Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Bút ký: “Nhân duyên với người lính”

(Kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2011))

Lê Thị Bích Hồng - 19-12-2011 01:26:21 PM

VanVN.Net - Bạn bè đồng nghiệp, những nhà văn quen biết không ít lần hỏi “Bích Hồng có đi bộ đội ngày nào đâu mà chọn chủ đề sáng tác và viết bài nghiên cứu về người lính?”. Khi gặp tôi, anh Hữu Thỉnh thường nói “Người yêu thơ chống Mỹ và người lính đây rồi”.

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm mang đến cơ quan tặng tôi tập thơ “Thơ tuổi hai mươi” (in chung với anh Vũ Đình Văn) hồ hởi nói “Đồng đội Hoàng Nhuận Cầm bảo có Tiến sĩ Văn học, Vụ Phó Vụ Văn hóa – Văn nghệ mê người lính và viết nhiều về lính lắm. Mình đã mang theo sách và đĩa tặng Hồng từ hôm ra mắt tập sách của Lê Hoài Nam ở Sơn Tây. Nhưng hôm đó Hồng bận nên hôm nay mới mang đến được. Phim “Mùi cỏ cháy” hiện đang làm hậu kỳ ở Thái Lan, nếu kịp sẽ được chiếu Khai mạc Tuần phim chào mừng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 đấy”. Rồi mấy ngày sau đó, anh gọi điện khi tôi đang công tác ở Quảng Ninh “Hoàng Nhuận Cầm đang đứng trước cửa phòng làm việc của đồng chí đây. Thay mặt Đoàn làm phim Mùi cỏ cháy trân trọng mời Hồng và gia đình đến xem phim vào tối mùng 2/12”. Nhà thơ Nguyễn Hoa tặng tôi tập thơ “Máy bay đang bay và những bài thơ khác” với lời đề tặng trang trọng bằng nét chữ khá đẹp “Tặng nhà lý luận phê bình viết về người lính rất sâu sắc”. Là “nhà lý luận phê bình” như anh động viên, tôi chưa dám nhận. Còn viết về người lính. Vâng. Đó là một sự lựa chọn, một sự đam mê thực sự. Tôi đã, đang và sẽ tiếp tục với đề tài người lính. Sau mấy cuốn sách lý luận phê bình đã xuất bản, bản thảo tập truyện ngắn “Vệ đê trong đêm trăng” (nhân vật chính là người lính) của tôi đã hoàn thiện… chỉ chờ in. Người lính và tôi, hình như có mối nhân duyên?

TS Lê Thị Bích Hồng và con Đỗ Quang Thùy trên tàu HQ 957 ra Trường Sa

Khi đang là sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tôi được bầu làm “Chủ tịch Hội Hoa Phong Lan” (Hội dành cho những người yêu của lính). Cái tên đó được lấy từ ca từ “Như hoa phong lan chờ đợi-Mưa gió không phai tàn…” trong bài hát “Ngày mai anh lên đường” của nhạc sĩ Thanh Trúc. Hội Hoa Phong Lan thường nhóm họp vào những tối thứ 7 nhằm “xốc lại tinh thần” cho những cô gái đã trót yêu người lính. Những nữ sinh viên văn khoa chúng tôi phải “đối mặt” với những thử thách, với hoàn cảnh… rất dễ làm “nao núng tinh thần”. Sinh viên các khoa khác trêu đùa như có vẻ “hơi tị nạnh”: “Hình như đàn ông của cả thế giới này đổ về ký túc xá khoa Văn hết rồi thì phải”. Nhà A7 chúng tôi luôn sôi động “dập dìu tài tử giai nhân” vào mỗi tối thứ 7, Chủ nhật. Không riêng khoa Văn mới có thơ chép tay. Thường thì đứa nào cũng có vài ba cuốn. Riêng Hội Phong Lan còn có thêm cuốn “Người yêu của lính” chép thơ của sinh viên khóa trước, nhất là những bài thơ nói đúng tâm trạng những cô giáo trẻ yêu bộ đội:

                        Tấm bảng đen em vẽ những đường cong

                        Tấm bảng đêm anh vạch nên đường đạn

                        Vệt phấn trắng và vệt đường cháy sáng

                        Ở hai đầu trận địa đó em ơi

                                                (Cứ một giờ lại nghỉ 10 phút-Phạm Tiến Duật)

                        Pháo anh trên đồi cao

                        Nã vào đầu giặc Mỹ

                        Bục giảng dưới hầm sâu

                        Em cũng là chiến sĩ

                                                (Ngày và đêm-Bùi Công Minh)

                        Chiều hôm nay anh đang đi đâu về đâu

                        Có biết chăng em lên lớp lần đầu

                        Em gửi tình em trong từng lời giảng

                        Để nhắn với người em đã đợi từ lâu

                                                (Tâm sự cô giáo trẻ-Nguyễn Thị Mai)

Một vài người bạn của tôi vì “lập trường thiếu kiên định”, “lung lay”, “nghiêng ngả” trước sự “oanh tạc” và “tấn công như vũ bão” của các chàng sinh viên đến từ các trường Đại học Giao thông Vận Tải, Bách Khoa, Kiến trúc, Xây dựng... đã bị “khai trừ” khỏi Hội. Còn những “Hoa phong lan” như bọn tôi đã chờ người lính trở về kết duyên đôi lứa. Phạm Thị Loan gửi Thiệp hồng khi người lính trở về từ Lào, khi mới 20 tuổi. Bùi Thị Huệ “chống lệnh” để theo anh bộ đội về Nam (đơn vị anh Quý – chồng Huệ ở Campuchia). Tôi đã đợi người lính của tôi trở về từ biên giới Tây Nam và Cămpuchia sau cả năm không có lấy một dòng thư hồi âm. Và...hôn lễ được tiến hành khi tôi về nhận công tác tại trường Trung học phổ thông ở miền Đông Bắc của Tổ quốc...

Vốn là giáo viên dạy văn, dù phân phối chương trình trung học phổ thông dành cho văn học kháng chiến không nhiều, nhưng tôi vẫn cố gắng thu xếp thời gian cho học sinh có cái nhìn bao quát, cả nền văn học kháng chiến, thậm chí còn mở rộng đến văn học Nga – Xô viết. Tôi rất có hứng thú với chủ đề văn học kháng chiến và người lính để “truyền lửa” cho học sinh từ mỗi bài giảng. Cái đẹp ấy kết tinh ở hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ – anh giải phóng quân, người lính - người anh hùng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Đó là vẻ đẹp chân chất của những người nông dân khoác áo lính với tâm hồn lãng mạn, rộng mở trước thiên nhiên, đất trời để phát hiện ra hình ảnh lãng mạn “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ "Đồng chí" (Chính Hữu); vẻ đẹp hào hoa, bi tráng của người lính ra đi từ Hà Nội qua bài thơ "Tây tiến" (Quang Dũng); khẩu khí cổ kính dứt áo ra đi vì nghĩa lớn trong bài thơ “Tống biệt hành” (Thâm Tâm); là “Những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi” được tôn vinh là những “Sao chiến thắng” (Chế Lan Viên); sự tàn khóc trong bom đạn, nét vui vẻ, lém lính đầy chất lính trong "Tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật; những vần thơ trước lúc hy sinh đã để lại “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân... Đó còn là “tuyên ngôn" của nghệ sĩ - chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hoá sống gần gũi nhân dân, chấp nhận mọi gian khổ qua “Đôi mắt" của Nam Cao; là tình yêu vượt qua đạn bom qua truyện ngắn đầy chất thơ của Nguyễn Minh Châu trong "Mảnh trăng cuối rừng"; là chất sử thi hoành tráng trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành... Tôi cho các em hiểu, nhiều khi nhà thơ phải góp máu cả một đời mình để cho những sản phẩm sáng tạo, như: “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ, “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân...

Khi bộ phim “Mẹ chồng tôi” (đạo diễn Khải Hưng) cùng 2 bộ phim Nga “Bài ca người lính” (đạo diễn Grigori Chukhrai), “Khi đàn sếu bay qua” (đạo diễn Kalatozov) phát trên Đài Truyền hình Việt Nam, tôi xem với sự xúc động thiêng liêng. Ám ảnh với hình tượng nghệ thuật đó, tôi đã ra đề làm văn có tính chất mở về đề tài người lính. Những học sinh của tôi - Thế hệ 7X, 8X đã cảm nhận về người lính rất đẹp, vừa dũng cảm lại vừa rất lãng mạn, trữ tình. Em Ôn Kiều Hiền - học sinh lớp 11 chuyên văn (tôi chủ nhiệm và dạy văn) đã viết hơn 20 trang bằng cảm nhận rất thấm thía, cảm động về người lính Việt Nam và Xô viết trong chiến tranh. Tôi đã đọc bài văn đó trước lớp. Cả lớp im lặng như nín thở để nuốt từng lời. Cả cô và trò đã rơi lệ. Có lẽ đó là kỷ niệm không thể quên trong cuộc đời nhà giáo. Tôi đã cho em điểm 10 và thậm chí nếu có thang điểm hơn 10, em vẫn xứng đáng nhận nó.

Bước vào con đường nghiên cứu khoa học, tôi như vẫn có duyên với anh bộ đội cụ Hồ và nền văn học chống Mỹ. Trong khi bạn bè tìm đến những đề tài “thời thượng” phần nhiều do giáo viên gợi ý thì tôi lại tự chọn cho mình đề tài bị nhiều người xem là “cũ”, chê là “thiếu chất thơ, thiếu rung động nội cảm, chỉ mạnh hô hào khẩu hiệu, có gì đâu mà thơ....”. Thầy hướng dẫn của tôi – nhà văn, PGS.TS- Trần Đăng Xuyền – Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn lúc đó, vốn là một cựu chiến binh Thành Cổ Quảng Trị “Gác bút nghiên lên đường chiến đấu” rất tôn trọng sự lựa chọn của tôi. Những năm tháng lăn lộn với trận mạc đã cho thầy nguồn tư liệu sinh động về chiến tranh và người lính. Thầy đã truyền cả cho tôi không khí những năm tháng cả đất nước ra trận “Tất cả hành quân, tất cả thành chiến sĩ” bằng trái tim đỏ máu và một lối tư duy khoa học sắc sảo. Tôi cảm nhận gợi ý của thầy như được chắt ra từ máu, từ nước mắt của một thời trận mạc vậy. Nhà giáo Nhân dân, nhà văn, PGS Nguyễn Văn Long chưa một ngày vào lính, nhưng thầy cảm nhận về tài anh bộ đội cụ Hồ với tầm nhìn, tư duy của một nhà nghiên cứu có nghề, dày dạn kinh nghiệm để hướng dẫn khiến tôi vô cùng cảm phục. Niềm đam mê nền văn học của một thời bão lửa hào hùng đã thôi thúc tôi tìm hiểu, gặp gỡ các nhà thơ đã có những đóng góp quan trọng tạo nên một hiện tượng đặc biệt, một diện mạo thơ thời kỳ này. Tôi đã gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam vào mùa thu năm 1998 để chuẩn bị tư liệu viết luận văn Thạc sĩ “Hình tượng người lính trong thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước”...

TS Lê Thị Bích Hồng và 10 bắn súng đạt loại giỏi

Biết tôi say sưa nghiên cứu thơ chống Mỹ và người lính, anh vui mừng, khuyến khích. Anh lý giải “Chính lịch sử oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã sản sinh ra văn học chống Mỹ cứu nước. Nhân vật anh đội viên vệ quốc đã trở thành anh chiến sĩ giải phóng. Cái mũ nan đã trở thành cái mũ tai bèo. Đó là cả một chặng đường liền khi lịch sử tư tưởng của nhân dân ta bước sang một chặng đường hoàn toàn mới, trước đó chưa hề có. Đó là sự thăng hoa kỳ diệu của cả dân tộc khi mục tiêu độc lập dân tộc hòa quyện với hoài bão XHCN. Nhân vật người chiến sĩ của thời đại Hồ Chí Minh trở thành nhân vật điển hình, nhân vật chói sáng không chỉ ở trong nước mà còn chói sáng trên phạm vi quốc tế. Nhân vật ấy đã trở thành nhân vật văn học của cả một thời kỳ lịch sử hiển hiện trong truyện ngắn, trong tiểu thuyết và đặc biệt là trong thơ”. Nhìn đề cương nghiên cứu, anh nói ngay “Em chọn đề tài không mấy“thời thượng”, cũng không nhiều lắm người quan tâm là một sự dũng cảm”. Tôi đã được anh động viên như thế. Bữa cơm anh mời cùng nhà thơ Trần Ninh Hồ gần trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam bổ trợ cho tôi rất nhiều kiến thức của thế hệ giáp trận thời chống Mỹ. Thỉnh thoảng gặp tôi ở Quỹ Mãi mãi tuổi hai mươi, không chỉ quan tâm, mà dường như anh còn sốt ruột, giục giã “Tăng tốc lên để bảo vệ luận án thơ chống Mỹ. Khi bảo vệ chính thức nhớ mời các nhà thơ chống Mỹ bọn anh…”.

Qua giới thiệu của anh và Lê Như Thủy-cô bạn thời sinh viên của tôi công tác ở Thư viện Quân đội, tôi đã được tiếp cận những nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học là người lính đã có nhiều đóng góp cho nền thơ chống Mỹ tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội - nhà số 4 Lý Nam Đế – “Đại bản doanh” tập hợp những nhà văn – chiến sĩ có tên tuổi, làm nên “thương hiệu” nền văn nghệ nước nhà. “Văn kỳ thanh”, nay tôi mới được “kiến kỳ hình” các nhà văn có tên tuổi. Đọc khá nhiều tác phẩm của nhà văn Nguyễn Trí Huân, Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhưng đến lúc đó tôi mới biết “dung nhan” tác giả “Chim én bay” (tiểu thuyết mang đến Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng năm 1985-1989 và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1990 cho anh). Tôi được gặp nhà lý luận phê bình Lê Thành Nghị, lúc đó là Phó Tổng biên tập Tạp chí và đồng thời là một nhà thơ. Nhưng trước đó, tôi đã gặp anh, nhưng là “gặp” trong thơ. Anh có bài thơ “Hát trong đêm Hội Lim” khá ấn tượng về quê ngoại tôi. Anh tặng tôi cuốn lý luận phê bình “Văn học sáng tạo và tiếp nhận” và hướng cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học. Anh Hồng Diệu thì đưa cho tôi một danh mục đầy đặn những tài liệu cần đọc. Anh Ngô Vĩnh Bình cung cấp cho nguồn tài liệu dồi dào, quan trọng liên quan đến đề tài người lính và nền thơ chống Mỹ. Nhà thơ Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu…truyền cho tôi chất lửa của thế hệ thơ giáp trận. Nhà văn Chu Thị Thơm – bạn đồng khoa Văn Sư phạm dẫn tôi tới “Góc sân và khoảng trời” của nhà thơ Trần Đăng Khoa ở phố Lý Nam Đế. Thầy Dương Viết Á giới thiệu tôi với tác giả “Tình em” Hồ Ngọc Sơn và nhạc sĩ Huy Du để lấy tư liệu nghiên cứu. Thế hệ nhà thơ chống Mỹ, như: Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm... với những trải nghiệm thực tế chiến trận, ý thức rất rõ vai trò, trách nhiệm vẻ vang và con đường đi, trực tiếp cầm bút viết về thế hệ mình bằng một “biên niên sử” bằng thơ trang trọng: “Không có sách chúng tôi làm ra sách-Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh). Các nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình đã cung cấp thêm cho tôi nguồn tư liệu, cách nhìn nhận đánh giá nền văn học cách mạng, trong đó có hình tượng nhân dân tập trung ở hình tượng người lính.

Yêu mến người lính, tôi đã đầu tư cho mình một “Thư viện” sách kha khá về họ, như: “Xung kích”, “Vỡ bờ”, “Vào lửa” (Nguyễn Đình Thi); “Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu” (Nguyên Ngọc-Nguyễn Trung Thành); “Thư nhà”, “Trên biển lớn”, “Chúng tôi ở Cồn Cỏ”, “Biển gọi” (Hồ Phương); “Cao điểm cuối cùng”, “Vùng trời” (Hữu Mai); “Một chuyện chép ở bệnh viện”, “Hòn Đất” (Bùi Đức Ái- Anh Đức); “Sống như anh” (Trần Đình Vân); “Người mẹ cầm súng” (Nguyễn Thi); “Trước giờ nổ súng”, “Bên kia biên giới”, “Mẫn và tôi” (Lê Khâm-Phan Tứ); “Người cầm súng”, “Mở rừng (Lê Lựu); “Dấu chân người lính”, “Mảnh trăng cuối rừng”, “Cỏ lau” (Nguyễn Minh Châu); “Mặt Cát”, “Năm 1975, họ đã sống như thế”, “Cao nguyên không xa xôi”, “Chim én bay” (Nguyễn Trí Huân); “Đất trắng” (Nguyễn Trọng Oánh)... Những tập thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Vũ Cao, Xuân Sách, Nam Hà, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Lê Anh Xuân, Lưu Trùng Dương, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Duy...cùng sách lý luận-phê bình văn học xếp ngăn nắp như một kho lưu trữ trong Thư viện.

Sau khi cuốn "Nhật kí Đặng Thùy Trâm" và “Mãi mãi tuổi hai mươi” ra đời, tôi đã trở thành một thành viên của Ngôi nhà Tuổi hai mươi do nhà thơ Phạm Tiến Duật làm Chủ tịch Hội đồng. Việc cơ quan khá bận, thường phải đi công tác, nhưng tôi vẫn thu xếp tham gia nhiều hoạt động với Quỹ Mãi mãi tuổi hai mươi, như: Cuộc thi “Viết tiếp hành trình tuổi hai mươi-Sống đẹp, sống có ích”; trao Giải thưởng “Mãi mãi tuổi Hai mươi”; Lễ khánh thành Nhà văn hoá Nguyễn Văn Thạc; Tuần Nghĩa tình Đồng đội; thăm Chiến trường xưa, viếng Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn, Đường 9, Thành cổ Quảng Trị; dâng hoa Tượng đài Thanh niên xung phong Truông Bồn, thả hoa trên sông Thạch Hãn; thăm, tặng quà Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm; dự lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Buôn Ma Thuột - nơi diễn ra trận đánh mở màn của chiến dịch Tây Nguyên; giao lưu với chiến sĩ Đồn biên phòng Sóc Hà (Cao Bằng)...

Tôi có may mắn đi cùng gia đình anh Nguyễn Văn Thạc và chị Đặng Thùy Trâm trong nhiều hoạt động tri ân. Nơi anh Thạc, chị Trâm ngã xuống, nhân dân địa phương đã chôn cất, chăm sóc mộ phần cẩn thận để chờ ngày đất nước thống nhất gia đình đưa các anh, chị về với Đất Mẹ. Trong những chuyến đi ấy, sẽ không bao giờ tôi có thể quên hành trình “Một thời hoa lửa” cùng các cựu chiến binh Thành Cổ Quảng Trị. Xe đi qua khúc cua gấp ở Hà Tĩnh tưởng như bị lật. Trong xe, chỉ có tôi và vợ chồng anh Nguyễn Văn Cúc - em trai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc là “dân sự” tỏ sự sợ hãi, hoảng hốt. Các cựu chiến binh trong xe rất bình tĩnh ứng phó. Trưởng xe như một Tư lệnh trưởng yêu cầu mọi người chấp hành mệnh lệnh, không được rời vị trí...Theo điều lệnh, dù bị rệ xuống vệ đường, nhưng xe vẫn giữ được “độ nghiêng chuẩn”, từng chiến sĩ ra khỏi xe an toàn...Và đích hướng tới vẫn là Thành cổ với khúc tráng ca bất tử vào Mùa hè đỏ lửa.

Rồi lần đi cùng mẹ Doãn Ngọc Trâm về tặng quà Trạm xá Đặng Thùy Trâm, tôi hiểu thêm những điều kỳ diệu trong tâm hồn người lính yêu nước và nhân hậu. Ký ức về cô con gái anh hùng luôn sống động trong tâm hồn mẹ. Trên suốt chặng đường, mẹ dường như không biết say, không biết mệt. Cái tên Thùy (tên thường gọi thân mật của chị Đặng Thùy Trâm) được mẹ nhắc nhiều lần như thể chị đang quấn quýt đâu đây bên mẹ và cô em gái Hiền Trâm trong hành trình về Đức Phổ (Quảng Ngãi). Cách Trạm xá Đặng Thùy Trâm khoảng 20 km, xe chúng tôi phải dừng lại vì vi phạm tốc độ. Trong khi anh lái xe đang tìm giấy tờ xuất trình, người cảnh sát giao thông tiến lại xe, nhìn thấy mẹ chị Thùy Trâm... và anh ấy đã cúi đầu chào kính cẩn...Xe tiếp tục hành trình, giữ đúng tốc độ. Đích hướng tới là trạm xá Đặng Thùy Trâm.

Mùa “bà già đi biển” năm nay, tôi đã cùng 99 thành viên tham gia Đoàn công tác số 9, đi trong thời gian 9 ngày đêm trên biển, đặt chân đến 9 đảo, nhà giàn DK1 và đi trên tàu HQ 957 thuộc Hải đội 5, Lữ đoàn M25  – tiền thân của đoàn tàu không số anh hùng. Chuyến đi ra đảo cho tôi thêm những chất liệu sâu sắc về người lính. Trước khi đi, anh Nguyễn Bắc Son – Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (khi đó là Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Trung ương) đã đưa đoàn đến thắp hương tại Phủ Chủ tịch. Tôi là người được giao nhiệm vụ giữ chân nhang (xin trên bàn thờ Bác) đến dâng tại Đền thờ Bác Hồ tại đảo Trường Sa Lớn. Đêm giao lưu giữa biển trời lộng gió. Trăng rằm tháng 3 soi tỏ lung linh từng đóa  hoa bàng vuông, từng cây phong ba chắn bão. Trăng tròn vành vạnh rơi xuống biển ánh bạc tầng tầng san hô… Bài hát “Gần lắm Trường Sa” nghe giữa Trường Sa thật xúc động, thiêng liêng:

                        “Mỗi cánh thư về từ đảo xa

                        Anh thường nói rằng Trường Sa xa lắm em ơi

                        Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ

                        Bên đồng đội yêu thương chỉ có loài chim biển

                        Sóng vỗ ngàn trùng quanh đảo trúc san hô

                        Trường Sa ơi...Đảo xa là nhà…

Đêm hát trên đảo ấm áp tình quân dân. Những chiến sĩ  hải quân, những hộ dân trên đảo Trường Sa và đoàn công tác “Nối vòng tay lớn”. Mỗi người mang theo những ấn tượng khó quên. Tôi mang tình quan họ đến Trường Sa và trở về đất liền với bao tình nhung nhớ. Tôi đã có 2 người con chiến sĩ ở Trường Sa sau chuyến công tác ấy. Nguyễn Bá Vinh, chiến sĩ ở nhà giàn DK1 và Đỗ Quang Thùy-ngành trưởng Hàng hải trên Tàu 957 đã nhận tôi là mẹ. Tháng 7 vừa rồi, Vinh được về thăm nhà. Con mang về cho mẹ ruốc cá hì hụi làm những ngày ở biển. Biết con nơi đầu sóng ngọn gió, quen với biển đảo, nhưng chưa một lần biết Hà Nội, tôi đã đón vợ chồng Vinh và cậu con trai 2 tuổi ra thăm Thủ đô. Dù rất bận công việc, nhưng tôi và cháu Xuân Thành – con trai tôi đã bố trí thời gian đưa gia đình Vinh đến thăm Lăng Bác, Chùa Một Cột, Bảo tàng Hồ Chí Minh, ra Hồ Hoàn Kiếm nhìn Tháp rùa soi bóng, đến Phủ Tây Hồ ăn bánh tôm, ăn bún ốc cổ... Con trai tôi trở thành hướng dẫn viên cho gia đình Vinh những ngày ở Hà Nội. Lần đầu vào thăm Lăng Bác, vợ chồng Vinh vô cùng xúc động. Cảm mến người lính biển nhân hậu, cháu Xuân Thành đã viết kịch bản phóng sự “Người lính Trường Sa lần đầu ra Hà Nội” phát sóng trên VTV6 được khán giả truyền hình, nhất là các chiến sĩ hải quân đón nhận thiêng liêng. Trở về Nam, Vinh nghẹn ngào nói với mẹ con tôi “Con lại tiếp tục nhận nhiệm vụ ở đảo, nhà giàn. Không biết bao giờ mới có dịp trở lại Hà Nội, nhưng con sẽ mang theo hình ảnhThủ đô, tình cảm ấp áp của đất liền, của mẹ ra Trường Sa...và con sẽ kể cho đồng đội con về mẹ”. Con trả phép vào đúng ngày biển động. Nhìn thấy nhà giàn DK12 rồi mà xuồng không chịu nổi sóng lớn, không áp được vào nhà giàn. Con phải lật lộn với sóng, bơi men theo dây. Mặc áo phao rồi mà sóng ôm trùm nhấn xuống, trồi lên nhiều lần. Sức vóc cường tráng, quen với sóng biển đã hơn 13 năm, thế mà con mất cả tuần mới đi lại, ăn uống bình thường. Biết biển Đông có áp thấp nhiệt đới, tôi gọi điện ngay ra hỏi thăm con và cả nhà giàn DK12. Vinh giấu mẹ việc cả nhà cùng chống chọi, vật lộn với bão tố dữ dội bảo vệ biển “Bông sen biển”. Khi đang viết bài này, tôi gọi điện đúng lúc Vinh và anh em nhà giàn DK1 đang chuẩn bị phương án ứng phó vì tối nay cơn bão đến Trường Sa. Cả đêm tôi lo lắng cho con và anh em ngoài đó. Sáng nay (18-12), gọi sớm cho con, có tín hiệu, tôi rất mừng. Thế là con và đồng đội đã chống chọi với bão suốt đêm qua. Nhưng vẫn chưa biết cụ thể thế nào. Lúc sau, nhận được tin nhắn của con “Mẹ ơi, con cám ơn mẹ đã lo cho con và đồng đội của con. Chúng con là lính biển mà, chống chọi với sóng gió có nguy hiểm nhưng quen rồi...Anh em chúng con luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tất cả còn phụ thuộc vào Ông Trời thôi mẹ ạ. Gia đình yên tâm mẹ nhé, con chào mẹ”. Tôi lo lắng, nhưng chỉ biết đợi. Rồi con nhắn tin nhắn cho tôi lúc 07.39.35 “Chúng con vừa họp phương án...Sóng gió đang mạnh dần lên...Con đang chuẩn bị...Gia đình yên tâm...Chúng con là người lính mà...Con cám ơn mẹ và gia đình”. Tôi gọi điện ngay hỏi thăm, động viên con dâu tôi và cháu Vinh Quang đang sống ở Vũng Tàu... Còn Quang Thùy – những ngày cùng tàu 957 bảo vệ tàu địa chấn Bình Minh 02 con phải lùi lại ngày cưới. Tôi vẫn thường gọi điện hỏi thăm con và chiến sĩ trên tàu. Tháng 9 vừa rồi, ngày con về Nam Định cưới vợ, tôi đi công tác phía Nam không về dự được. Trước ngày con trở về đơn vị, tôi và những chiến sĩ Trường Sa đã  đón 2 vợ chồng ở Hà Nội trong không khí ấm áp, thân tình. Con vừa gọi điện báo tin cho tôi tàu vẫn đang sửa, ngày 13/01/2012, con được đơn vị cho về phép thăm gia đình và báo cho mẹ tin vui “Vợ con đang có em bé”...

TS Lê Thị Bích Hồng được Phó Hiệu trưởng gắn hoa mừng bắn đạn thật loại giỏi

Vì sao tôi yêu và mến mộ người lính đến vậy? Với tôi, người lính đã tạo cho tôi những ấn tượng sâu sắc ấy... bắt đầu từ cha mẹ tôi. Họ đều là những người lính, là bộ đội Cụ Hồ. Tôi là con đầu lòng, là “trái kết” tình yêu giữa cha– người chiến sĩ quân y và mẹ –cô thanh niên xung phong, người con gái Kinh Bắc. Cha mẹ tôi gặp nhau tại quân y viện ở Hà Nội. Tôi quen với cuộc đời chiến sĩ từ trong trứng nước. Tôi vẫn nhớ lời ba nói: “Ngày cưng còn trong bụng mẹ, ba vẫn thường hô: nghiêm, nghỉ, một hai! Một hai! Lúc đó cưng của ba đạp mẹ dữ quá hề!”. Lớn lên, tôi trở thành “cô lính nhỏ” được rong ruổi theo ba ở một số đơn vị, nơi ba đóng quân, quen với khẩu lệnh, giờ giấc, ăn uống như một người lính. Bắt chước các chú bộ đội, tôi cầm đũa hai đầu, nhưng lúng túng để cơm vãi hết. Theo các chú bộ đội ra suối tát cá, tôi hét vang khi các chú cá bỏ vào nồi quân dụng mà vẫn giẫy đành đạch chỉ chực vượt vũ môn. Tôi thích nhất được theo ba vào rừng. Một thế giới thật sinh động: Chim hót véo von, côn trùng kêu rỉ rả, hoa muống rồng thơm ngát, hoa trứng gà trắng hồng toả mùi hương kỳ diệu, quả bứa chua loét, quả dom ngọt chát... Chúng tôi đã lớn lên trong tình yêu ấy. Ba sống giản dị, nhân hậu, nhường nhịn anh em từng phong lương khô, hộp thịt, cân đường... Bị thương ở mặt trận Huế từ cuộc kháng chiến chống Pháp, ba lại tiếp tục cuộc trường chinh chống Mỹ khi trên mình vẫn mang đầy thương tích. Mảnh đạn vẫn sâu xoáy trong da thịt nhức buốt, hành hạ ba mỗi khi trái gió, trở trời. Ba đã điều dưỡng ở nhiều trại thương binh. Mẹ bảo đế giày, dép ba đi bao giờ cũng mòn vẹt một bên. Ba thường đi tập tễnh… Sống giữa lòng miền Bắc, ước nguyện trở về về Huế đau đáu khôn nguôi. Ba yêu Huế đến quặn lòng. Nhưng năm 1968, ba đành phải lỗi hẹn với Huế, với dòng Hương hoa bắp lay nhè nhẹ...

Chiến tranh, những người đàn ông ra trận, để lại những khoảng trống, trong lòng những người mẹ, người vợ ở hậu phương. Với tôi, ba luôn có vị trí đặc biệt quan trọng, như một điểm tựa sức mạnh. Tôi ao ước được hãnh diện khoe cha như bạn bè. Là mong có cha hiện hữu chứ không phải trong giấc mơ để rồi thêm một lần thất vọng. Tôi đã từng bị bắt nạt chỉ vì… không có cha. Không hiểu sao có lần tôi đã khoe “Khi nào hết còi ủ máy bay Mỹ là ba tớ sẽ về”. Nói vậy để tăng “liều kháng sinh”, trợ giúp tinh thần cốt để mạnh mẽ, cảm giác được bảo vệ và chẳng sợ bị bắt nạt. Các bạn không tin “Nó làm đếch gì có bố”. Thằng Đông – người cùng khu tập thể kéo cả lũ bạn vào nhà, chỉ ảnh ba trên nóc tủ. Tôi òa khóc. Không thể huyễn hoặc được. Cái chết luôn rất thật. Mẹ về, tôi nín bặt, giấu nhẹm, sợ mẹ buồn trước suy nghĩ thơ ngây của con trẻ. Từ ấy, đứa trẻ như tôi bỗng nhiên trầm lặng “tự may áo trước tuổi mình”. Cảm nhận rõ lắm giọt nước mắt nóng bỏng khi mẹ ôm chị em tôi vào lòng. Tôi rất sợ mẹ khóc, sợ giọng khấn ba mỗi lúc bom gào, đạn réo, mỗi lúc con ốm, con đau. Sợ cả những khi mẹ rầu ruột rối gan, không an…Nhưng có lẽ sợ nhất là mỗi khi mẹ nén tiếng thở dài. Nó cứ buốt đau, tưng tức khi thấy mẹ hoang hoải trong căn nhà tuềnh toàng lạc gió. Mẹ giấu những nỗi niềm ẩn ức. Đọc lén nhật ký mới biết lòng mẹ ngổn ngang. Tôi òa khóc và ân hận khi chạm vào dòng chữ “Chiến tranh đã cướp đi người mà tôi thương yêu nhất. Tôi và các con tôi chỉ sống trong tình thương của tập thể. Nhưng thực ra về tình cảm tôi thấy rất cô đơn”. Tôi giữ không cho mẹ đi bước nữa ở tuổi 30, dù ba đã có lời giối giăng cho mẹ: “nuôi dạy 3 con… nên người. Em ... trẻ…tìm người...tốt... làm… bố …con... Sau này...nhớ về Huế…ở...”. Ba đã sống, ra đi giản dị, giàu lòng nhân hậu, đức hy sinh như thế đó.

Năm 18 tuổi, trước khi nhập trường Đại học Sư phạm, tôi đã cùng ông ngoại đưa hài cốt ba về quê ngoại ở Yên Phong (Bắc Ninh). Tôi vẫn nhớ cụ Lâu làm thủ tục bốc mộ, tắm rửa cho cha bằng nước thơm, gói hài cốt ba cẩn thận nhiều lần nilông. Nước mắt tràn nhoà, mặn chát, tôi cắn chặt môi đến bật máu. Trước mắt, ba hiện lên loang loáng giữa khoảng mây hồng… Tôi lặng lẽ mang hài cốt cha, không dám dời. Tôi định không nghỉ ngơi, nhưng khi thấy ông thở không ra hơi, từng cơn ho rũ rượi, quặn từng hồi như muốn trào khỏi lồng ngực, tôi mới vào quán ăn. Tôi vẫn ôm khư khư bọc nilông. Ông đỡ bọc nilong từ tay tôi, đặt lên bàn. Tôi xúc bát cơm, chan canh hến mời ba. Miếng cơm nghẹn cứng trong cổ, nước mắt chan lẫn cơm... Về đến Từ Sơn, quê đang gần lại. Tôi chở ba cùng gió. Bọc nilông trĩu nặng yêu thương. Hai bên đường từ Tam Sơn đến cầu Nét, sang Nghiêm Xá nối tiếp những đầm sen. Những bông sen trắng, sen hồng vươn lên khỏi mặt đầm ngát hương. Tôi đi rất chậm trong hương sen quê ngoại. Vẫn con đường năm xưa ba chở tôi ngủ gật, thì hôm nay rơm vàng thơm trải thảm đón ba về. Tôi dắt xe qua thảm rơm, sợ đường xóc làm ba đau. Rơm ngày mùa thơm ngọt. Bỗng một trận xoáy lốc, từng nắm cát thốc tháo rát ràn rạt. Xe chở ba đứt xích. Mưa xối xả. Tôi tháo bọc nilông, ôm chặt ba. Người tôi như có lửa. Tôi có thể ướt nhưng không để ba ướt, ba lạnh. Tôi hứng trọn luồng gió, cơn mưa để ba khô ráo về nhà mới…

Ôm hài cốt cha vào lòng mà ngẫm ngợi bao điều: Những khó khăn nối tiếp khó khăn, những tổn thất không dễ kết toán nổi, biết bao gia đình như thế, bao đứa trẻ côi cút không cha, bao người vợ lặng ngắm bóng mình để hóa thành những “vọng phu ngàn đời”... Trong tôi, ba vẫn vậy, trọn vẹn thương yêu bên cạnh mẹ con tôi, quanh quất cùng quê hương đất nước.

Thật không khó để trả lời câu hỏi vì sao tôi yêu người lính đến vậy. Vâng. Giản dị thôi vì tôi là con người lính. Trong tôi, dòng máu người lính vẫn đang lưu chảy trong huyết quản.

Tháng 12/2011

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nguyễn Mạnh Cầm: Nhà ngoại giao của thời đổi mới và hội nhập

VanVN.Net - 85 tuổi đời, gần 70 năm theo Cách mạng, cuộc đời của Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tiêu biểu cho một thế ...