Những ban đêm thành cột mốc tháng năm/ Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng/ Đêm thao thức đón chờ ánh sáng/ Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời. (Đêm trắng - Nguyễn Văn Thạc)
Gửi thư    Bản in

Chùm truyện ngắn thiếu nhi của Mikhail Zoshchenko

04-07-2012 07:23:04 AM

VanVN.Net - Mikhail Zoshchenko (1895-1958) là nhà văn Liên Xô (cũ), sinh tại thành phố Poltava (nay thuộc Ukraina). Ông sống phần lớn cuộc đời tại  Sankt Peterburg (Leningrad) và mất ở đó. Ông nổi tiếng là nhà văn châm biếm. Truyện cho thiếu nhi của ông cũng là những tác phẩm có giá trị văn học và giáo dục cao. VanVN.Net xin giới thiệu một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi của ông.

Nhà văn Mikhail Zoshchenko


Những vị du khách trứ danh

Dạo mới lên sáu, tôi chưa hề biết quả đất có hình cầu. Nhưng rồi anh Stepca, con trai của bà chủ có ngôi nhà nghỉ ở ngoại ô mà gia đình tôi đang thuê, đã giảng giải cho tôi hiểu về điều đó. Anh ấy bảo:

- Quả đất là một cái vòng tròn ([1]). Nếu ta cứ tiến thẳng về phía trước mặt mãi mãi thì sẽ đi hết một vòng xung quanh quả đất, rồi sau đó thế nào cũng quay về chỗ xuất phát ban đầu.

Thấy tôi tỏ vẻ không tin, anh ấy cốc một cái vào đầu tôi và nói:

- Bao giờ đi chu du vòng quanh thế giới, tao chỉ cho mỗi chị Liôla của mày đi thôi, còn mày thì nghỉ khoẻ. Đi chu du thiên hạ với những thằng ngốc như mày thì còn thú vị nỗi gì.

Vì rất muốn đi chu du thiên hạ nên tôi liền tặng anh ấy con dao nhíp của mình.

Stepca rất thích con dao nên đồng ý cho tôi cùng đi du lịch vòng quanh trái đất.

Stepca triệu tập một cuộc hội nghị mở rộng tại vườn rau nhà mình. Anh ấy bảo tôi và chị Liôla:

- Ngày mai, khi bố mẹ chúng mày về thành phố và mẹ tao ra sông giặt giũ thì chúng ta sẽ thực hiện kế hoạch đã bàn. Chúng ta sẽ tiến thẳng về phía trước, xuyên qua rừng núi và sa mạc, và sẽ đi mãi cho đến khi trở về đây, cho dù phải đi suốt một năm đi chăng nữa.

Chị Liôla hỏi:

- Thế nếu mình gặp bọn da đỏ thì sao hở anh Stepca?

- Nếu gặp bọn da đỏ thì ta sẽ bắt tất cả bộ lạc của chúng về làm nô lệ, – Stepca đáp.

- Ngộ nhỡ có thằng nào không thích làm nô lệ thì mình sẽ làm thế nào? – tôi rụt rè hỏi.

- Đứa nào không thích làm nô lệ thì… mình sẽ không thèm bắt nó chứ sao!

Liôla nói:

- Em sẽ lấy ở ống tiền tiết kiệm ba rúp, chắc ba rúp là đủ tiêu rồi, phải không anh?

Stepca đáp:

- Tất nhiên, vì chúng ta chỉ cần mua hạt hướng dương và bánh kẹo mà thôi. Dọc đường chúng ta sẽ săn những con thú nhỏ lấy thịt nướng lên mà ăn chứ.

Stepca chạy vào nhà kho và đem ra một cái túi to tướng vốn dùng để đựng bột mì. Chúng tôi liền xếp vào đó đủ mọi thứ cần thiết cho một chuyến đi xa. Đầu tiên chúng tôi bỏ vào túi một ít bánh mì, đường kính và một miếng mỡ lợn muối, sau đó nhét tiếp mấy cái đĩa, mấy cái cốc cùng với dao, dĩa ăn. Sau một hồi cân nhắc, chúng tôi còn cho thêm mấy chiếc bút chì màu, cái đèn pin, một chiếc chậu sành rửa tay và một chiếc thấu kính để khi cần thì nhóm lửa bằng ánh sáng mặt trời. Cuối cùng, chúng tôi ấn vào túi hai cái chăn và một cái gối lấy ở đi văng.

Ngoài những thứ trên, tôi còn làm thêm ba cái súng cao su, ba cái cần câu và ba cái vợt để bắt những con bướm nhiệt đới.

Ngày hôm sau, khi bố mẹ chúng tôi đã về thành phố, còn mẹ anh Stepca ra giặt giũ ngoài sông, ba chúng tôi lập tức từ giã làng Peski để lên đường ra đi.

Chúng tôi đi theo con đường nhỏ xuyên qua rừng.

Con chó Tudich của anh Stepca tung tăng đi trước dẫn đường. Tiếp theo là Stepca với cái túi to tướng đội trên đầu. Tiếp đến là chị Liôla vừa đi vừa thỉnh thoảng nhảy dây. Tôi đi sau rốt, hai tay ôm đống súng cao su, cần câu và vợt bắt bướm.

Cả đoàn đi như thế được khoảng một giờ đồng hồ. Cuối cùng Stepca nói:

- Cái bịch quái quỷ này nặng khiếp thật. Một mình tao không thể vác nó mãi được đâu. Thôi, bây giờ mỗi đứa phải lần lượt vác một đoạn.

Chị Liôla liền vác bọc đồ đi tiếp, nhưng chẳng bao lâu chị ấy kiệt sức không thể vác tiếp được nữa. Chị ấy liền quẳng bọc đồ xuống đất và nói:

- Thôi để thằng Minca vác một đoạn.

Khi họ đặt bọc đồ lên vai tôi, tôi suýt kêu lên vì ngạc nhiên: không ngờ nó lại nặng đến thế! Tuy nhiên, tôi còn ngạc nhiên hơn khi phải vác nó đi tiếp. Cái bọc nặng làm cho lưng tôi còng gập xuống, người tôi nghiêng bên nọ ngả bên kia, chẳng khác nào chiếc quả lắc đồng hồ. Đi được chừng mươi bước thì cả tôi cùng bọc đồ cùng rơi tòm xuống rãnh.

Cái cách tôi ngã cũng rất khác thường. Đầu tiên, bọc hàng rơi xuống rãnh, rồi đến lượt tôi ngã lăn theo và nằm đè lên tất cả đống đồ đạc lỉnh kỉnh ấy. Tôi vốn nhẹ cân, vậy mà không hiểu bằng cách nào mà tôi đã làm vỡ tan tành tất cả cốc chén bát đĩa và cả chiếc chậu sành.

Chị Liôla và Stepca cười nôn cả ruột khi thấy tôi giãy giụa, loay hoay dưới rãnh, vì thế dù tại tôi mà cả đoàn thiệt hại nặng nề nhưng tôi không bị mắng một câu nào.

Stepca huýt sáo gọi con Tudich lại gần, định dạy nó cõng hành lý, nhưng ý định đó không thực hiện được vì con chó rất chậm hiểu. Vả lại, chính chúng tôi cũng chẳng biết dạy dỗ nó như thế nào.

Lợi dụng khi chúng tôi đang bàn cãi, con Tudich gặm thủng cái bao và chỉ trong nháy mắt nó đã xực mất miếng mỡ muối.

Stepca liền bảo tất cả ba đứa cùng khiêng chung bọc đồ. Khiêng như vậy rất khó đi nhưng chúng tôi cũng đi được chừng hai tiếng đồng hồ nữa. Cuối cùng chúng tôi đã đi hết cả khu rừng và ra một bãi cỏ rộng.

Stepca quyết định nghỉ giải lao. Anh ấy bảo:

- Mỗi lần nghỉ chân hay ngủ qua đêm, tao sẽ duỗi chân về hướng mình phải đi. Các vị du khách trứ danh đều làm như thế cả, nhờ vậy mà họ không bị lạc đường.

Stepca ngồi bệt xuống bãi cỏ, chân duỗi về phía trước.

Chúng tôi mở bọc hành lý và bắt đầu ăn bánh mì rắc đường.

Đột nhiên có một đàn ong không hiểu từ đâu bay đến lượn vù vù trên đầu chúng tôi. Có một con chắc muốn nếm thử phần đường của tôi nên đã châm cho tôi một phát đau điếng vào má. Má tôi lập tức sưng phồng lên như chiếc bánh rán. Theo lời khuyên của Stepca, tôi liền đắp đất ướt, rêu và lá cây lên chỗ đau.

Trước khi lên đường đi tiếp, Stepca lôi gần hết các thứ trong bao quẳng ra ngoài, vì vậy hầu như chúng tôi chỉ đi tay không.

Tôi đi sau cùng, vừa đi vừa rên ư ử. Má tôi bỏng rát lên và đau không chịu nổi. Chị Liôla cũng chẳng thiết tha gì chuyện đi du lịch nữa. Chị ấy liên tục thở dài và mơ ước trở về nhà và nói rằng ở nhà cũng có nhiều điều thú vị. Thế nhưng Stepca cấm chúng tôi không được nghĩ đến chuyện đó. Anh ấy bảo:

- Đứa nào đòi về nhà tao sẽ trói vào cây cho kiến ăn thịt.

Chúng tôi tiếp tục lê bước trong tâm trạng não nề. Chỉ mỗi con Tudich là vẫn cảm thấy vui vẻ. Nó vểnh đuôi lên, chạy đuổi theo đám chim chóc và sủa ăng ẳng làm cho chuyến du lịch của chúng tôi thêm ầm ĩ.

Trời tối dần. Stepca ném cái bao đựng đồ xuống đất. Chúng tôi quyết định dừng lại ngủ qua đêm.

Cả bọn đi vơ củi để nhóm lửa. Stepca lục trong bao lấy ra cái thấu kính để lấy lửa nhưng mặt trời đã lặn mất, chẳng còn ánh nắng nữa. Anh ấy xịu mặt, còn chúng tôi cũng thấy buồn thiu.

Và thế là ăn tối xong, chúng tôi đành phải ngồi trong bóng tối.

Stepca trịnh trọng duỗi chân về phía trước và bảo rằng phải làm thế để sáng mai không quên hướng đi.

Stepca lập tức ngáy khò khò. Tôi và chị Liôla mãi vẫn không ngủ được. Chúng tôi sợ bóng tối và tiếng động của cây cối trong rừng. Trông thấy cành cây khô ở trên đầu, chị Liôla ngỡ là rắn liền hét lên hoảng sợ. Một quả thông rụng ngay bên cạnh làm tôi sợ hãi đến nỗi lăn tròn trên mặt đất như quả bóng.

Cuối cùng, chúng tôi cũng thiu thiu chợp mắt.

Tôi mở choàng mắt khi bị chị Liôla lay vai.

Mới sáng tinh sương, mặt trời vẫn chưa mọc.

Chị Liôla thì thầm bảo tôi:

- Minca này, trong lúc Stepca vẫn ngủ, chị em mình xoay chân anh ấy về phía ngược lại đi. Nếu không thì anh ấy còn dẫn mình đến chỗ khỉ ho cò gáy nào chưa biết chừng.

Chúng tôi đưa mắt nhìn Stepca. Anh chàng vẫn ngủ khì khì với nụ cười rạng rỡ trên môi.

Hai chị em chúng tôi tóm lấy chân Stepca và trong chớp mắt đã xoay sang phía đối diện, làm cho đầu anh ấy vẽ một cung tròn trên mặt đất. Thế mà Stepca vẫn không hề tỉnh dậy. Anh ấy chỉ rên rỉ, phẩy tay và ú ớ: “Ê, lại đây…” Có khi Stepca mơ thấy bọn da đỏ và gọi chúng tôi giúp sức cũng nên.

Chúng tôi ngồi chờ Stepca tỉnh dậy.

Khi tia mặt trời đầu tiên xuất hiện, Stepca thức giấc, ngó chân mình rồi nói:

- Giá như hôm qua tao cứ bạ đâu nằm đấy thì có chết người không: chúng ta sẽ chẳng biết đằng nào mà lần. May nhờ đôi chân của tao mà bây giờ chúng ta mới biết chắc chắn là phải đi về hướng nào.

Nói rồi Stepca khoát tay chỉ về hướng mà từ đó hôm qua chúng tôi đã ra đi.

Chúng tôi chén bánh mì xong thì lên đường. Con đường quen thuộc quá. Stepca cứ há hốc mồm vì ngạc nhiên. Tuy vậy anh ấy vẫn lên giọng giảng giải:

- Du lịch vòng quanh thế giới khác với những chuyến chu du thiên hạ khác ở chỗ là cảnh vật luôn luôn lặp lại, bởi vì quả đất tròn.

Có tiếng bánh xe lăn cót két đằng sau lưng: một bác nông dân đang đánh một chiếc xe ngựa đi tới.

Stepca nói:

- Để tăng tốc độ cho cuộc du lịch vòng quanh thế giới, chúng mình phải đi tiếp trên cỗ xe kia.

Chúng tôi xin đi nhờ xe. Bác xà ích tốt bụng dừng xe cho chúng tôi leo lên.

Xe chúng tôi đi rất nhanh. Khoảng một giờ đồng hồ trôi qua.

Bỗng phía trước mặt đã thấy làng Peski hiện ra.

Stepca há hốc mồm vì ngạc nhiên:

- Xóm trước mặt sao trông giống làng Peski thế không biết. Ấy là vì đôi khi, trong các cuộc du lịch vòng quanh thế giới, những chuyện tương tự vẫn thường xảy ra.

Càng đến gần bến tàu thuỷ, Stepca càng thấy ngạc nhiên hơn.

Chúng tôi xuống xe.

Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là bến tàu thuỷ làng tôi, và tàu thuỷ cũng vừa cập bến.

Stepca lẩm bẩm:

- Chẳng nhẽ chúng ta đã đi hết một vòng xung quanh quả đất rồi hay sao?

Tôi và Liôla cùng phì một cái rồi phá lên cười.

Vừa lúc ấy chúng tôi nhìn thấy bố mẹ và bà - họ vừa mới ở trên tàu thuỷ bước xuống. Bên cạnh họ là cô vú nuôi của chúng tôi đang vừa khóc vừa nói gì đó. Chúng tôi chạy ào đến chỗ bố mẹ.

Thấy chúng tôi, bố mẹ cười sung sướng.

Cô vú nuôi nói:

- Lạy Chúa, các cháu đấy à? Thế mà hôm qua cô cứ tưởng các cháu bị chết đuối rồi.

Chị Liôla đáp:

- Nếu chúng cháu mà chết đuối thì làm sao mà đi chu du vòng quanh thế giới được?

Mẹ kêu lên:

- Trời ơi, tôi vừa nghe điều gì thế này? Phải đánh cho bọn này một trận mới được.

Bố tôi can:

- Thôi, may mà mọi chuyện kết thúc tốt đẹp rồi.

Bà tôi bẻ một cái que và nói:

- Theo bà thì vẫn cứ phải quật cho chúng một trận. Mẹ nó cho thằng Minca mấy roi, còn con Liôla thì để đấy cho bà.

Bố nói:

- Đánh đập không phải là phương pháp giáo dục tốt. Chẳng cần đánh thì cả hai đứa cũng đã hiểu là chúng vừa làm một việc ngu ngốc rồi.

Mẹ tôi thở dài và nói:

- Các con tôi dốt quá đi mất. Ai lại đi du lịch vòng quanh thế giới khi chưa thuộc bảng cửu chương và chưa học địa lý bao giờ!

Chúng tôi về nhà. Cả nhà ngồi ăn trưa. Bố mẹ cười phá lên khi nghe hai chị em tôi kể lại cuộc phiêu lưu của mình.

Còn anh Stepca thì bị mẹ anh ấy nhốt vào nhà tắm. Vị du khách trứ danh của chúng tôi phải ngồi trong đó suốt một ngày đêm.

Hôm sau, mẹ Stepca thả anh ấy ra. Chúng tôi lại đi chơi với nhau như không có việc gì xảy ra cả.

Có lẽ phải nói thêm vài lời về con Tudich.

Tudich ta đuổi theo xe ngựa một tiếng đồng hồ liền nên mệt lử cả người. Về đến nơi, nó chui vào nhà kho và ngủ một mạch đến chiều. Tỉnh dậy, nó ăn xong lại ngủ tiếp, và chẳng ai biết được trong giấc ngủ dài triền miên ấy nó đã mơ thấy những gì.

Về phần tôi, tôi mơ thấy một con hổ lớn, và tôi đã bắn nó chết tươi.

 

Đôi ủng cao su và những chiếc kem

 

Khi còn nhỏ, tôi rất thích ăn kem. Tất nhiên, kem là thứ mà đến bây giờ tôi vẫn thích ăn. Nhưng hồi ấy, tôi thích ăn kem một cách lạ lùng.

Chẳng hạn, khi trông thấy ông hàng kem đẩy chiếc xe đi bán rong ngoài phố, đầu óc tôi lập tức quay cuồng cả lên, và tôi chỉ mong làm sao được ăn ngay lập tức thứ kem mà ông ấy bán.

Chị Liôla cũng nghiện kem chẳng kém gì tôi.

Hai chị em tôi thường mơ ước rằng, bao giờ trở thành người lớn, mỗi ngày chúng tôi sẽ ăn kem, nếu như không phải là bốn lần, thì chí ít cũng phải ba lần.

Thế nhưng hồi đó, chúng tôi lại hiếm khi được ăn kem. Mẹ chẳng cho chúng tôi ăn. Mẹ lo chúng tôi bị viêm họng và cảm lạnh. Vì lí do đó, mẹ ít khi cho chúng tôi tiền để mua kem.

Và thế rồi có một lần, tôi và chị Liôla dạo chơi ở trong vườn. Chị Liôla nhặt được một chiếc ủng cao su ở trong bụi cây. Đó là một chiếc ủng cao su đã qua sử dụng và rất cũ. Chắc là ai đó ném đi vì nó quá cũ và đã rách.

Chị Liôla tìm thấy chiếc ủng và nghịch ngợm xâu nó vào đầu chiếc gậy. Chị ấy vác nó rong chơi khắp vườn, vừa đi vừa vung vẩy chiếc gậy trên đầu.

Chợt có một ông đồng nát đi ngang qua phố. Vừa đi ông vừa rao to: “Ai giẻ rách, chai lọ bán không?”

Trông thấy chị Liôla, ông ta liền hỏi:

- Này cháu bé, có bán chiếc ủng không?

Tưởng ông ta nói đùa, chị Liôla bèn trả lời:

- Cháu có bán chứ. Chiếc ủng này giá đúng một trăm rúp.

Ông đồng nát bật cười và nói:

- Một trăm rúp thì đắt quá cô bé ạ. Nếu cháu muốn thì bác có thể trả cháu hai kôpếch ([2]), và chúng ta sẽ chia tay nhau như những người bạn.

Nói xong, ông đồng nát thò tay vào túi, móc ví lấy ra đồng hai kôpếch trao cho chị Liôla, nhét chiếc ủng rách của chúng tôi vào bao tải rồi đi tiếp.

Tôi và chị Liôla hiểu ra rằng đây không phải trò chơi, mà là chuyện mua bán thật sự.

Ông đồng nát đi đã lâu mà chúng tôi vẫn còn đứng ngẩn người ngắm đồng xu của mình.

Vừa lúc đó, ông bán kem đi ngang qua và cất tiếng rao to:

- Ai mua kem dâu không?

Chúng tôi chạy vội ra, mua hai que kem thứ một xu, trong nháy mắt đã ngốn ngấu hết và bắt đầu lấy làm tiếc là đã bán chiếc ủng rẻ quá.

Đến hôm sau, chị Liôla bảo tôi:

- Minca này, hôm nay chị định sẽ bán cho ông đồng nát một chiếc ủng cao su nữa đấy.

Tôi mừng rỡ hỏi:

- Chị Liôla, chị lại tìm thấy một chiếc ủng trong bụi nữa đấy à?

Chị Liôla nói:

- Trong bụi làm gì còn chiếc ủng nào nữa đâu. Nhưng ở tiền sảnh nhà ta, chị thấy có nhiều ủng lắm, chí ít cũng phải đến mười lăm chiếc. Nếu chúng ta bán đi một chiếc, thì chắc là cũng chẳng làm sao đâu.

Nói xong, chị Liôla chạy vào nhà và mang ra một chiếc ủng loại tốt và hãy còn khá mới.

Chị Liôla bảo tôi:

- Nếu như hôm qua ông đồng nát mua chiếc ủng rách với giá hai kôpếch, thì lần này, chắc ông ta sẽ trả cho chiếc ủng hầu như còn mới này ít nhất là một rúp. Với số tiền đó, chúng ta sẽ mua được khối kem!

Chúng tôi chờ ông đồng nát cả tiếng đồng hồ. Đến khi ông ấy xuất hiện, chị Liôla bảo tôi:

- Minca, hôm nay đến lượt em bán ủng nhé. Em là đàn ông, cho nên em phải nói chuyện với ông đồng nát. Chứ không thì ông ấy lại trả cho chị hai kôpếch như hôm qua. Mà đối với chị em mình, bấy nhiêu tiền là quá ít.

Tôi xỏ chiếc ủng vào gậy và vung vẩy nó trên đầu. Ông đồng nát lại gần vườn nhà tôi và hỏi:

- Thế nào, lại bán ủng đấy à?

Tôi lí nhí nói không ra hơi:

- Vâng ạ.

- Chà, thật đáng tiếc là các cháu chỉ bán có mỗi chiếc ủng. Bác chỉ có thể giả chiếc ủng này năm kôpếch thôi. Giá như các cháu bán cho bác hai chiếc ủng thì bác có thể giả đến hai mươi, thậm chí ba mươi kôpếch ấy chứ. Vì ủng có đôi thì người ta mới cần. Ủng cả đôi thì giá mới cao các cháu ạ.

Chị Liôla vội bảo:

- Minka, em chạy ngay vào nhà lấy thêm một chiếc ủng nữa ra đây.

Tôi vội chạy vào nhà và chỉ một nhoáng sau đã mang ra một chiếc ủng cỡ đại.

Ông đồng nát đặt hai chiếc ủng cạnh nhau và thở dài buồn bã nói:

- Cái trò bán chác của các cháu làm bác thất vọng quá. Một chiếc là ủng nữ, chiếc kia là ủng nam. Cứ thử nghĩ mà xem, bác biết làm gì với hai chiếc ủng này? Bác định giả cho một chiếc ủng năm kôpếch, thế nhưng đặt hai chiếc ủng này cạnh nhau, lại thấy hỏng quá. Thôi, các cháu nhận bốn kôpếch nhá, và chúng ta chia tay nhau như những người bạn.

Chị Liôla định vào nhà lấy thêm một chiếc ủng nữa, nhưng vừa lúc đó có tiếng mẹ gọi. Mấy người khách của mẹ chuẩn bị ra về, nên mẹ gọi chúng tôi vào để chào tạm biệt. Thấy chúng tôi ngơ ngác, ông đồng nát liền nói:

- Nhẽ ra bác định trả cho các cháu bốn kôpếch, nhưng bây giờ phải trừ đi một đồng, vì bác đã phí thì giờ nói chuyện với trẻ con.

Ông đồng nát đưa cho Liôla ba đồng tiền xu, loại một kôpếch, giấu mấy chiếc ủng vào túi và đi mất.

Tôi và chị Liôla lập tức chạy về nhà để chia tay với mấy người bạn của mẹ: cô Ôlia và chú Kôlia đang mặc áo khoác ngoài ở tiền sảnh.

Chợt cô Ôlia kêu lên:

- Lạ nhỉ, một chiếc ủng của tôi thì ở đây, dưới cái móc áo này, còn một chiếc nữa thì đi đằng nào rồi?

Tôi và chị Liôla tái mặt. Cả hai chị em đứng im, không dám động đậy.

Cô Ôlia nói:

- Tôi nhớ rõ ràng là tôi đã đến đây bằng cả hai chiếc ủng, vậy mà bây giờ chiếc thứ hai biến đi đâu nhỉ?

Chú Kôlia cũng tìm ủng của mình và nói:

- Trò quái quỷ gì thế này nhỉ? Tôi cũng nhớ là mình đã đi cả đôi ủng đến đây, vậy mà bây giờ chỉ còn một chiếc, chiếc kia biến mất đi đằng nào nhỉ?

Nghe nói vậy, chị Liôla sợ quá, đến nỗi bàn tay đang nắm chặt bỗng duỗi ra, mấy đồng xu leng keng rơi xuống đất.

Bố tôi lúc ấy cũng ra tiễn khách, trông thấy thế liền hỏi:

- Liôla, con lấy tiền đâu ra vậy?

Chị Liôla bắt đầu bịa chuyện để nói dối, nhưng bố bảo:

- Không có gì tồi tệ hơn là nói dối.

Chị Liôla liền òa khóc. Tôi cũng òa khóc theo. Và chúng tôi cùng nói:

- Chúng con bán hai chiếc ủng cho ông đồng nát, lấy tiền để mua kem.

Nghe thấy rằng chiếc ủng của mình đã bị bán mất, cô Ôlia tái mặt và sững cả người. Chú Kôlia cũng sững người và đưa hai tay ôm ngực. Nhưng bố đã bảo họ:

- Cô chú đừng lo, tôi biết cách làm thế nào để cô chú có ủng đi. Tôi sẽ lấy tất cả đồ chơi của Liôla và Minca bán cho đồng nát, và lấy tiền đó mua hai đôi ủng khác.

Nghe lời phán xét đó, hai chị em tôi khóc inh lên. Bố lại nói tiếp:

- Nhưng điều đó chưa phải đã hết. Trong hai năm liền, bố cấm Liôla và Minca không được ăn kem. Sau hai năm, hai đứa được quyền ăn kem, nhưng mỗi lần ăn, phải nhớ sự kiện đáng buồn hôm nay, và hai đứa phải suy nghĩ xem có xứng đáng được ăn món đồ ngọt đó không.

Ngay ngày hôm đó, bố cho gọi đồng nát đến bán tất cả đồ chơi của chúng tôi, và dùng số tiền đó để mua ủng cho cô Ôlia và chú Kôlia.

Các cháu nhỏ yêu quý, từ bấy đến nay, rất nhiều năm tháng đã trôi qua.

Hai năm đầu, quả thực tôi và chị Liôla không được ăn một que kem nào. Sau đó, mỗi lần ăn kem, vô tình chúng tôi cứ nhớ đến chuyện đã xảy ra.

Các cháu ạ, ngay cả bây giờ, khi tôi đã trở thành người lớn, thậm chí cũng đã hơi già, mỗi khi ăn kem, tôi vẫn cảm thấy như thể có một cái gì đó vương vướng trong cổ và cảm thấy khó xử. Và mỗi lần ăn kem, theo thói quen từ nhỏ, tôi lại tự hỏi: “Mình có xứng đáng được ăn kem hay không? Mình có nói dối hoặc làm điều gì có hại cho người khác không?”

Ngày nay, các cháu nhỏ yêu quý ạ, người ta ăn kem rất nhiều, vì ở nước ta có những nhà máy làm kem rất lớn.

Hàng nghìn người, thậm chí hàng triệu người ăn kem. Các cháu nhỏ yêu quý, tôi chỉ muốn rằng, giá mà mỗi khi ăn kem, tất cả mọi người đều nghĩ về điều mà tôi vẫn thường nghĩ đến, mỗi khi được ăn kem.

 

Nhặt được của rơi

 

Một hôm tôi và chị Liôla nhặt được một chiếc hộp đựng kẹo rỗng. Chúng tôi bèn bỏ vào hộp một con ếch và một con nhện.

Chúng tôi lấy giấy sạch gói chiếc hộp, buộc bằng một chiếc nơ xanh sang trọng và đặt nó bên vệ đường trước vườn nhà mình. Giống như kiểu ai đó vừa đi ngang qua và đánh rơi cái gói mới mua về.

Đặt cái gói sau cột đá, chúng tôi nấp trong vườn nhà mình, cố nhịn cười và sốt ruột chờ xem điều gì sẽ xảy ra.

Chờ một lúc thì có người đi qua.

Nhìn thấy chiếc hộp, dĩ nhiên là ông ta dừng lại, mừng rỡ, thậm chí còn xoa xoa hai tay vào nhau.

Còn phải nói: ông ta nhặt được hộp kẹo – có phải ngày nào cũng gặp may như thế đâu!

Tôi và chị Liôla nín thở xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Người qua đường cúi xuống cầm cái gói lên, nhanh chóng mở nó ra, thấy chiếc hộp đẹp thì lại càng mừng hơn nữa.

Rồi nắp hộp được bật ra. Con ếch của chúng tôi ngồi buồn mãi trong bóng tối, đến lúc ấy vội nhảy thẳng vào tay người ấy.

Ông ta kinh hoàng kêu lên và ném phắt chiếc hộp xuống.

Tôi và chị Liôla cười lăn ra bãi cỏ.

Chúng tôi cười to đến nỗi người qua đường nhìn vào phía bọn tôi và hiểu ra mọi chuyện.

Ông ta nhảy qua hàng rào hòng dạy cho chúng tôi một bài học.

Chúng tôi thét lên và vùng chạy vào nhà.

Nhưng tôi vấp chân vào luống đất và ngã lăn ra. Người qua đường tóm được tôi và véo tai tôi rất đau.

Tôi kêu ầm lên. Nhưng người kia cho tôi hai cái bạt tai rồi bình thản đi ra khỏi vườn. Nghe tiếng kêu, bố mẹ tôi chạy ra.

Vừa đỡ chiếc tai sưng tấy vừa khóc lóc, tôi lại gần bố mẹ kể lể về chuyện vừa xảy ra.

Mẹ tôi định sai ông quét sân đuổi theo người kia và bắt ông ta.

Chị Liôla toan đi gọi ông lao công nhưng bố tôi ngăn lại. Bố bảo chị Liôla và mẹ:

- Đừng gọi ông lao công làm gì. Và cũng đừng bắt người đi đường kia. Tất nhiên, ông ấy chẳng nên kéo tai Minka, nhưng có lẽ ở vào địa vị ông ta, bố cũng đã làm như vậy.

Nghe bố nói thế, mẹ nổi giận và nói:

- Anh thật là ích kỉ!

Tôi và chị Liôla cũng giận bố nhưng không nói gì cả. Tôi vừa xoa chiếc tai của mình vừa khóc toáng lên.

Cả chị Liôla cũng sụt sịt khóc.

Mẹ nắm tay tôi và bảo bố:

- Thay vì bênh người qua đường kia và làm cho các con phát khóc, anh hãy giải thích cho các con hiểu chúng đã hành động xấu ở chỗ nào. Bản thân em thì thấy chẳng có gì xấu cả. Và em vẫn cho rằng đó chỉ là trò nghịch ngợm của trẻ con mà thôi.

Bố tôi chẳng biết trả lời như thế nào. Ông chỉ nói:

- Rồi sẽ có lúc bọn trẻ lớn lên và chúng sẽ tự mình hiểu được, vì sao lại không nên làm như thế.

Thời gian dần trôi. Năm năm qua đi. Rồi mười năm trôi qua. Cuối cùng, mười hai năm đã trôi qua.

Mười hai năm sau, từ một thằng bé con tôi đã trở thành một cậu sinh viên mười tám tuổi.

Tất nhiên tôi đã quên và không còn nghĩ tới trường hợp đó nữa. Nhiều ý nghĩ thú vị hơn nhiều đã xâm chiếm đầu óc tôi.

Nhưng rồi có lần đã xảy ra chuyện như thế này:

Mùa xuân, sau khi thi học kì xong, tôi đến vùng Kavkaz ([3]). Thời đó sinh viên thường nhận việc để làm thêm trong mùa hè và thường đi về các địa phương. Tôi cũng nhận làm người soát vé trên tàu hỏa.

Tôi vốn là một sinh viên nghèo và không có tiền. Thế mà bây giờ người ta cho đi Kavkaz không mất tiền vé mà lại còn cho nhận lương nữa. Cho nên tôi nhận làm công việc đó. Và tôi đã lên đường.

Đầu tiên, tôi đến thành phố Rostov, vào sở hỏa xa để nhận tiền, giấy tờ và cái kìm bấm lỗ soát vé.

Nhưng đoàn tàu của tôi bị chậm giờ. Thay vào buổi sáng, nó về ga vào lúc năm giờ chiều.

Tôi gửi chiếc vali của mình vào phòng gửi hành lí ở nhà ga rồi đi tàu điện đến văn phòng Sở Hỏa xa.

Khi tôi đến nơi, người gác cửa nói:

- Rất đáng tiếc, anh đến muộn quá, chàng trai ạ. Văn phòng đã đóng cửa rồi.

- Sao lại đóng cửa? – tôi nói. - Hôm nay tôi cần phải nhận tiền và giấy chứng nhận mà.

Người gác cửa nói:

- Mọi người về hết rồi. Ngày kia mời anh lại đến.

- Sao lại ngày kia? – tôi nói. – Thôi thế thì mai tôi lại đến vậy.

Người gác nói:

- Ngày mai là ngày lễ, văn phòng không làm việc. Ngay kia anh cứ đến mà nhận những thứ cần thiết.

Tôi bước ra phố. Và đứng đực ra đó. Tôi không biết mình phải làm gì.

Phía trước còn hai ngày. Trong túi tôi không có tiền – tất cả còn đúng ba kôpếch. Ở thành phố xa lạ này tôi chẳng quen biết ai. Tôi sẽ ăn đâu, ngủ đâu, hoàn toàn không thể nào biết được.

Tôi lại đến nhà ga để lấy trong vali một thứ gì đó, áo sơmi hoặc khăn mặt để đem ra chợ bán lấy tiền. Nhưng ở nhà ga người ta bảo tôi:

- Trước khi anh muốn lấy vali thì phải trả tiền gửi đồ đi đã, rồi sau đó muốn làm gì với nó thì cứ việc làm.

Tôi chỉ còn đúng ba đồng xu nên không thể trả tiền gửi hành lý được. Thế là đành lủi thủi ra phố, lòng đầy hoang mang.

Giá như bây giờ thì tôi sẽ không bị hoảng loạn như thế. Nhưng lần ấy tôi cảm thấy vô cùng lúng túng. Tôi đi lang thang vô định trên đường phố, lòng đầy đau khổ.

Đang đi vô mục đích như vậy thì bỗng thấy trên mặt đường: cái gì thế này? Một chiếc ví con bằng nhung màu đỏ. Và có vẻ không rỗng ruột mà chật căng tiền.

Trong giây lát tôi dừng lại. Những ý nghĩ mừng vui thoáng hiện trong đầu tôi. Tôi như thấy mình sau cánh cửa hiệu bánh mì. Sau đó, tôi thấy mình trên giường khách sạn, tay cầm một phong sôcôla.

Tôi tiến lên một bước về phía chiếc ví. Và đưa tay về phía nó. Đúng lúc đó chiếc ví (hay là tôi tưởng như vậy) chạy xa tay tôi một chút.

Tôi lại đưa tay định nhặt chiếc ví. Nhưng nó lại chuyển động xa hơn nữa, như để tránh bàn tay tôi.

Không hiểu chuyện gì xảy ra, tôi lao đến chiếc ví.

Vừa lúc đó, sau hàng rào, phía trong vườn, có tiếng cười của trẻ con vang rộ lên. Và chiếc ví được buộc bằng sợi chỉ biến khỏi mặt đường nhựa.

Tôi đến gần hàng rào. Mấy đứa trẻ đang cười lăn lộn trên mặt đất.

Tôi muốn lao vào phía chúng. Và đã nắm lấy hàng rào để nhảy vào. Đúng lúc ấy tôi chợt nhớ ra trò nghịch ngợm của mình hồi bé.

Lập tức mặt tôi đỏ bừng lên. Tôi rời khỏi hàng rào. Và tôi chậm rãi bước đi tiếp.

Các bạn nhỏ! Trong cuộc đời, điều gì rồi cũng qua đi. Hai ngày ấy cũng đã trôi qua.

Chiều hôm ấy, tôi ra ngoại ô, đến một cánh đồng và thiếp đi trên một bãi cỏ.

Sáng hôm sau, khi mặt trời lên, tôi tỉnh dậy. Tôi dùng ba kôpếch mua một funt ([4]) bánh mì để ăn và uống nước trắng. Và tôi lại lang thang đi dạo trong thành phố cho hết ngày.

Đến chiều, tôi lại ra ngoại ô, nằm trên bãi cỏ để ngủ. Nhưng hôm ấy không may trời đổ mưa, tôi bị ướt như chuột lột ([5]).

Sáng sớm hôm sau tôi đứng sẵn trước cổng ngôi nhà để chờ văn phòng mở cửa.

Cửa mở. Tôi bước vào văn phòng, vừa ướt át vừa bẩn thỉu.

Các nhân viên văn phòng nhìn tôi đầy ngờ vực. Thoạt đầu họ không muốn phát tiền và giấy tờ cho tôi. Rốt cuộc rồi họ cũng phát cho.

Chẳng bao lâu sau, sung sướng và rạng rỡ, tôi lên đường đi Kavkaz.

 

(Nguyễn Thị Kim Hiền dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

(Tạp chí Văn học nước ngoài số 6/2012


[1] Đúng ra, cậu bé này phải nói là “Quả đất là một hình cầu”

[2] Kôpếch: đồng tiền xu của Nga, 100 kôpếch = 1 rúp.

[3] Kavkaz: Vùng núi ở phía Nam nước Nga.

[4] Đơn vị trọng lượng cũ của Nga, bằng 409,5gam (ND).

[5] Nguyên văn: ướt như con chó (ND).

Lên đầu trang

Tiêu đề

Hiện tại không có bình luận nào.

Viết bình luận của bạn


Nhân vật  

Nhà thơ Hữu Thỉnh: “Cỏ bao phen phải làm lại từ đầu”

VanVN.Net - Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh không phải là người gây được ấn tượng sớm. Hầu như phần lớn thành tựu trong sáng tác của ông đều xuất hiện sau năm 1975. Song, Hữu Thỉnh lại ...