Chuyện văn chương

12/12
9:32 PM 2016

30 NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG THƠ VIỆT

Đặng Huy Giang - Nói theo cách của nhà phê bình, lý luận văn học Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” xuất bản cách nay trên 70 năm: Chúng ta đã từng có “một thời đại của thi ca”.

                                                    Nhà thơ Đặng Huy Giang

Đó là sự phát triển rực rỡ của thơ mới với nhiều tác giả đặc sắc như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính và nhiều người khác của giai đoạn 1930 - 1945. Có khá nhiều người làm thơ xuất hiện ở thời điểm ấy, tuy số lượng thơ chưa nhiều, nhưng đã sớm trở thành tác giả.

Thời chống Pháp, chúng ta cũng có những tác giả tiêu biểu. Thời chống Mỹ, cũng thế. Rất nhiều tác giả đã kết thành đội ngũ. Đội ngũ này đã được xác định: Công việc sáng tác văn học cũng là một nhiệm vụ của cách mạng và nhiều người được phân công là “cán bộ sáng tác” văn học.

Loại trừ thơ mới, còn thơ chống Pháp và thơ chống Mỹ, người viết luôn bám vào một đề tài cụ thể, một chủ đề cụ thể. Hay nói một cách chính xác hơn: Một nhiệm vụ cụ thể. Đó là nhiệm vụ chống ngoại xâm. Và cái hiện thực này đã trở thành từ trường, một lực hút rất lớn lôi cuốn người viết. Và cái “hiện thực trung tâm” ấy đã được người viết cùng  nhau hướng tới và phản án.

Cuốn theo cái hướng ấy, người viết đã đồng hành cùng dân tộc.

Và chính sự “đồng hành cùng dân tộc” ấy đã giúp người viết có nhiều độc giả cùng chí hướng với mình, tạo đìều kiện thuận lợi cho sự quan tâm và chia sẻ. Và cũng có thể nhờ vậy mà tăng thêm yêu tố thành công.

Bên cạnh đó, cũng có một nguyên nhân khác làm cho số độc giả gia tăng. Ấy là sự đơn điệu, nghèo nàn, đơn phương, khép kín của kênh thông tin. Dường như cái sự độc quyền, độc tôn của xuất bản, truyền thông đã đem lại lợi thế cho văn học và những người sáng tác văn học thời ấy.

 

Thơ mới từng có thành tựu và vai trò lớn lao như vậy. Nhưng sau 1954, không phải tác giả nào cũng tiếp tục ổn định và giữ vững phong độ mãi.

Trong số này, có lẽ chỉ có Chế Lan Viên là viên mãn hơn cả. Càng có tuổi, thơ ông càng hay và càng sâu sắc. Không phải không có lúc ông ngả nghiêng vì thời sự, thời cuộc, nhưng ở thời điểm nào, ông cũng có những tác phẩm để đời. Riêng đối với Tố Hữu thì có hơi khác. Ông là một trường hợp đặc biệt trong thơ, nhất là thơ ca cách mạng Việt Nam.   

Còn Phạm Tiến Duật, về cơ bản, là nhà thơ của Trường Sơn. Thơ ông đã cực kỳ phát tiết tinh hoa vào những năm 60 - 70 của thế kỷ trước với chùm thơ: “Lửa đèn”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Tiểu đội xe không kính”, “Nhớ” đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ. Khi ra khỏi hiện thực Trường Sơn, Phạm Tiến Duật không còn là Phạm Tiến Duật của thuở nào. Thơ ông cũng bình bình và trồi sụt như mọi người.

Nhân đây, cũng xin được nói thêm: Sau 1975, trong khi nhiều nhà thơ chống Mỹ bị “cắt khúc”, thì vẫn có những nhà thơ “liền mạch”. Đó là Hữu Thỉnh, Thi Hoàng, Thanh Thảo, Vũ Quần Phương…Thơ Hữu Thỉnh vẫn sâu sắc, đằm thắm; thơ Thi Hoàng vẫn mới và góc cạnh; thơ Thanh Thảo vẫn mạnh mẽ, ào ạt; thơ Vũ Quần Phương ngày một trải nghiệm hơn. Trong các nhà thơ nữ thời chống Mỹ, phải kể đến vai trò của Xuân Quỳnh, Ý Nhi. Chỉ tiếc Xuân Quỳnh đã mất từ lâu, còn Ý Nhi làm thơ không nhiều và rất hiếm khi xuất hiện trên thi đàn.

Nêu thế để thấy: Có khá nhiều nhà thơ của một thời, nhưng để là nhà thơ của một đời thật khó lắm thay!

Nếu coi thơ chống Pháp, chống Mỹ thiên về hướng ngoại, thì có thể coi thơ sau 1975, thơ của những người tuổi 8X, 9X… thiên về hướng nội. Mặt khác, khi “hiện thực trung tâm” bị thay thế bởi một hiện thực khác vừa phong phú hơn, vừa đa dạng hơn, thì cái đích của thơ ca cũng rộng lớn, khoáng đạt và gợi mở hơn. Cái đích ấy có thể là: Thân phận, số phận con người trong một xã hội vươn tới văn minh, tiến bộ. Và cái được thể hiện, cái phải hướng tới, cũng phải là những cái phổ quát mà nhân loại cùng quan tâm.

Ba mươi năm ở giai đoạn đổi mới, thơ Việt vẫn đang phát triển. Chúng ta đã có một đội ngũ đông đảo hơn. “Diện” thơ vì thế mà cũng rộng hơn và giọng điệu cũng ngày một đa thanh, đa sắc hơn. Và cũng chính vì thế mà sự cạnh tranh cũng ngày một mạnh mẽ hơn. Bây giờ, cũng như trong các lĩnh vực khác, trong thơ, để vượt lên hơn hẳn nhau, là khó.

Về mặt thi pháp, lớp người làm thơ sau 1975, cũng có những bước tiến mới. Sự khác nhau về phong cách đã tạo ra sự khác biệt tương đối rõ rệt. Những người tuổi trên 50 hoặc trên 60 như Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Mai Quỳnh Nam, Inrasara, Đặng Huy Giang, Tuyết Nga, Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Chiến, Trương Nam Hương, Mai Văn Phấn, Trần Quang Quý, Nguyễn Hữu Quý…đã hình thành một đội ngũ.

Tiếp theo sau là những người tuổi 6X, 7X, 8X, 9X như Phan Hoàng, Hữu Việt, Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Bảo Chân, Đoàn Mạnh Phương, Vi Thùy Linh, Đỗ Thị  Tấc, Trần Thị Huyền Trang, Lương Ngọc An, Phan Huyền Thư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Quyến, Đỗ Doãn Phương, Lê Thiếu Nhơn, Đinh Thị Như Thúy, Đặng Thị Thanh Hương…Sau gần hai chục năm, những nhà thơ trẻ ngày nào đều đã trở thành tác giả. Một số người có tác phẩm đã được trao giải thưởng và tặng thưởng thường niên của Hội Nhà văn như Hữu Việt, Đỗ Doãn Phương, Đinh Thị  Như Thúy, Phan Hoàng. Và trong tương lai, họ vẫn là những cây bút mang hy vọng tiềm tàng của làng thơ Việt.

Giờ đây, với thế hệ trẻ hơn, cơ hội trở thành một nhà thơ nổi tiếng mỗi ngày một khó hơn rất nhiều. Có một bài thơ để độc giả nhớ như một nhà thơ nổi tiếng thời chống Pháp, hầu như không thể có nữa. Nhưng đó không phải là điều đáng bàn. Điều đáng mừng là ngày càng xuất hiện những tác giả tuổi còn rất trẻ nhưng phong cách cũng như tư tưởng đã có nét riêng và chững chạc không thua kém các bận đàn anh. Có vẻ như sự nổi tiếng về thơ này không thể đi bằng con đường qua sách giáo khoa trong nhà trường hay nhờ vài chùm thơ đăng trên một số tạp chí văn, báo văn. Giá trị nghệ thuật thật sự của thơ giờ đây đang được thẩm định theo quy luật phổ biến trong nhiều lĩnh vực: Đó là sự thẩm định trong giới. Sự thẩm định này càng cần khi mà giờ đây người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Nhờ internet, ai cũng có thể xuất bản “thơ”! Rõ ràng, trong thế giới phẳng này, môi trường và điều kiện để công bố tác phẩm ngày càng rộng mở và mang tính cạnh tranh, sàng lọc rất cao.

Đáng mừng là có nhiều nhà thơ trên dưới 50 tuổi đã khát khao thay đổi một cách triệt để. Đó là một Phan Hoàng muốn “thay đổi thói quen”, một Trần Đình Thọ luôn “mong  một cơn áp thấp”, một Phan Huyền Thư như “trang giấy thèm đau ngòi bút”…

“Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu”. Từ bao đời nay, người tài bao giờ cũng hiếm. Phải rất nhiều năm, thơ ca Việt mới xuất hiện được một vài tài danh kiệt xuất như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… Cho nên, ở thời buổi hiện đại này, để có một tài thơ như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…đâu phải chuyện dễ dàng gì. Vả lại, trong lĩnh vực sáng tác, cái sự “thiên phú”, “thiên bẩm”, có lắm khi lại mang ý nghĩa quyết định.

Trong thời gian tới, phấn đấu để có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Về phía người cầm bút, phải: Không ngừng mở rộng giao lưu; không ngừng nâng cao tri thức trong một thế giới mở và phẳng; không ngừng nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp và lòng yêu nghề; không ngừng tự giải phóng sức sáng tạo cá nhân. Về phía người quản lý, phải: Nhìn nhận, đánh giá đúng tầm quan trọng của văn học, nghệ thuật; có sự thấu hiểu và chia sẻ về mặt quan điểm với người viết; cần đầu tư có trọng điểm và mang tính đột phá; phát hiện và tạo điều kiện thuận lợi, kịp thời cho những tài năng văn học, nhất là những người còn trẻ, mới xuất hiện.

Bên cạnh đó, những cơ quan (Hội Nhà văn, các nhà xuất bản…) cần tăng cường vai trò thẩm định, hướng dẫn độc giả để giúp họ phân biệt đâu là giá trị thơ ca đích thực.

Và điều quan trọng nhất là mỗi nhà văn phải là một nhà tư tưởng, phải gắn bó sâu sắc với số phận, vận mệnh của nhân dân và dân tộc mình.

(Nguồn:NV&TP)

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *