Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

NSND Sỹ Tiến, một “dị nhân” vô song của sân khấu Việt – Kỳ 2

(Nhân 100 năm cải lương Việt Nam)

Vi Thùy Linh - 15-06-2012 10:18:11 AM

VanVN.Net - Kép Kim lấy nghệ danh Sỹ Tiến, vừa khổ luyện nghề diễn viên, vừa chăm tích nạp kiến thức văn chương, sân khấu, Pháp văn tự học. Hành trình bôn ba quyết chí chưa từng có ấy, đã khiến ông được lưu danh. Ông là nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử sân khấu phía Bắc diễn xuyên Việt khắp 3 miền. Ông gặp gỡ, giao du, diễn cũng những đào kép nổi tiếng nhất, nhịp cầu của các đoàn Trung, Nam khi họ ra Bắc.

Những vở diễn lừng lẫy thuở vàng son

NSƯT Khánh Hợi (bìa phải) đang hoá trang cho chồng – NSND Sỹ Tiến (vai Chu Du). Kế bên là NSƯT Kim Xuân vai Tiểu Kiều (vợ Chu Du), NSƯT Mộng Dần (vai Lưu Bị, gắn râu) - ảnh do tác giả bài viết cung cấp

Những tinh hoa, vốn nghề ông thu nạp, không chỉ ứng dụng cho chính những vai diễn của ông, mà  viết lại, để làm thầy từ rất sớm. Khi 23 tuổi, ông đã là thầy tuồng ( đạo diễn) có tiếng và là thầy dạy của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng mấy thế hệ sau này. Sỹ Tiến, đóng góp, thúc đẩy hành trình SKCL. Theo GS Hoàng Chương: “Có thể coi NSND Sỹ Tiến là ông tổ CL Bắc, nâng cao nó, làm thăng hoa nó. Và đến nay, chưa nghệ sĩ cải lương nào đạt độ toàn năng như ông, đỉnh cao ở mọi phương diện” Sỹ Tiến được là một yếu nhân, chứng nhân của tiến trình phát triển sân khấu HN. Đẳng cấp nghề khiến tên tuổi ông toả sáng cả nước, bạn nghề lừng danh nhất đều nể phục ông. Đoàn Phùng Há, Kim Thoa, Kim Ngọc từ Sài Gòn ra HN, về Hải Dương, Hải Phòng diễn, nghệ sĩ duy nhất của HN được mời nhập đoàn, du diễn cùng với tư cách ngôi sao, duy nhất là Sỹ Tiến. Đẹp trai, giỏi nghề, diễn hay, vũ đạo giỏi, sự có mặt của Sỹ Tiến hốt bạc cho các đoàn và đổi lại sự “hốt bạc” ấy, là máu và nước mắt thực sự ông phải trả.

Mỗi đoàn đều có tiết mục đinh để hút khách. Vai kép “đinh” những năm tháng ấy, không ai khác do Sỹ Tiến đảm nhận, 19 tuổi ông đóng Ngũ Tử Tư, lão tướng già, những màn vũ bộ điệu luyện, ca hay, khuôn mặt tuấn tú, da trắng, mũi thẳng, môi kẻ chỉ mắt đa tình mơ màng ... kép Kim mê hoặc vô số khán giả nữ. Ông tung hoành các rạp các tỉnh với hàng chục vai diễn đỉnh cao, nhưng không “tung hoành dạn dày tình trường”, bao sức lực chỉ dồn cho SK. Hở được chút thời gian là ngồi viết. Suốt 30 năm, bằng nhiều cống hiến, Sỹ Tiến đã góp phần chủ lực nuôi sống nhiều đoàn, ban, gánh hát. Đó cũng là thời kỳ hoàng kim của SK bằng nhiều vai diễn, KB, đạt độ mẫu mực, tiên phong.

Hiện nay, nhiều nghệ sĩ lớn tuổi đã qua đời. Các rạp hát không còn hoặc thay đổi. Trên thế giới, người ta vẫn coi nghệ sĩ sân khấu chịu thử thách và tay nghề cao hơn điện ảnh. Điện ảnh, có thể quay nhiều đúp, đạo diễn chọn một đúp ưng ý nhất rồi dựng vào phim. Song SK, nếu không đạt, lập tức bị người xem phản ứng, thất vọng, thậm chí mất uy tín, đổ vỡ “cháy vở”.

Sự nghiệp diễn xuất và những vở CL do NSND Sỹ Tiến viết, dàn dựng, chỉ còn được lưu trong các bức ảnh, các bài báo, cuốn sách về sân khấu, mà không phổ cập được đại chúng và được lưu lại bằng các bộ phim. Những truyền tụng từ lòng ngưỡng mộ, kính nể của các bạn diễn, học trò, báo giới cho đến nay, là sự thán phục hiếm thấy, đạt độ thống nhất cao. Nắm vững các bài bản CL, Sỹ Tiến còn dày công tìm hiểu nguồn gốc hát bộ qua nhiều phong cách, lối hát. Sống ở phố Đào Duy Từ, Hà thành, ông bôn ba tới tận đền thờ Đào Duy Từ ở phủ Hoài Nhơn, Bình Định. Tìm hiểu gì, ông cũng lặn lội tới tận nơi gốc. Diễn ở Sài Gòn, các tỉnh Nam Bộ, đưa đoàn sang Phnom Pênh, thông thạo đờn ca tài tử, hát chặp, lại rành cả kinh kịch, hý kịch TQ, chơi thành thạo các nhạc cụ dân tộc và cả guitar. Nhiều DV giỏi nghề nhưng phông văn hoá, năng lực hạn chế, không thể sáng tác, viết giáo trình được. Thành danh từ nghề, Sỹ Tiến viết không chỉ từ kinh nghiệm mà bằng kiến thức sâu rộng. Chất văn học trong tác phẩm của ông cùng độ dày am tường về lịch sử sân khấu VN và Trung Hoa, đã khiến văn học kịch của Sỹ Tiến đến tầm kinh điển. Ông là người đầu tiên đưa quốc sử lên SK, thay vì các đoàn chỉ diễn tích Tàu. Những vở diễn Mỵ Châu – Trọng Thuỷ,  Hồng đài liệt phụ mở màn cho sự nghiệp tác giả của ông. Rạp Olympia (51 Hàng Da, Hồng Hà ngày nay) đã đánh dấu vở Huyền Trân công chúa ra mắt 7/8/1941. Năm 1945, cũng tại đây, vở Trưng Vương khởi nghĩa diễn nhiều suất được khán giả hoan nghênh. Viết về Trần Hưng Đạo, Phạm Hồng Thái, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phúng, Khởi nghĩa Đô Lương, Lê Tuấn, Ngọc trai đỏ (về Nguyễn Đức Cảnh), Hội sóng Bạch Đằng ... từ các nhân vật lịch sử xa xưa đến sau này, đều nhằm khơi dậy lòng yêu nước khi nước nhà bị giặc Pháp xâm chiếm.

Học giả, sử gia kiêm phê bình Nguyễn Văn Tố và Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã viết bài khen ngợi, càng thúc đẩy Sỹ Tiến soạn tuồng Quốc sử VN, đưa các nhân vật anh hùng hào kiệt lần đầu lên sân khấu.

Rạp Chuông Vàng 72 Hàng Bạc - trụ sở Nhà hát Cải lương HN bây giờ, là dấu ấn một thời vang bóng làm mưa làm gió của cặp vợ chống Sỹ Tiến – Khánh Hợi. Bà là nghệ sĩ nữ hiếm có, thành danh bằng các vai nam võ trong các vở của ông: Lã Bố, Trọng Thuỷ, Đinh Văn Tả (vở Mạc Tuyết Lan). Ông là thầy của bà, đặc biệt rất nghiêm khắc. Sân khấu, với Sỹ Tiến, là nghiệp, đạo là thánh đường. Dù tâm tư, sức khoẻ thế nào bất luận gì, đã lên SK là phải tập trung cho nhân vật, ông rất bực khi DV không thuộc lời cử chỉ, vũ đạo thiếu nhuần nhuyễn. Nghệ sĩ cống hiến hết mình thì khán giả phải có văn hoá thưởng thức. Người xem hát thường là tầng lớp giàu có, trung và thượng lưu, lại có cả Tây, đầm. Có một ông xỏ guốc vào rạp leo lên gác, bước mạnh rồi đi ra đi vào. Đang tập trung cho vở diễn, ông Sỹ Tiến đuổi theo vị khán giả kia: “Nếu không muốn xem, mời ông cứ ra ngoài tự nhiên. Còn nếu xem, ông vui lòng cho tôi mượn đôi guốc” - NSƯT Tiêu Lang vừa kể vừa cười nghiêng ngả.

Những năm 30 thế kỷ trước, sân khấu HN bị “nhiễu”, èo uột vì nhiều đoàn dùng “tuồng cương”  (không kịch bản) do thiếu vở, thiếu tác giả. Sỹ Tiến là cứu tinh, các vở của ông đã vực dậy nhiều đoàn hát có kịch mục sáng đèn: Cô gái giặt sa (về Tây Thi), Giọt lệ tỳ bà, Vụ án đốt chồng, Lã Bố hý Điêu Thuyền, Thế lực kim tiền, Huyền Linh động, Rượu mật đắng, Tráng sĩ giai nhân, Tiếng đàn bên sóng, Bùn lầy nước đọng (từ tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố), Hai mươi vạn một ông chồng...

Sỹ Tiến chỉ có một lần đi xe đạp: trong sân khấu xiếc. Ở Huế, khi là chú bé 10 tuổi, theo gánh xiếc hòng kiếm chỗ dung thân trước lúc vượt Hải Vân quan vào Nam. Ông chủ dữ tợn đánh khi bé Kim tập bị ngã xe đạp. Rồi bắt chú phải chui vào bông sen giả, tiết mục “Hoa sen biết nói”. Đám du côn ở Huế ghét đoàn, trút giận, bắn súng cao su vào trán Kim, máu chảy đầy mặt, hoà nước mắt mà không được khóc, vẫn phải làm trò giữa “hoa sen”, dù khán giả đã kêu ầm lên. Cả đời ông toàn cuốc bộ hoặc người khác chở, vì không biết đạp xe ông đã cuốc bộ khắp các nẻo đường du diễn, cuốc bộ khắp Hà Nội phát hành báo Cứu quốc, người tuyên truyền hăng hái tích cực cho Cách mạng được đồng chí Trần Huy Liệu tin cậy là. Chính Sỹ Tiến đem quả nổ vào Nhà hát Lớn Hà Nội đặt dưới ghế Bảo Đại. May cho hắn hôm đó đã không đến (!). Trong bài tựa in ở cuốn Những mảnh tình nghệ sĩ tái bản (15.200 cuốn, NXB TP HCM, 5/1986), GS Hoàng Như Mai đã nhắc một ý đặc thù về bạn mình: “Sỹ Tiến viết không những đúng, còn đủ, sinh động và hấp dẫn về SK Hà Nội, Việt Nam trước và sau Cách mạng, nhưng ông lại “thiếu trung thực” khi không nhắc đến vai trò của mình”. Suốt thời kỳ chống Pháp, ông đã nhiều lần cho tuyên truyền viên “thoát ẩn thoắt hiện” trên SK Chuông Vàng,  khi vở đang diễn, để tuyên truyền cách mạng ông đã dẫn các nghệ sĩ đoàn Tố Như và một số ban, gánh ra vùng tự do Thường Tín, vận động họ không theo chủ bỏ vào Nam, chờ ngày Thủ đô giải phóng trở về. Cùng tác giả Phạm Ngọc Khôi, ông lập Kim Khôi ca kịch đoàn, Quốc Hoa ca kịch đoàn, đào tạo toàn đoàn. Hết mình đào tạo, truyền nghề, ông là người thầy của những DV thế hệ vàng - nghệ sĩ trụ cột của CL miền Bắc: Bích Được, Tuấn Sửu, Mộng Dần, Lệ Thanh, Sỹ Hùng, Bích Thuận, Tường Vi, Lữ Nhàn, Vân Thái. Dấu ấn SK in vào cuộc đời ông Chủ tịch Hội Ái hữu nghệ sĩ 1952, ông có người con trai sinh đúng năm này, đặt tên Ái Hữu.

Năm 1954, Sỹ Tiến là Liên đoàn trưởng Liên đoàn ca kịch Thủ đô (tương đương Chủ tịch Hội SK HN ngày nay), ông là uỷ viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT VN, uỷ viên Uỷ ban đoàn kết Á - Phi.

Trau dồi kiến thức trở nên một bậc thầy uyên bác, Sỹ Tiến bởi tinh thần chịu học không ngừng, luôn khám phá trải nghiệm. Dù khó mấy, ông cũng quyết làm đã định. Sỹ Tiến đã gặp vua hề Charlot khi nghệ sĩ Charlie Charlin cùng vợ hưởng tuần trăng mật Thượng Hải, ghé qua Hà Nội, ở khách sạn Métropole. Chất hài trong các vở Sỹ Tiến viết, luôn lấp lánh trí tuệ, không bao giờ chỉ là cười, hề.

Người anh trai - kép Ngân tài danh, vì tai nạn nghề mà chết sớm khi 31 tuổi, cũng đã từng đóng phim Kim Vân Kiều. Sự trùng hợp, cay đắng hay duyên phận đẩy đưa, khiến ông, bằng tôn chỉ làm sân khấu yêu nước, đã đưa kiệt tác Kiều lên sân khấu. Lịch sử văn học ghi nhận học giả Phạm Quỳnh là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và Kiều đưa lên sân khấu là bởi Sỹ Tiến soạn giả và dàn dựng ... Sau 1954, nghệ sĩ Kim Chung và chồng là bầu Long vào Sài Gòn sống lập 7 đoàn Kim Chung trong đó. Em ruột nghệ sĩ Kim Chung là Tiêu Lang và vợ đào Kim Xuân nổi tiếng xinh đẹp hát hay, làm thành đôi đào - kép nức tiếng. Sỹ Tiến viết vở Kiều 3 màn 9 cảnh (NXB Văn nghệ giải phóng đã in 7000 cuốn năm 1976),  toàn bộ lời thoại là thơ ông sáng tác, dựa theo tích truyện Kiều, tạo đất diễn khiến các nghệ sĩ tham gia có những vai để đời: Tiêu Lang vai Kim Trọng, Kim Xuân vai Kiều, Bích Được (Hoạn Thư), Khánh Hợi (Tú Bà), Tuấn Sửu (Từ Hải), Châu Thuận (Mã Giám Sinh) đạt đỉnh cao nghiệp diễn qua vai này. Có người chỉ có một “đỉnh”,  người có “nhiều đỉnh”. Vở Kiều công diễn 1962 tạo chấn động lớn trong đời sống HN. Vở này sau diễn Sài Gòn, còn Mạc Tuyết Lan được nghệ sĩ Kim Chung dàn dựng ở Paris (Pháp) được bà con kiều bào rất hoan nghênh. Từ căn nhà lụp xụp ở ngõ 43 Hàng Bè, bên những người đang làm hàng ăn, giặt giũ, cãi vã, trẻ con khóc inh ỏi, Sỹ Tiến ngồi viết bên trên cái bàn tre chỉ vừa cuốn vở, áo rách sờn vai. Khi có tiếng tăm, ông vẫn nghèo, vì các đoàn gánh, thấy ông rộng lượng, cả nể, cứ lấy vở diễn rồi trả nhuận bút thấp, có khi quỵt luôn. Những vai vở diễn đỉnh cao của ông, vào thời chưa có các hội diễn, không thể tính  số huy chương, cũng chẳng có điều kiện quay tư liệu lại làm “giáo khoa thư” bằng hình ảnh cho thế hệ sau này, đó là thiệt thòi và đáng tiếc lớn cho chính ông, cho lớp đồng nghiệp và khán giả thế hệ sau.

-----------------------------------------------

Kỳ 1

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...