp, vun bồi cho nảy nở cái đẹp lý tưởng, để tiếp tục làm nên mình và tô điểm cho đời. Bởi như người xưa  nhắn gửi, và nhà văn đã tự nhủ: “Đã cầm bút là không thể nghỉ ngơi được nữa”. Có điều là nghĩ theo tâm nhưng viết tuỳ sức mà thôi!

 Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *