Chân dung văn

8/2
8:40 AM 2017

NHÀ THƠ TÂY BAN NHA A. MASAĐÔ

Chúng ta còn ít biết bậc thầy về thơ Antonio Masado Ruiz (26-7-1875 - 22-2-1939), vốn được đánh giá là một trong những tên tuổi lớn nhất của thế giới thơ Tây Ban Nha. Thơ ông ảnh hưởng đến nhiều thế hệ thi sĩ hiện đại thế kỷ XX.

                                                     Minh họa: tranh Picatso-nguồn Internet

Nhân kỷ niệm 140 năm sinh Antonio Masađô, chúng tôi xin giới thiệu một chùm thơ trữ tình của ông do nhiều nhà thơ nổi tiếng Việt Nam chuyển ngữ. Và cũng để giúp bạn đọc hiểu thêm về tác giả này, chúng tôi xin giới thiệu lại những trang hồi ức của I.Erenbua (1891-1967) rút từ tác phẩm nổi tiếng Con người, Năm tháng, Cuộc đời do Vương Trí Nhàn dịch.

 

A. MASAĐÔ

CHÚNG BÁN ĐI TẤT CẢ

 

Ôi Tổ quốc, chiếc đàn to giữa hai biển mênh mông

Tay thù đã vạch lên những vùng tranh chấp

Vạch những chỗ đóng quân cao chót vót

Trên núi đồng, trên khắp cả đồi nương.

 

Ôi những quân hèn nhát thù hằn

Chặt hết gỗ trong rừng sên Tổ quốc

Xéo hết nho vàng trong những thùng máy ép

Cướp lúa mì từ đất mẹ nảy lên.

 

Hỡi Tổ quốc đau thương, giờ lại thêm lần nữa

Tất cả những gì tắm trong biển và dầm thân trong gió

Đều đã vào tay bọn phản bội xấu xa.

 

Sự lãng quên làm ô uế những đền thờ

Và tất cả những gì đất của ta gạn lọc

Chúng thèm muốn và đã đem bán tất.

Tội ác xảy ra ở Gơnat

Tưởng nhớ Fêđêricô Garcia Lorca

I. Tội ác

Người ta thấy anh đi trên một phố dài

Giữa hai hàng súng

Anh bước ra cánh đồng giá lạnh

Sao mai còn sáng long lanh.

Chúng nó đã giết anh

Khi ánh ngày xuất hiện

Cả tiểu đội những tên cầm súng

Không dám nhìn mặt anh

Tất cả đều nhắm mắt không nhìn

Miệng cầu khẩn: "Xin Chúa Trời cứu rỗi".

 

Fêđêricô chết rồi, anh đã ngã

Vệt máu dài trên trán,

Viên đạn ở trong lòng

Vâng, tội ác xảy ra rồi, bạn có biết không

Ở Gơnat, - Gơnat của anh - cái Gơnat khốn cùng.

 

II. Nhà thơ và thần chết

Người ta thấy anh một mình bước đi với Thần Chết

Không sợ gì lưỡi hái sáng trưng

Mặt trời đã lên cao trên những tháp

Tiếng búa đe dồn dập ở lò rèn

Thần Chết lắng nghe anh

Fêđêricô chuyện trò ve vãn:

"Hôm qua trong thơ tôi, cô bạn

Còn vang tiếng lòng tay khô đét của cô

Cô đem giá băng vào tiếng hát của tôi

Đem lưỡi hái vào trang thảm kịch

Tôi sẽ ca ngợi thịt da nay đã hết

Trên lưỡi hái của cô màu bạc trắng long lanh

Ca ngợi mắt cô nay cũng không còn

Và mái tóc gió đã từng lay động

Đôi môi đỏ với những cái hôn ướt đẫm.

Hôm nay đây, như hôm trước, Tử Thần ơi

Hỡi cô em, người bạn gái phiêu lưu,

Đi với cô một mình qua Gơnat

Qua bầu trời Gơnat, thích bao nhiêu".

 

III.

Người ta thấy họ đang đi

Các bạn ơi,

Tạc vào đá và tạc vào trong mộng

Ngay chính giữa Alambra cung điện

Một ngôi mồ để hiến nhà thơ,

Một dòng suối trong sẽ khóc tại ngôi mồ

Và sẽ nói, đời đời chẳng dứt:

Tội ác đã xảy ra ở Gơnat

Ở chính thành Gơnat của anh!

Gửi Lixtơ- chỉ huy quân đội sông Ebrơ

Ôi trái tim cao cả trọn đời luôn tỉnh thức

Hỡi người dân Tây Ban Nha bất khuất, vững vàng,

Bức thư của anh, hỡi Lixtơ dũng cảm anh hùng

An ủi tôi nhiều, khi cái chết ấy trong tim tôi nặng trĩu

 

Thư anh đến đã mang theo tiếng động.

Của cuộc đấu tranh thần thánh Tây Ban Nha

Quả tim tôi cũng thức tỉnh hẳn ra

Trong mùi cỏ lẫn trong mùi thuốc súng

 

Nơi vỏ ốc báo sông Embrơ đến

Và trên cả một vùng đá lạnh

Nơi trồi lên một chương mới Tây Ban Nha

 

Đây lời tôi từ núi cao đến biển:

"Ngòi bút tôi, nếu được bằng khẩu súng

Của anh thôi, tôi sẽ chết yên lòng".

Đào Xuân Quý dịch

Thơ thời chiến

Biển cả chia lìa đôi lứa. Và chiến tranh

Hiểm sâu hơn biển cả. Đứng trong vườn

Anh vời trông tận chân mây cuối biển

Còn em, nơi doi đất xưa, chờ mong.

 

Em ngóng một mặt biển khác

Biển khói mịt mờ, biển Espana

Anh khuất bóng, em mơ anh đứng đó

Và anh, tưởng nhớ thêm xót xa

 

Chiến tranh dập vùi tình tàn bạo

Đó cơn khắc khoải nỗi chết cận kề

Với bóng lửa hắt hiu cạn tắt

 

Và cũng đó hương mật tình muộn màng

Và nhánh cành hết thảy trổ hoa

Vì nhát búa lạnh người đà chém gãy

Ca khúc

Mùa xuân trở lại

Chẳng một ai hay

 

Kề bên đồi hoa

Biển thầm thì sóng

Bầy ong mật tình

Dính đầm muối cát

 

Đêm Castillana

Khúc hát dâng lời

Ồ, nên nín lặng

(Thanh Tâm Tuyền dịch từ bản tiếng Pháp)

 

BỨC TRANH

Trên nền trời thẳm xanh

Một dãy chấm đen của đàn chim di trú

Trong chốc lát, trên rừng dương buốt giá

Bầy chim quang quác lượn vòng.

Hàng ngàn cánh chim ấm nóng vẫy vùng,

Rồi ủ cánh thu mình trên cành cây băng tuyết,

Giống những nốt nhạc đen, tự trời cao siêu việt

Hiện trên giấy trắng tinh - thành bản nhạc giao mùa.

Hơi mát

Hơi mát đầu xuân phả xuống cánh rừng

Như cái hôn vô hình của Trời trao tặng Đất

Một chút gì mới tinh, không thể mất

Trong khói sương xanh thẳm đến vô cùng...

 

Những đám mây cao, lớp lớp trập trùng

Như bốc dậy từ men say đất trẻ,

Lá non mướt, khiến tim mình run khẽ

Hạt mưa nào thấm đẫm mãi thung sâu...

 

Hoa hạnh đào ơi, đẹp quá, có ai đâu!

Sao cành vẫn khoe tươi, hoa một mình trổ sắc?

Khiến ta nhớ tuổi dại khờ ngày trước

Tuổi biết yêu mà không có ai yêu!

 

Đời đã hầu qua, mất mát đã nhiều.

Đâu có thể chọn con đường khác nữa?

Nhưng dẫu thế, rừng ơi, ta vẫn nhớ

Hơi mát đầu xuân từ giấc mộng không còn...

(Bằng Việt dịch)

 

MASAĐÔ

I. ERENBUA

Sau khi đến Barxelôna, hình như vào khoảng giáp Tết, tôi đến chỗ nhà thơ Antôniô Masađô đưa ông ít cà phê, thuốc lá mới mang ở Pháp sang. Masađô sống trong một căn nhà nhỏ, lạnh lẽo, ở vùng ngoại ô thành phố, bên cạnh một bà mẹ già; vào hè tôi thường thích đến chỗ ông. Masađô nhìn ngoài xấu xí lại gù. Ông ít cạo râu, bởi thế trông lại càng già thêm. Bấy giờ ông đã sáu mươi ba tuổi nên đi lại khó khăn, chỉ có đôi mắt là vẫn sáng linh động. Tôi còn giữ được đoạn ghi chép về lần gặp ông cuối cùng: "Masađô đọc một đoạn trong Khúc bi ca tặng Honhê Manrike" .

Cuộc sống của chúng ta là những con sông

Và cái chết, là biển cả

Biển thu vào mình bao nhiêu sông

Mãi mãi đổ dồn về đấy

Niềm vui nỗi khổ chúng ta

Tất cả những gì làm nên cuộc sống

Sau đó, ông nói về cái chết "Tất cả là ở chỗ chết như thế nào. Cần biết cười, biết làm thơ cho hay, biết sống cho đẹp và cũng biết chết cho đẹp". Bỗng ông cười ngây thơ như trẻ nhỏ và nói thêm: "Nếu người nghệ sĩ nhập vai, anh ta cũng biết rút khỏi sân khấu một cách dễ dàng...".

Antôniô Masađô chết một cách thảm thiết mặc dù ông là nhà thơ khiêm tốn nhất trong tất cả những người mà tôi đã gặp trong cuộc sống. Khi bọn phát xít tiến gần tới Barxelôna, ông cùng người mẹ trốn qua biên giới theo những con đường khủng khiếp vốn có ở các vùng biên giới. Trong cảnh lưu đầy, Masađô sống thêm được ba tuần, ông mất ở Kôliuarơ, từ đó có thể nhìn thấy những ngọn núi Tây Ban Nha. Bà mẹ mất sau ông hai ngày, Masađô không thể sống hơn được nữa.

Giờ đây, ông được công nhận như nhà thơ lớn nhất của Tây Ban Nha trong thế kỷ XX. Các viện sĩ ở Viện Hàn lâm Tây Ban Nha của Phơrăngkô làm lễ kỷ niệm ngày sinh của ông. Các thi sĩ trẻ tuổi làm thơ về ông. Ông đứng ngoài mọi cuộc tranh cãi, đứng ngoài mọi sự kiện, và tôi kể về ông ở đây vì đối với tôi, hình ảnh của ông không tách rời những ngày bi hảm, khi nước Tây Ban Nha phải từ giã chính mình.

Tôi quen với Masađô ở Mađrit vào tháng tư 1936. Tôi nhớ Raphaen Alberti, Nêruđa và hàng chục nhà văn trẻ khác đã hết sức hào hứng nghe thơ ông. Tôi đã nói rằng ông khiêm tốn một cách kỳ lạ, nhưng điều đó còn là rất ít. Tsêkhốp ngượng nghịu khi Bunin gọi ông là nhà thơ; Tsêkhốp phản đối điều ấy, ông cố chứng minh rằng ông còn viết rất vụng về một cuộc sống rất thơ. Về chất người, Masađô có chút gì đó khiến tôi nhớ tới Antôn Paplôvits (Chỉ Tsêkhốp - N.D); một lần nào đó, ông bảo tôi "Có thể chính tôi không phải thi sĩ. Thi sĩ là những Keveđô, Rôngxa, Veclen, Ruben Đariô  kia... Tôi chỉ yêu thơ, đó là sự thật". đó không phải chuyện điệu bộ, đỏng đảnh: sáu mươi tuổi ông còn lúng túng, khi nghe có người ca tụng mình. Và cũng như Tsêkhốp, ông rất tốt bụng, dễ tha thứ cho mặt yếu của người khác, cố biện hộ cho những lời phê phán của bọn tham lam không bằng lòng với số phận, hoặc bọn người quá mê viết nhưng lại bất hạnh. Nhìn ai ông cũng cố gắng lọc ra một chút tốt đẹp, tử tế. Thơ ông trước tiên có yếu tố nhân bản sâu sắc.

Masađô đọc cho tôi ít dòng thơ của Manrike. thật khó tìm một nhà thơ Tây Ban Nha nào mà lại không viết về cái chết. Mùa hè 1938, ở Barxelôna, chúng tôi nói chuyện với nhau về tình hình mặt trận, về thái độ của nước Pháp, và Masađô nói "Ở nước ngoài, người ta thường nghĩ một cách sai lầm rằng người Tây Ban Nha là những kẻ theo thuyết định mệnh và họ thường đón cái chết với thái độ cam chịu. Không, họ cũng biết đấu tranh chống lại cái chết".

Tôi đã chứng kiến chính Masađô đấu tranh chống lại cái chết, trong những ngày cuối đời. Cả những cuộc ném bom lẫn cảnh sống tạm bợ không làm ông tức giận. Ông không muốn rời khỏi Mađrit. Người ta phải "sơ tán" ông về Valenxia như đã sơ tán các bức tranh của viện bảo tàng Prađô. Ông đã viết ở Mađrit, ở Valenxia, ở Barxelôna, viết những bài Xonnê tuyệt diệu, và gần như mỗi ngày đều viết một bài cho tờ báo của mặt trận.

Nhưng Masađô vẫn không quên trở về với những suy nghĩ về cái chết, ở chỗ này, cũng như nhiều người khác, ông vẫn là người Tây Ban Nha thực thụ. ông viết xonnê, các khúc bi ca, thơ không vần và thơ có vần, đặc biệt yêu thích thơ cách ngôn, thứ thơ triết học mỗi khổ bốn câu, phần lớn ông không dùng vần (theo truyền thống của thể Romanxerô, những từ cuối cùng của dòng thứ hai và dòng thứ tư phải nhấn mạnh ở cùng một nguyên âm như nhau); điều này khiến cho thơ ông vang lên tinh tế hơn, kín đáo hơn, so với những liên tưởng xa xôi nhất của chúng ta.

Anh nói rằng chẳng gì mất đi

Nhưng nếu anh đánh vỡ cái cốc

Không ai được uống bằng cái cốc đó nữa

Không có ai, không bao giờ

 

Anh bảo rằng tất cả vẫn còn

Có thể anh có lý

Nhưng chúng ta đã mất tất cả

Và tất cả mất chúng ta

 

Tất cả qua đi, tất cả còn lại

Và sự nghiệp của chúng ta đi

Dần dà trên con đường

Đi tới biển

Tôi cũng thường nhớ một bài khác của ông, gồm nhiều khổ bốn câu:

Nhìn vào cái sọ của tôi

Chàng Hămlet hôm nay nói

"Một sự hoá đá thật đẹp

Những mặt nạ dành cho các hội giả trang"

 

Con người trong biển

Hoàn toàn không cần bốn thứ

Mái chèo, bánh lái, cái neo

Và nỗi sợ phải bơi trên biển

 

Con người phải hai lần đấu sức

Và lần nào cũng bất khuất -

Với Chúa - trong những giấc mơ

Và tỉnh dậy - với biển

 

Mỗi giờ của chúng ta chỉ là những phút ngắn ngủi

Khi chúng ta khao khát biết

Và là thế kỷ, khi chúng ta biết được

Điều có thể biết

 

Thật là thú vị, khi biết rằng

Cái cốc là để uống

Nhưng thật là khó chịu, khi không biết

Khao khát để làm gì.

Ruben Dariô viết về Masađô "Ông chăn dắt cả ngàn con hổ lẫn ngàn con dê con". Trong thơ Masađô thấy có sự kết hợp kỳ lạ giữa những nhánh ngải cứu trên đồng cỏ và vị ngọt ngào của mùa hè, giữa sự thông minh và giản dị. Trong thứ thơ đó có bóng dáng những xóm nghèo dọc theo Xôria, những tảng đá ở Castilia, có những nỗi đau khổ, tinh thần dũng cảm và niềm hy vọng của con người; trong thứ thơ đó luôn luôn thấy hiện ra những con đường đang chầm chậm chuyển mình, con đường lên núi, con đường dưới khe núi, con đường khó nhọc của Tây Ban Nha, của kiếp người.

Cuộc sống của ông chầm chậm trôi qua với mọi người và trong đơn độc, không bao giờ cuộc sống đó được phơi bày như đưa lên sân khấu (mặc dù cùng với người anh của mình, ông có viết cho sân khấu) - mà luôn luôn diễn ra ở ngay những hàng ghế sau của cuộc sống. Thoạt đầu ông là giáo viên dạy văn học Pháp. Sau đó, ông chuyển sang dạy văn học Tây Ban Nha. Ông đã sống ở các thị xã Xôria, Baes, ở Xegôvia, những vùng Xarevôkôksai  khác nhau của xứ sở Tây Ban Nha. Mùa xuân 1937, sau chuyến đi ra mặt trận phía nam, tôi quyết định đến thăm Masađô, bấy giờ ông đang sống ở gần Valenxia. Ông hỏi tôi về những tên phát xít đang ngồi ở Virhen đơle Kabes, sau đó lại hỏi tại sao tôi thích La Mantra. Tôi còn ghi được mấy câu ông nói: "Cảnh vật ở Pháp nom thật nhẹ nhõm, Chúa vẽ nên những khung cảnh ấy, khi đã trưởng thành, có thể là khi đã già, nên tất cả được suy nghĩ kỹ càng, chỗ nào cũng thấy cảm giác mức độ, chỗ đậm lên một chút, nhạt đi một chút là tất cả hỏng hết. Còn Tây Ban Nha thì được người vẽ khi còn đang trẻ, nét bút không phải lúc nào cũng được ngẫm nghĩ đầy đủ, nhiều khi không biết bao nhiêu tảng đá chồng chất lên nhau. Tôi rất thích Đồng cỏ của Tsêkhôp, không hiểu sao tôi cảm thấy người Nga có thể hiểu được phong cảnh Tây Ban Nha. La Mantra, ai cũng biết nói tới mấy chữ này là nói tới Đôn Kihôtê . Nhưng tại sao mọi người không hiểu rằng Anđônxa chính là Đulxinêa. Mỗi người Tây Ban Nha đều coi cô gái đảm đang khoẻ mạnh này là niềm mơ ước của mình, và mỗi người Tây Ban Nha đều tin chắc rằng Đulxinêa biết trông nom gia đình, biết dệt, biết thêu lên áo. Khi viết về Hămlet và và Đôn Kihôtê, Turghênhép không hiểu rằng Anđôxa và Đulxinêa là một. Có thể bởi lẽ các nhân vật nữ của Turghênhép hoặc trong sáng thánh thiện quá, hoặc là những kẻ độc ác? Đôn Kihôtê và Xansô Panxa không đối lập với nhau, mà họ là hai vẻ của một khuôn mặt. Giữa hai bên không có sự tách rời, nhưng hiểu được sự thống nhất của bất cứ mâu thuẫn nào thường vẫn rất khó khăn. Đấy là La Mantra, mà cũng là toàn bộ Tây Ban Nha".

Tôi đã dịch sát từng chữ những nhận xét giàu chất thơ về Đôn Kihôtê - Xansô Pansa. Tôi không dám dẫn ra đây những dòng dịu dàng và nghịch ngợm, mà Antôniô Masađô giành để nóiv ề Anđônxa - Đulxinêa, những câu nói ấy giàu nhạc điệu đến mức nếu biến nó thành những chữ khác thì sẽ tạo nên thất vọng. Điều này khiến cho Masađô gần với Blôk trong Những giờ phút của đêm. Vâng, Masađô đối với Tây Ban Nha cũng tương tự như Blôk đối với nước Nga.

Chậm chậm tới gần. Thái độ của Masađô trong những năm chiến tranh là kết quả tất yếu của toàn bộ đời sống ông, ở đó không có điều gì kỳ diệu, không có những phút bừng sáng của tư tưởng, không có những bước ngoặt, mà chỉ có sự trung thành với chính mình, với Tây Ban Nha, với thế kỷ. Nhiều người, kể cả những người thông tạo ngoại ngữ, vẫn không hiểu ngôn ngữ nghệ thuật. Trong bách khoa toàn thư văn học, một nhà phê bình viết: "Masađô là đại diện điển hình cho bộ phận trí thức tiểu tư sản, trước đòn tấn công của chủ nghĩa tư bản, họ hy vọng thu mình vào thế giới của sự tự phân tích, và toan tìm cách giải quyết những mâu thuẫn của xã hội hiện đại bằng chủ nghĩa nhân đạo tiểu tư sản". Những dòng đó được viết năm 1934. qua năm 1954, một nhà phê bình khác viết trên Đại bách khoa toàn thư Liên Xô "Tuyển tập thơ Cánh đồng Caxtilia (1912) thấm nhuần tình yêu và những suy nghĩ đau xót về số phận của nhân dân Tây Ban Nha. Trong tuyển tập Những bài ca mới (1924), nhà thơ lên tiếng chống lại nghệ thuật tư sản phản động". Có phải là Masađô đã thay đổi? Không, cả hai nhà phê bình đều viết về cùng những cuốn sách ông cho in vào các năm 1912 và 1924. Phải chăng, kỹ xảo phê bình đã thay đổi? Cũng không. Chẳng qua là những năm chiến tranh đã giúp cho những người vốn chỉ hiểu các thông cáo báo chí và không hiểu gì về thơ, những người ấy tìm ra được cái nhãn hiệu nào là thích hợp với Masađô.

Thật là buồn khi nghĩ phải nhờ những loạt bom và những trại tập trung, các nhà thơ mới giành được quyền tồn tại.

Tôi đã để mất nhiều thứ trong cuộc đời, nhưng những quyển sách của Masađô có chữ ký của ông thì vẫn giữ được, tôi đã mang nó khỏi Tây Ban Nha, sau đó là khỏi Pari bị phát xít Đức chiếm đóng. Đôi khi tôi nhìn lại chữ ký, nhìn lại những tấm ảnh (tôi đã chụp ông, hồi ở Barxelôna) và con người ông như nhập làm một với những dòng thơ.

Trên đường tôi đi, em là giọt nước hay cơn khát?

Hãy nói với tôi, người bạn đơn độc của tôi.

Ông đã chiến đấu cùng với nhân dân. Tôi nhớ là ở Ebrô, tư lệnh sư đoàn Taguen đọc cho các chiến sĩ lời chào mừng của Masađô, giọng người chỉ huy run run vì cảm động: "Nước Tây Ban Nha của Xít , nước Tây Ban Nha của năm 1808 nhìn nhận các bạn là những con yêu của mình...". Khi chúng tôi chia tay nhau, Masađô nói: "Có thể chúng tôi chưa học để chiến đấu... Và kỹ thuật của chúng tôi còn yếu. Nhưng không nên xét đoán dân Tây Ban Nha một cách quá nghiêm khắc. Có thể, cuối cùng, chỉ nay mai thôi, chúng sẽ chiếm Barxelôna. Đối với các nhà chiến thuật, nhà chính trị, với các nhà sử học, tất cả sẽ rõ ràng: chúng tôi thua trận. Nhưng xét về phía con người, tôi chưa rõ... Có thể là chúng tôi thắng...".

Ông tiễn tôi đến tận cửa con bên hàng rào. Tôi liếc nhìn và nhận ra ông đang buồn bã, lưng gù, già cả, như nước Tây Ba Nha của ông, một con người thông minh, một nhà thơ dịu dàng. Khi nhìn vào đôi mắt ông, thấy đôi mắt đó lắng sâu, không trả lời, mà như đòi hỏi, có trời biết là điều gì. Tôi nhìn ông lần nữa... Những bụi tử đinh hương quằn quại run lên. Lại bắt đầu một đợt ném bom.

Vương Trí Nhàn dịch (Nguồn: Tạp chí Thơ)

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *