Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

NSND Sỹ Tiến, một “dị nhân” vô song của sân khấu Việt - Kỳ 1

(Nhân 100 năm cải lương Việt Nam)

Vi Thùy Linh - 14-06-2012 02:46:50 PM

VanVN.Net - Sáng 19/5/2012, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, diễn ra lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT. Nghệ sĩ duy nhất của giới cải lương miền Bắc cho đến nay, vinh dự được tặng giải thưởng danh giá bậc nhất Việt Nam này, là NSND Sỹ Tiến (1916 - 1982), một nghệ sĩ toàn năng hiếm có của nền sân khấu VN thế kỷ 20, người được giới nghề ghi nhận tài năng xuất chúng và nhân cách lớn. 

Cuộc dấn thân định mệnh

 

NSND Sỹ Tiến

Đón nhận giải thưởng từ Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, là người vợ ông – NSƯT Khánh Hợi (90 tuổi), hiện là nữ nghệ sĩ cải lương cao tuổi nhất VN. Do con cái sống ở nước ngoài và TP HCM, việc làm hồ sơ chậm, nên sau khi qua đời 30 năm, NSND Sỹ Tiến cánh chim đầu đàn của cải lương (CL)  miền Bắc mới được tôn vinh – niềm vinh dự không chỉ riêng cho gia đình, dòng họ ông, mà còn với nghệ thuật CL Bắc. Tầm vóc lỗi lạc và những tác phẩm đỉnh cao của ông, bao năm qua vẫn được truyền tụng, đề cao qua những đánh giá đầy trân trọng của các học giả, nghệ sĩ nổi tiếng các thế hệ. Sau khi qua đời, hai lần ông được tôn vinh, và đều là người đầu tiên của CL Bắc: danh hiệu NSND đợt 1 (1984), và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 4 (2012).

NSND Doãn Hoàng Giang – Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội NSSK VN nhấn mạnh: “Tôi rất yêu mến và kính trọng ông Sỹ Tiến, vừa tài, vừa đẹp, một vẻ đẹp văn minh. CL là nghệ thuật kịch hát xuất xứ từ miền Nam, mà Sỹ Tiến lại nhiều lần dẫn đoàn vào Nam – cái nôi CL. Đúng như ông mong muốn, miền Bắc chính là “chiếc xe nôi” đưa CL tiến lên. Tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, ông đã làm nghiêng ngả cả nghệ sĩ lẫn khán giả CL và được gọi là “ông hoàng CL đất Bắc”. Nhiều kỷ lục của Sỹ Tiến đến nay chưa ai vượt được”. Niềm vui lớn cuối đời của lão nghệ Khánh Hợi là sự tưởng thưởng xứng đáng cống hiến lớn lao của NSND Sỹ Tiến với CL nói riêng, nền sân khấu (SK) VN nói chung. Từ Paris, bà đã bay một mình về Hà Nội hôm 25/3/2012, để chờ đón ngày trọng đại. Tuổi cửu thập vẫn minh mẫn, đôi mắt bà ánh lên hạnh phúc mà lệ chứa chan.

SK là cuộc sống của vợ chồng bà. Họ vào nghề từ năm 8 tuổi và tận lực đúng nghĩa “sinh nghề tử nghiệp”. Sỹ Tiến đã xả thân trọn đời vì sân khấu bằng tình yêu, đam mê mãnh liệt từ tài năng kiệt xuất, đa dạng nhiều lĩnh vực. GS, Anh hùng lao động Vũ Khiêu, người bạn thân cùng tuổi NSND Sỹ Tiến nhận định: “Sỹ Tiến - sống chết vì sân khấu bằng tài năng toàn diện, nhân cách cao cả, là nghệ sỹ lớn trong các nghệ sĩ lớn nhất, ngôi sao sáng trong những ngôi sao sáng nhất của nền SK VN thế kỷ 20”.

Năm 1957, Sỹ Tiến tham gia sáng lập Hội Nhà văn VN, Hội Nghệ sĩ sân khấu VN khi đã có mấy chục năm tuổi nghề trên cả hai lĩnh vực. Thiên khiếu cho ông sự say mê, can đảm theo nghiệp dẫu bao nhọc nhằn khổ ải. Cậu bé Nguyễn Xuân Kim (tên thật của ông) rất nhỏ đã thuộc, ngâm thơ Phan Bội Châu theo ông nội, 8 tuổi lên SK, 14 tuổi viết được những bài ca đầu tiên, theo đúng niêm luật bài bản; 18 tuổi đã lẫy lừng SK ba miền, có cuộc đời như một vở diễn, một bộ phim li kỳ, một  tiểu thuyết chương hồi hấp dẫn, gay cấn. Và khi nhân vật chính đã từ trần 30 năm, xem kịch bản (KB) của ông, tất cả vẫn còn sống động, gây dư chấn.

Đọc tác phẩm Sỹ Tiến, nghe những nghệ sĩ cùng thời, học trò Sỹ Tiến kể lại, tôi như “nhập đồng” tình yêu sân khấu (SK) của bậc tài hoa.

Chưa một hồi ký nào khiến tôi bị cuốn hút và xúc động đến thế. Đích thực những trang viết chưng cất từ mồ hôi, nước mắt, tim não tác giả, làm sống dậy cả một “triều đại” kịch hát thăng hoa hơn nửa thế kỷ, có danh vọng lẫn đắng cay, hạnh phúc và mất mát.

Vì quá mức khiêm tốn, ông đã giấu mình khi viết về hành trình SK trong vai trò của một kép chính, soạn giả danh tiếng được các bạn, đoàn, gánh 3 miền nể trọng, là chứng nhân của các sự kiện SK mà ông tham gia, như một nhân tố chủ lực. Độc giả tinh vẫn nhận ra nỗi thiết tha ham cống hiến, tình nghĩa, sự liên tài của ông với đồng nghiệp trong Nam ngoài Bắc. GS. TS. NSND Nguyễn Đình Quang cảm khái: “Ngay từ lúc thiếu niên, trước CMTT tôi đã thấy vị thế của Sỹ Tiến khi đến các rạp hát. Đồng nghiệp và khán giả đều ngưỡng mộ ông. Ông là cầu nối của CL hai miền khi đưa CL ra Bắc, có công rất lớn xây dựng nền CL phía Bắc, nâng cao nó; cũng là nghệ sĩ duy nhất trong thời đại của mình kết nối được các tài danh cả nước và được cả nước biết đến ở lĩnh vực CL”.

Lịch sử CL miền Bắc và lịch sử cải lương VN có một “sử gia” ghi lại, đó là Sỹ Tiến, cuộc đời ông như “biên niên sử” của sân khấu HN. Tầm vóc hàng chục công trình nghiên cứu các lĩnh vực tuồng, chèo, cải lương, giáo trình hướng dẫn sử dụng nhạc cụ dân tộc của SK kịch hát dân tộc (đã in sách hoặc lưu trữ tại Viện Nghệ thuật SK) khiến “ Sỹ Tiến là người đầu tiên nghiên cứu và viết giáo khoa thư - nền tảng của Cải lương học”, như PGS Tất Thắng viết về ông.

Nhiều công trình nghiên cứu sau này đều từ nền tảng tinh hoa ấy, mà tác giả hoàn toàn tự học, không học hàm học vị. Tác phẩm của Sỹ Tiến là khối lượng đồ sộ gần 100 KB. Nhìn danh mục tác phẩm của ông, tôi kinh ngạc không hiểu nổi bộ não sáng tạo ấy đã viết khi nào lúc nào khi đời sống qua nhiều nổi nênh, gánh vác vai trò lãnh đạo, lo từ chuyên môn tới cơm áo cho anh em, gây dựng tiếng tăm cho các đoàn, mà chẳng màng danh lợi. Cả đời ông không hề lĩnh lương, không biết giữ tiền, chịu nhiều thua thiệt. Vợ ông lại tính nghệ sĩ hào phóng, nên ông bà chẳng thể giàu, với đàn con 8 đứa và những đứa cháu nghèo phải nuôi, với thân thể gày bị bệnh phổi, gan từ 1962 rồi đau dạ dày nặng - bệnh nghề nghiệp sau những vai diễn để đời. Trả giá ư? Nếu coi đó là trả giá, thì Sỹ Tiến đã dám trả rồi. Trong sự “hoang tưởng” của tuổi trẻ, giả dụ có sống gấp đôi số mệnh mình, tôi không viết nổi 1/5 lượng tác phẩm Sỹ Tiến. Và tôi biết, rất nhiều người kính phục ông, không chỉ bởi tài năng phi thường mà bởi tất cả họ cộng lại, cũng không thể có độ điên say tận hiến đến phút cuối như Sỹ Tiến, người được những người bạn danh tiếng trong giới cầm bút gọi là “Victor Hugo Việt Nam” “Molière Việt Nam” bởi sự đa dạng và tính nhân văn, hài hước trí tuệ trong các vở diễn mà ông là tác giả.

Nguyễn Xuân Kim là con thứ hai trong gia đình ba anh em trai, sinh ra lớn lên ở phố Đào Duy Từ, Hà Nội. Quả là định mệnh, cuộc đời của ông và vợ con sau này gắn nhiều với cụm phố cổ quận Hoàn Kiếm này. Rạp Sán Nhiên Đài cùng phố rồi rạp Quảng Lạc ở phố Tạ Hiền (nay là trụ sở 2 của Nhà hát kịch Hà Nội), rạp Đông Đô trên phố Lương Ngọc Quyến giờ vẫn còn bị xuống cấp.

Kép Hoa Ngân (Nguyễn Xuân Ngân) anh trai ông 16 tuổi đã nổi tiếng, 20 tuổi đã được gọi “ông tướng Quảng Lạc” bởi các vai võ tướng xuất sắc. Lũ trẻ lớn lên giữa những rạp hát, ngày đêm xem tập, diễn tuồng, gặp các nghệ sĩ vào ra, sinh hoạt đi lại hàng ngày quanh mình, sinh ra mê tuồng cổ. Ngày xưa, chưa có trường đào tạo, mà là truyền nghề, mở lớp dạy trong đoàn, gánh, rèn giũa từ lúc nhi đồng, gọi là “ban đồng ấu”. Mới 7 tuổi, cậu bé Kim đã được coi là “tài tử nhí” của ban Sán Nhiên Đài, để “thi đấu” với các bạn, rạp khác.

Thiên bút ký đặc sắc Những mảnh tình nghệ sĩ của Sỹ Tiến từng đăng lần lượt trên nhật báo Giang sơn từ 1946 – 1953 (nhà báo Tam Lang làm chủ bút). NXB Chân Lý (57 phố Hàng Gai) in cuốn này, bìa do HS Hoàng Lập Ngôn vẽ. Trong bài tựa sách, nhà văn, soạn giả Hoàng Công Khanh viết 28/11/1953: “Anh Sỹ Tiến đã kể lại tất cả bước đường sân khấu của anh, cuộc đời riêng lẻ của các nghệ sĩ tuồng bộ, cải lương. Song bước đường ấy, cuộc đời ấy là phần quan trọng trong quá trình tiến hoá và sự hình thành của sân khấu nhà nghề VN. Những mảnh tình nghệ sĩ là Hý trường VN, là luồng sóng say sưa vĩ đại của nghệ sĩ lấy SK làm sự nghiệp và lý tưởng. Anh như con thiêu thân trước ánh đèn sân khấu, một người luôn quên mình vì sự nghiệp, bạn bè.

“Mảnh” vì là tập hợp của nhiều hồi ức, “mảnh” cũng là sự khổ đau, ly tán của những đời nghệ sĩ không chỉ rực rỡ dưới ánh đèn mà còn trầm luân, mất mát. Những mảnh đời của lão nghệ sĩ chèo Nguyễn Đình Nghị, cô Bảy Phùng Há (nghệ danh xuất thân từ Tái Đồng Ban, người gốc Hoa, tên thật là Trương Phụng Hảo), Năm Phỉ, Năm Châu, Ba Vân, Tư Chơi, Tư Sang, Tư Út, Bảy Nhiêu, Tám Danh, Kim Chung, Kim Thoa, Khánh Hợi, Bạch Tường, Bạch Công Tử ... những đào, kép, ông bầu, tài tử nổi danh khắp từ Nam chí Bắc được viết từ một ngòi bút tài hoa của người “yêu sân khấu hơn mình, lời văn viết khúc triết, ý nghĩa rất chân thành” (lời bạt của Tam Lang 24/12/1953).

Bằng trí nhớ phi siêu phàm, Sỹ Tiến ghi lại đầy đủ, chính xác các nhân vật, sự kiện của đời sống sân khấu HN và VN nửa đầu TK 20 trong nhiều công trình khác của ông. Giá trị sử liệu của các tác phẩm này do tính khách quan của một nhân chứng quá yêu nghề, giỏi quan sát và dày từng trải, chuyện “nếm mật nằm gai” là nhỏ. Anh em ông đã đổ máu nhiều lần trên SK, hơn cả phận kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan.

Đổ máu và sinh mạng là cái giá rất đắt của đời nghệ sĩ quá đam mê chọn “kiếp tằm”, thiêu thân. Để thu hút khán giả, người nghệ sĩ sân khấu, diễn viên  xiếc, đổ mồ hôi công sức, lấy hiểm nguy làm sức hút, chịu mạo hiểm để có được sự “nín thở” theo dõi hay tràng vỗ tay của người xem. Rạp Quảng Lạc độ ấy vắng khách. Kẹp Hoa Ngân diễn vở “Tử vi thu bạch trạch”, ông đóng vai Bạch Trạch. Khi bạn diễn vai “Tử vi” dùng bảo vật để “thu tóm”, thì Bạch Trạch phun lửa. Cảnh cao trào này là màn hồi hộp căng thẳng gây hiếu kỳ nhất. Ngờ đầu, tối hôm ấy, khi kép Ngân quay đầu (trong lốt trăn) vào cánh gà cho nhân viên hậu đài châm pháo, dây pháo ông đang ngậm trong miệng mọi khi phun ra phía trước, thì tối đó, nó lại chạy hậu nổ trên mặt diễn viên. Ông ngã vật xuống, máu ộc ra SK. Kép Ngân tai nạn nặng, mắt gần như mù, mặt đầy sẹo. Chủ rạp lại thờ ơ, thật bạc bẽo! Không thể chuyển  nghề vì trót  yêu nghiệp diễn, mà sức khoẻ, tinh thần sa sút, dung nhan bị tàn phá, lại còn con gái nhỏ, kép Ngân chuyển qua ban Phúc Thắng vào lưu diễn ở Nghệ An.

Con cả gặp nạn, lại thấy con thứ lén học, diễn tuồng, còn nhỏ tí đã tập ca, múa, bố mẹ Kim lo quá, cấm ngặt. Sau đêm  “tài tử nhí” diễn “thi đấu” thắng “đội bạn”, cậu bé sợ bố mẹ đánh đòn, bèn ngủ ở đình Phất Lộc, quyết chí trốn nhà theo nghiệp hát. Mờ sáng, chú bé 8 tuổi không đồng xu không tay nải, đi bộ qua cầu sông Cái (Long Biên), bắt đầu hành trình lang bạt, lênh đênh.

Vào nghề, có năng khiếu thiên bẩm, lại sáng dạ, chịu tập, rèn mình khắc nghiệt, cậu bé Kim 8 tuổi đã được lưu diễn kiếm tiền, trong khi vẫn phải làm “hậu đài”, “chạy cờ” mà DV tập sự học nghề phải trải. Trưa nắng to, bà chủ gánh bắt cậu mặc mũ mão cân đai, đi hia, ngồi xe rong khắp thị xã Bắc Giang, quảng cáo cho suất diễn tối. Mấy chị mới lớn, có chút tiền buôn bán, viết thư tình, mua nước hoa gửi qua bà hàng nước cửa rạp. Khổ nỗi, cậu bé xinh trai hát hay múa đẹp kia nào biết chuyện ái tình. Các chị kéo nhau “bao vây” cửa rạp, đòi lại quà. Kinh hãi, Kim bỏ Bắc Giang về Hà Nội. Từ đây, cậu lại đi bộ đến Nam Định, rồi nhập ban gánh vào Nghệ An, gặp anh ruột. Cậu xin phép, cũng là thông báo, cậu sẽ theo đoàn Mụ Giám (ông chủ gánh người Hoàng tộc, ở Huế đàn ông quyền quý cũng gọi là “Mụ”) vào Huế. Rồi thọ học Tư Hợi – thầy tuồng của đoàn. Một hôm, bọn sở cẩm bắt thầy Tư Hợi, vì đoàn diễn “Ngũ hổ bình tây”, bị quy “bình Tây” là “đánh Tây”.

Mụ Giám theo kiên, xin xỏ mấy tuần không được, đoàn rã đám. Cậu bé Kim lại một mình cuốc bộ vượt đèo Hải Vân. “Cả ngày tôi chỉ ăn 2 cái bánh đa, khát uống nước ao, lần vào Đà Nẵng”. Đọc đến đây, tôi bật khóc.

--------------------------------------

Kỳ 2: Những vở diễn lừng lẫy thuở vàng son

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...