Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Nhà văn, nhà báo Phan Khôi với công việc dịch thuật

Thúy Toàn - 25-06-2012 02:53:35 PM

VanVN.Net - Nói đến Phan Khôi, nhiều người nghĩ ngay đến Phan Khôi nhà báo, nhà văn, nhà lý luận nổi tiếng ngay từ trước cách mạng tháng Tám 1945. Rồi nữa là Phan Khôi nhà dịch thuật văn học tiếng Hán nói chung và đặc biệt là đối với tác phẩm của Lỗ Tấn.

Nhà văn, nhà báo Phan Khôi

Nhờ có những công trình sưu tập sách báo đồ sộ, khá đầy đủ, có hệ thống khoa học, trong đó phải kể ngay đến nhiều công trình của nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, đã được xuất bản trong những năm gần đây(1), riêng bản thân tôi thật sự biết ơn vì nhờ đó mới có điều kiện tìm hiểu sâu và thấy ra dần sự đóng góp của nhà văn, nhà báo lão thành Phan Khôi cho văn hóa, văn học nước nhà trong giai đoạn đầu. Đặc biệt là đóng góp của ông trong lĩnh vực dịch thuật. Thật sự phong phú, sâu sắc, bổ ích…

Phan Khôi không những dịch Lỗ Tấn một cách thành công, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử dịch thuật Việt Nam, thể hiện qua cuốn sách Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, ra mắt bạn đọc cách đây đã 5 năm(2), mà ông còn dịch thơ văn của nhiều tác giả khác của văn học Trung Quốc, cổ điển cũng như hiện đại, như: trích dịch từ Tùy Viên thi thoại của Viên Mai (1716-1797), trong đó có thơ của Cổ Đại Tự, một bậc di lão hồi quốc sơ, Ngô Giả Nhân, Hồ Trung Giám, Châu Tử (đời Tống), lẫn văn thơ của các cây bút Trung Hoa mới như thơ Hồ Chính (Dưới cây hòe), văn Mã Phong (truyện Thù làng), Lưu Bạch Vũ (tiểu thuyết Ánh lửa đằng trước)… Ông tham gia dịch cả Kinh Thánh cho đạo Tin lành, cả truyện ngắn của nhà văn Nga Macxim Gorki (1868-1931), cả công trình nghiên cứu khoa học xã hội – tác phẩm Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học của Iôxif Stalin (1879-1953). Ông còn quan tâm đến công việc dịch thuật nói chung trong đời sống văn hóa văn học nước nhà: Ông phát biểu về quan niệm dịch thuật, ông đưa ra những ý kiến cụ thể về những yêu cầu phương pháp dịch thuật, góp ý cụ thể cho những bản dịch cụ thể. Bản thân ông cũng tham gia công việc dịch thuật, và thành tựu dịch thuật trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp của ông đã được đánh giá cao, được nhận giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952(3)

Ngay từ đầu năm 1930, trên tờ báo Trung lập ra ở Sài Gòn, nhà báo Phan Khôi đã sốt sắng cổ vũ cho công việc dịch thuật. Nhận được Thánh kinh báo số 1 do mục sư W. C. Cadman, chủ nhiệm báo ấy gửi tặng, ông đã mừng rỡ, viết bài giới thiệu cho độc giả của Phụ nữ tân văn(4). Sau đó ít lâu cũng trên Phụ nữ tân văn, Phan Khôi lại viết tiếp một bài nhân đọc tờ in làm mẫu bộ sách Sự tích Phật Thích ca Như lai. Nhan đề bài viết này đã cho ta thấy một quan điểm về dịch thuật hết sức rõ ràng, đúng đắn của tác giả. Phan Khôi viết:

“Trong thời kỳ sáng tạo quốc văn này, đại khái có ba cái công việc mà chúng ta nên làm. Một là tìm tòi những nguyên tắc của tiếng nói, của cách sắp đặt tiếng nói cho thành văn, hầu sau này nhơn đó làm ra sách mẹo bằng tiếng An Nam, cho kẻ học có khuôn phép kiểu mẫu mà noi theo. Hai là dùng tiếng nói mà viết sách; như vậy, một là để tập cho quốc ngữ được dần dần thành văn, hai là để cống hiến mọi sự tri thức cho đồng bào. Ba là dịch sách các nước, hoặc sách xưa, hoặc sách nay để thâu thái các học thuyết của thế giới và cùng làm cho rừng văn của ta được thêm nhiều tư liệu.

Ba điều đó đều quan trọng như nhau, nhưng ở đây tác giả “hẵng để riêng hai điều trên ra mà nói nội điều thứ ba là điều dịch sách”.

“Nói riêng về sự dịch sách, thì tôi tưởng ở nước ta ngày nay, bất cứ sách gì, nếu có thể dịch được thì nên dịch hết, vì sách gì bằng tiếng ta cũng chưa có. Bởi vậy chẳng luận các sách về khoa học đời nay, kinh truyện cùng sử ký của Tầu ngày xưa ta đều nên dịch ra mà cho đến kinh Phật, kinh Đạo, cũng nên dịch.

Ta nếu không dịch được những sách ấy, thì chính các nhà tông giáo họ dịch ra ta cũng nên tán thành và hoan nghinh.

Bởi vậy, mới rồi tôi có phê bình Thánh kinh báo trong Phụ nữ tân văn và cũng giới thiệu cho đồng bào mà nói là một thứ báo nên đọc lắm. Thật, về sự học của nước ta, khác nào như gặp mất mùa đói kém mấy lâu nay, cho nên bất luận là lúa, là khoai, là đậu, ta đều nên kiếm giống mà trồng cho nhiều, cho rõ nhiều.

Kinh của đạo Cơ đốc còn như vậy, huống chi Phật giáo, là một đạo ta đã theo hàng ngàn năm nay, mà bằng tiếng ta chẳng có một thứ kinh thứ sách nào hết, thì há chẳng là sự đáng lạ, đáng lo sao?

Gần đây có một vài nhà sư hữu tâm, đem kinh Phật dịch ra quốc ngữ, ấy là sự chúng tôi rất lấy làm hoan nghênh lắm. Năm ngoái, sư Thiện Chiếu (1898-1974) có ra cuốn sách Phật học tổng yếu chính tôi đã phê bình và giới thiệu trong báo Thần chung cũng là vì lòng sốt sắng ấy” (5)

Hai năm sau, năm 1932, trên báo Phụ nữ tân văn, Phan Khôi nhắc lại quan điểm trên trong bài nói với thanh niên trí thức tân học. Ông kêu gọi:

“…Mỗi một vị thanh niên tân học hãy đem vài phần mười cái học của mình đã lấy ở ngoại quốc mà truyền bá cho dân chúng, để nâng cao cái tầm tri thức của họ lên.” Ông lấy kinh nghiệm của người Tàu, người Nhật:

“Đại phàm muốn thâu thái một cái văn hóa khác để bồi bổ cho cái văn hóa sẵn có của mình, thì một điều cần yếu trước hết là phải biết rõ cái văn hóa sẵn có ấy ra sao, phải ngấm ngầm trong cái văn hóa ấy, phải lấy chính mình dính dấp với nó mới được. Nói ví mà nghe, cũng như ta muốn sửa sang một cái nhà ấy, chỗ nào nên để, chỗ nào nên thay. Người Nhật, người Tầu họ hiểu cái lẽ đó, cho nên trước khi bọn thanh niên xuất dương họ đã lấy. Giáo dục bổn quốc mà tạo cho mỗi người một cái tư cách đúng đắn rồi.

Nói riêng về nước Tầu. Ở trong nước từ ấu học nhân lên cho đến đại học, đều dậy bằng chữ bổn quốc, từ trung học trở lên mới có dậy tiếng ngoại quốc, nhưng chỉ là phần phụ. Địa dư, sử ký, phong tục, chế độ của nước mình từ xưa đến nay ra sao, đại khái một trò cao đẳng tiểu học trở lên đều biết hết, và lên đến trung học, đại học lại còn phải hiểu nhiều hơn. Thường thường là một người đã tốt nghiệp đại học ở nước nhà mới xuất dương du học. Trong khi họ học được điều gì ở ngoại quốc, có thể đem mà so sánh với điều đã học ở bổn quốc, mà thấy hơn thua lợi hại thế nào, chớ không phải học tới đâu biết tới đó mà cho rằng đủ.

Bọn ấy, khi về nước rồi, làm gì thì làm, nhưng cốt nhất là họ không quên sự dịch sách và làm sách. Việc dịch thuật của họ là việc làm có ý thức, cho nên cũng thâu được nhiều hiệu quả rất lớn.

Có người cho rằng, nguyên người Tầu thuở xưa chỉ chịu kém người Tây về sự đóng tầu đúc súng, chớ còn về văn học triết học thì họ khinh đứt đi. Ấy là một sự lầm. Từ Nghiêm Phục dịch sách triết lý của người Anh, người Pháp ra, Lâm Thử (người này không du học, không biết chữ Tây, nhờ kẻ khác cắt nghĩa cho mà dịch) dịch những sách văn học ra, đến đó mới mở mắt thấy rõ sự tình trong thế giới và địa vị nước mình hơn hồi trước. Nội một cái thấy rõ được như vậy đã là quan hệ cho nước Tầu chẳng vừa, cho nên công trạng của hai người ấy cũng chẳng vừa.”(6)

Đến năm 1936, trong bài Việc học ở xứ ta nên lấy tiếng gì làm gốc? Phan Khôi chủ trương lấy tiếng Việt làm gốc. Và việc dịch sách cũng lại được đặt ra. Và ông lại lấy gương nước Nhật, nước Tầu: “Theo ý chúng tôi, tiếng Tầu, tiếng Nhật có thể dùng để dịch các sách người Âu thì tiếng ta cũng có thể được dùng trong việc ấy. Một ban tu thủ sẽ định các quy chế để dịch các tiếng chuyên môn về khoa học, về triết học và sẽ lần lượt biên dịch hết thẩy các sách giáo khoa cần dùng.”(7)

Tuy nhiên, trong việc dịch Phan Khôi kiên trì một nguyên tắc: “Bất kỳ dịch sách gì, tôi đều muốn dịch cho đúng nguyên văn nguyên ý. Hễ sai với nguyên văn nguyên ý là tôi sẽ đứng một bên nhắc chừng cho.” Ông khen tờ in mẫu bản dịch Sự tích Phật Thích ca Như lai thật đẹp và có nhiều bức vẽ rất có công phu. Nhưng ông thẳng thắn nhận xét bản dịch. Không biết tên người dịch ông chỉ trích người chủ trương công trình này: “… ông Ngô (Trung Tín) học chữ Hán tinh thông và lại có tư tưởng mới, thêm nhà sẵn tiền, thế thì sao ông làm việc này là việc lớn mà hình như không được thận trọng, tôi rất lấy làm lạ, rất lấy làm tiếc.” “Trong tờ mẫu ấy có in một bài trong sách ra, chừng như muốn cho người mua coi kiểu thì phải. In nửa phần chữ Hán, nửa phần quốc ngữ. Nhờ đó mà tôi đem đối chiếu nhau, thấy nhiều chỗ sai lầm quá. Nói ‘quá’ đây, nghĩa là chỉ trong có mấy hàng mà đã sai bộn chỗ, thì nói ‘quá’ cũng không hại.”

Ông lấy thí dụ: “Như một bài kệ có tám câu mà chỉ dịch trúng có hai câu đầu mà thôi, còn thì dịch khác hết. Khác hết, tức là sai. Cứ theo bản dịch thì nghe cũng có nghĩa chớ không đến nỗi bậy, …sai với nghĩa của nguyên văn.

Lại còn có chỗ bỏ đứt đi, không dịch. Như chữ ‘Tu-di’, tiếng Phạn, tên núi, tức là núi Hymalaya, nghĩa đen là diệu và cao. Trong bài kệ có câu ‘nhi chỉ Tu-di đẳng’, nghĩa là ‘và cùng núi Hymalaya bằng nhau’, vậy mà không có trong bản dịch. Còn câu ‘Bất nghi cung kính ngã’, chữ ‘ngã’ ấy là ‘chư thiên hiện hình’ mà tự xưng, bảo thế gian ‘chớ nên cung kính ta’ mà chỉ nên cung kính Phật. Vậy mà lại dịch ‘Ai không cung kính ta’, thật là sai đi đâu xa lơ xa lắc!

Câu rốt hết, bản dịch nói: ‘Nếu ai dám kiêu mạn, tai nạn sẽ tới nơi’, thì rõ thật là dịch bậy, đến nỗi làm sai ý Phật, bởi vì Phật không hề hăm dọa ai bao giờ. Nguyên văn có hề nói như vậy đâu, nói rằng: ‘Nhược nhân khứ kiêu mạn, sẽ sanh ra trên trời, chúng nghiệm cõi niết bàn’, thì có chữ gì là chữ tai nạn?

Tôi viết bài này có ý tỏ cho ông Ngô biết rằng việc ông làm đó là việc nên làm, chắc ông tốn tiền cũng lắm, lẽ đáng kiếm người dịch cho đúng thì sách mới có giá trị. Còn như cả bộ sách đều như bài ấy hết thì thà ông đừng in thì hơn.”(8)

Trước đó, trong bài Giới thiệu và phê bình Thánh kinh báo, ông đã hết lời khen: “Văn chương của Thánh kinh báo còn có phần giúp ích cho văn quốc ngữ ta trong lúc mới lập nền. Bởi vì văn chương của Thánh kinh báo đặt một cách thật rõ, thật gọn mà lại dễ hiểu nữa, rất hiệp với cái lối bình dân văn học”. “Thánh kinh báo lại có một cái giá trị đáng quý nữa là viết chữ đúng. Cả 32 trương chữ đặc mà tôi thấy chỉ sai một chữ thôi, là chữ trau mà viết ra trao ở trương 22, cột 2. Lại còn cách chấm câu cũng thật là hẳn hoi, không chỗ chỉ trích được. Đến cách in cũng đáng phục, đã đẹp lại kỳ, đâu ra đó lắm, không có làm tạp nạp bèm nhèm như lối in của phần nhiều báo chí ta”. Tuy nhiên, Phan Khôi vẫn thẳng thắn góp ý: “Tôi vẫn biết liệt vị biên tập Thanh kinh báo rất là cẩn thận, chẳng phải cậy ở trí khôn mình mà cậy ở Thánh kinh soi dẫn cho. Dẫu vậy, cũng còn có chỗ làm cho tôi thấy là hồ nghi, phải chất vấn mới được.

Trương 27, về mục “Bài học ngày Chúa nhựt” cột 2, có đoạn như vầy:

“Thế gian không phải tự nhiên mà có. Nhưng phải nhờ có một quyền phép lớn lắm mà đã dựng nên trời đất, và quyền phép lớn ấy tức là Chúa trời”.

Đó, câu cuối cùng đó phải làm cho tôi hồ nghi. Tôi thấy như Kinh thánh nói quyền phép lớn ấy ra từ Đức Chúa Trời, chứ không phải tức là Đức Chúa Trời.

Nếu nơi quyền phép lớn ấy tức là Đức Chúa Trời, thì thành ra Đức Chúa Trời với quyền phép lớn chỉ là một mà thôi. Kinh thánh có khi nào nói như vậy? Theo Kinh thánh thì Đức Chúa Trời có hình, cho nên “ngài mới nặn người ta theo như hình của ngài”. Chẳng những như vậy thôi. Đức Chúa Trời lại có khi vui, khi buồn, khi nổi ghen, khi phát cơn giận và thanh nộ nữa: thế mà bảo rằng quyền phép lớn tức là ngài, sao được? Quyền phép dầu lớn cho mấy đi nữa cũng chỉ là một danh từ trừu tượng (un non abstrait) mà thôi, khi nào có sự vui, buồn, ghen, giận được?”

“Một câu đó - riết lại chữ chỉ hai chữ tức là – tuy không chỉ mà quan hệ lắm. Thấy câu ấy có thể hồ nghi cả bộ Kinh thánh, vì gặp những chỗ khác, người ta có thể hỏi rằng: Đức Chúa Trời chi là quyền phép, sao lại có hình tượng, có đủ thứ tánh tình như người ta.”(9)

Lại nữa, nhớ lại ngay từ năm 1929, Phan Khôi đã lên tiếng mở đầu công việc phê bình sự dịch thuật từ bài viết trên báo “Thần chung”: Cùng sư Thiện Chiếu bàn về lối dịch sách hay là phê bình lời dịch của sách “Phật học tổng yếu”. Phan Khôi đánh giá cao: “Tôi đọc qua sách Phật học tổng yếu thì thấy cái trình độ học chữ Hán của sư Thiện Chiếu thật đã cao. Tiếc tôi không có được thấy cả nguyên văn mà đối chiếu thử, song đọc nơi bản dịch cũng có thể biết được đại khái là đúng. Lần trước tôi thấy một số tờ báo quốc ngữ có bài của ông chi đó dịch bài Dĩ Phật pháp phê bình xã hội chủ nghĩa của Thái Hư pháp sư, tôi đọc mà chẳng hiểu chi cả, đến khi tìm được nguyên văn dò lại thì té ra ông ấy dịch sai bét hết, không nói hàm hồ, sai cũng đến sáu phần mười. Song lần này tôi đọc của Sư thì hiểu đâu ra đó, nói vậy tôi dám chắc là đại khái đúng với nguyên văn”. Nhưng Phan Khôi vẫn thẳng thắn chỉ ra “những chỗ thấy trong sách Phật học tổng yếu, mà theo ý tôi, tôi cho cái lối dịch như vậy là chưa được, vậy dẫn ra đây thương xác cùng Sư và cùng chất chánh cùng bạn đọc”. Và ông lần lượt nêu ra bẩy điểm nhận xét và đưa ra ý kiến bàn luận có lý lẽ phân minh: về sự dùng chữ Hán không cần thiết, về sự chua nguyên văn tiếng Phạn một cách thừa, về sự dịch những thành ngữ của chữ Hán chưa chuẩn, về sự xê xít nguyên văn, về sự theo đúng từng chữ của nguyên văn, về sự đọc chữa cho đúng và về sự chấm câu cho đúng”. Một sự góp ý tỉ mỉ, cặn kẽ, chu đáo. Cuối cùng ông còn ngỏ lời nhã nhặn: “Bạch Sư Thiện Chiếu, trong bài của tôi đây nếu có chỗ nào sai lầm thì xin Sư đính chánh lại. Tôi sẵn lòng thọ giáo. Một điều tôi dám tim chắc là Sư không có nhơn bài này mà giận tôi. Phật không hề giận ai”.(10)

Quả thực Sư Thiện Chiếu không giận, mà còn bầy tỏ lòng biết ơn tác giả Phan Khôi: “Quyển Phật học tổng yếu vừa xuất bản, được hân hạnh có nhà học giả thương đến mà phê bình, phê bình để bổ thêm những điều khuyết điểm của tôi. Thưa tiên sanh, rất đỗi một nhà nho học còn biết nghe ai bảo mình có lỗi thì mừng, huống chi một người biết chút ít Phật học như tôi quyết lo rửa sạch sân si nghiệp chướng đặng ra khỏi biển trầm luân. Cho nên tôi đọc suốt ba bài phê bình, chẳng những đối với tiên sanh sẵn có một mối mỹ cảm, mà lại lạc quan đối với Phật học giới sau này. Từ đây những nhà học giả đã lưu tâm đến Phật học rồi! Từ đây những sách về Phật giáo nhảm nhí hoang đường không dám ra đời nữa”.(11)

Tất nhiên, trong sự phê bình bản dịch thuật của Phan Khôi không khỏi có những suy nghĩ chủ quan, cũng như trong thực hành dịch thuật của bản thân ông cũng vậy, không tránh khỏi những điều mà người khác thấy chưa được hoặc khiên cưỡng. Chẳng hạn tổng kết các công trình dịch thuật của Phan Khôi trong những năm kháng chiến, Hội Văn nghệ Việt Nam đã trao giải nhì năm 1951-1952 cho toàn bộ các bản dịch của ông, kèm theo những nhận xét, bên cạnh những lời khen, cũng có những nhận xét ngược lại, chỉ ra thiếu sót. Ngay trong giới nhà văn dịch giả cũng như giới bạn đọc người ta cũng truyền tụng những chữ dịch quá “độc đáo”, quá khác người của ông. Chẳng hạn, đã có chữ “khoai tây” quen dùng hàng ngày, Phan Khôi lại đưa ra từ “khoai nhạc ngựa” trong bản dịch của mình. Cái từ original ông lại đề nghị dịch là cổ quái, chứ không theo mọi người dùng chữ độc đáo. Tuy nhiên, đó là tiểu tiết. Còn tựu trung Phan Khôi suốt bao năm được nể trọng bởi khen chê, bao giờ ông cũng thành tâm, vì cái sự tiến bộ chung và bao giờ cũng đầy đủ lý lẽ. Chẳng hạn để có một khuôn mẫu bình thơ nâng chất lượng thơ ca ta, ông đã “muốn dịch thi thoại của Tầu ra quốc ngữ”. Ông biết việc ấy không dễ. Ông viết: “Tôi biết sự muốn ấy là vô lý. Bởi vì, thi ta và thi Tầu tuy có hơi giống nhau, nhưng có một đều khác nhất là những điển cố dùng trong thi có nhiều cái không thể dịch ra được. Huống chi, dịch thi thoại thì phải dịch luôn những bài thơ trong thi thoại ra. Mà việc dịch thơ là một việc tất cả ai cũng phải kêu là khó, thì mình làm thế nào được? Thế nhưng vì tôi nghĩ cho thi thoại là thứ sách ích cho nghề làm thơ lắm, nên từng đã đánh bạo mà làm”.12 Là một nhà nho, Phan Khôi chỉ là ông tú, nhưng các bậc khoa bảng lừng danh cũng phải nể trọng, có người khen ông chẳng kém gì tiến sĩ. Ông lại là một tấm gương kiên trì tự rèn luyện, từ một nhà nho tự mày mò học hỏi trở thành nhà Tây học uyên bác, không chỉ giỏi chữ Hán, mà thông thạo cả tiếng Pháp, tiếng Anh. Tiếng nói của Phan Khôi trên văn đàn và trên báo chí Việt Nam đã có sức nặng lớn trên khắp cả nước. Riêng trong lĩnh vực dịch thuật của nước nhà, như ta thấy, tiếng nói của ông cũng được tôn trọng chẳng khác gì tiếng nói của quan “ngự sử thơ văn”(13) trên báo chí một thời.

 ------------------------------------------------------

(1) Chỉ xin nêu một số công trình chính có liên quan đến Phan Khôi: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, NXB. Đà Nẵng và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông – Tây [TTVHNNĐT], 2005, Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930, NXB. Hội Nhà văn – TTVHNNĐT, 2006, Sông Hương (từ 1/8/1936 đến 27/3/1937), NXB. Lao động – TTVHNNĐT, 2009.

(2) Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, NXB HNV, 2007.

(3) Tạp chí Văn nghệ, số đặc biệt Giải thưởng Văn nghệ 1951-1952, số 39 tháng Hai 1953.

(4) Giới thiệu và phê bình Thánh kinh báo, Phan Khôi, Phụ nữ tân văn, Sài Gòn số 74 (16/10/1930).

(5) Sự dịch sách ở nước ta ngày nay là rất cần và rất quan hệ, Phan Khôi, Trung lập, Sài Gòn, số 6292 (7/11/1930).

(6) Kẻ thanh niên tân học nước ta muốn giúp ích cho Tổ quốc phải làm thế nào, Phan Khôi, Phụ nữ tân văn, bộ 4, số 172, ngày 13/10/1932, tr. 5. Theo Thanh Lãng , 13 năm tranh luận Văn học, T. 3, NXB VH, 1995, tr. 177-180.

(7) Sông Hương, số 9 ra ngày 26/9/1936.

(8) Sự dịch sách ở nước ta ngày nay là sự rất cần và rất quan hệ, Phan Khôi, Trung lập, Sài Gòn, số 6292 (7/11/1930).

(9) Như trên, Trung lập, Sài Gòn, số 6292 (7/11/1930).

(10) Thần chung, Sài Gòn số 279-283 (từ 24/12/1929 đến 30/12/1929) trích theo Lại Nguyên Ân, Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929, tr. 276-288.

(11) Như trên, tr. 212-293.

(12) Phan Khôi, Chương dân thi thoại, NXB. Đà Nẵng, 1998, tr. 144.

(13) Mục “Ngự sử văn đàn” được ký tên “Ngự sử” trên các báo Phụ nữ tân văn, Sông Hương…

 

(Nguồn: Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/2012)

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Các tin mới hơn

Nhân vật  

Người đi về phía ánh trăng

VanVN.Net - Nhà thơ Lò Ngân Sủn là một thi nhân Việt Nam xuất sắc, tác giả của 14 tập thơ, 2 tập truyện ký, 10 tiểu luận nổi tiếng và hàng loạt bài thơ được phổ nhạc rộng rãi. Mãi ...