Chân dung văn

21/6
4:02 PM 2017

LÀM BÁO THẬT LÀ HẠNH PHÚC

Đó là câu nói của nhà thơ Bế Kiến Quốc (1949-2002) khi ông đang làm việc tại báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), nơi ông đã cống hiến hơn 20 năm tâm huyết và bút lực của mình. Để có niềm hạnh phúc trên, trong những ngày ấy, nhà báo – thi sĩ Bế Kiến Quốc đã sống và làm việc như thế nào? Câu chuyện do một đồng nghiệp của Bế Kiến Quốc (BKQ) kể lại.

                                         Nhà thơ Bế Kiến Quốc

Tốt nghiệp Khoa văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970, sau 6 năm luyện bút ở Hà Sơn Bình (nay là Hà Tây) BKQ được nhận về báo Văn Nghệ. Anh nói về tờ báo này những ngày mới về: “Đến hôm nay là tròn 6 tháng công tác ở đây. “Nửa năm hơi tiếng vừa quen…”. Tuy nhiên, quan hệ của mình với tờ báo không phải chỉ có nửa năm. Tờ báo đã sinh ra mình – có thể nói như vậy. Mình mang ơn tờ báo này và coi nó như quê hương, như ngôi nhà thân yêu. Mình muốn đem hết sức ra xây dựng, đóng góp, hiến dâng cho nó. Đối với nó, mình có thể làm việc mà không cần đãi ngộ, không cần tăng lương, cất nhắc… Miễn là được làm việc, làm việc để góp một phần nhỏ bé vào tờ báo, vào nền văn học này (thư BKQ ngày 31/5/1978).

Quốc nói tờ báo sinh ra anh vì lẽ, khi anh còn là sinh viên đại học, Văn Nghệ đã trao giải nhì cuộc thi thơ năm 1969 cho anh. Đây là một sự kiện văn học lớn thời ấy, nhờ giải thưởng này, Quốc được Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời cơm thân mật.

Với tờ báo sinh ra mình, Quốc không tiếc lời ca ngợi: “10 giờ đêm 14-1-1986. Lúc này tôi đã có trong tay 32 trang báo Văn Nghệ Tết in xong. Rất đẹp. Đẹp nhất so với mọi báo Tết xuất bản ở Hà Nội. Giá lúc này có anh ở Hà Nội thì thiệt là vui vẻ quá… Báo Văn Nghệ bài vở hay, phong phú, in đẹp (toà soạn xuất cả mực màu dự trữ trong kho riêng ra nữa – 32 trang rất nhiều màu). Công nhân nhà in khi in Văn Nghệ cũng nâng niu, cầu kỳ hơn. Thực là tự hào được làm việc cho một tờ báo như vậy!”.

Không chỉ ca ngợi, vì tờ báo sinh ra mình, Quốc thành người có trách nhiệm với tờ báo của mình. “Vào thập niên 80 của thế kỷ 20, trên các chuyến tàu hoả Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lào Cai và cả những chuyến tàu tốc hành Nam – Bắc người ta thấy xuất hiện một thanh niên nhỏ nhắn, kính trắng, răng xỉn đen vì khói thuốc đang giới thiệu nội dung báo và anh đã bán được rất nhiều báo Văn Nghệ – người đó chính là nhà thơ Bế Kiến Quốc” (Báo Người Hà Nội 6-7-2002)

Vì tờ báo của mình, vì một thông tin độc quyền của Văn Nghệ, Quốc có mặt ở những nơi mũi tên hòn đạn. Anh kể về chuyến đi này: “Được Bộ tư lệnh công binh chi vé máy bay khứ hồi, bọn tôi đã tời TP. Hồ Chí Minh. Sáng 22-2 đi ô tô sang Phnông Pênh. Ngày 23 thăm thủ đô bạn. Do có thư giới thiệu của đồng chí Sáu Bắc (Lê Đức Thọ), bọn tôi được đồng chí Sáu Nam (Lê Đức Anh) tiếp và tạo mọi điều kiện để sao cho với thời gian ít nhất vẫn có thể đi được nhiều nơi (đặc biệt là tuyến biên giới Campuchia – Thái Lan, nơi ta và bạn đang xây dựng phòng tuyến K5 mà chiíh tôi sẽ là người đầu tiên được phép công bố trên báo chí công khai). Điều kiện ưu tiên lớn nhất là được sử dụng một trực thăng dành riêng trong toàn bộ thời gian ở Campuchia. Và ngay sáng 24-2, bọn tôi đã ngồi trực thăng lên Xiêm Riệp…rồi ngay buổi chiều lại bay sang Stung Treng. Sáng 25-2 bay đi Prết Vihia thăm bộ đội Việt Nam và dân công Campuchia đang làm phòng tuyến. Sáng 26-2 đi ô tô (có vệ binh hộ tống và lính rải suốt mấy chục cây số đường để bảo vệ” (Thư BKQ ngày 14-3-1986).

Một tờ báo mạnh như thế cũng có lúc lao đao, Quốc kể: “Vừa qua, do giá giấy công in tăng vọt, hàng loạt báo nghỉ. Anh có để ý thấy điều đó? Văn Nghệ cũng nghỉ tuần ra số 43. Nay đã ra lại (được Nhà nước bù lỗ từ giờ đến hết năm, để khỏi nâng giá báo trước 1986): Hai số 43 và 44 nhập một, ra chậm mấy hôm. Từ 45 ra bình thường” (thư BKQ ngày 1-11-1985). Trong tình hình chung như thế, nội bộ Văn Nghệ cũng không yên, có thư nặc danh tố đủ chuyện: “Riêng nhà tôi thì có người tố giác là kiếm đâu ra tiền mà mua hai xe mi-ni Nhật, ăn uống thường xuyên có thịt cá, khách khứa nhậu nhẹt liên miên. Ban thanh tra đã xác minh là ở báo Văn Nghệ không có chuyện tham ô công quỹ và các thư tố cáo đều là nhảm nhí, thậm chí có nhiều điều đáng gọi là vu khống (chứ không phải hiểu lầm) và có thể bị quy vào tội hình sự. Chi bộ của báo đã họp kiểm điểm gay gắt tình hình vừa qua, kết luận có những kẻ xấu tập trung đả kích vào những nhân tố tích cực. Trong cuộc họp, để truy quét tàn dư tình hình đó, người ta đã phăng dần ra đầu mối tung tin bây bạ…” (thư BKQ ngày 23-7-1985).

Dù thế nào, tờ báo vẫn phải hay, Quốc dấn thân vào cuộc đổi mới các trang Văn Nghệ. “Không hề chủ quan, tôi có thể khẳng định với anh là: thơ của báo Văn Nghệ số 12 nhất định sẽ làm chấn động dự luận bạn đọc. Thơ thực sự lên tiếng một cách thẳng thắn, chân thực về các vấn đề xã hội và đời sống […]. Khi nộp số bài đã chọn cho số 12 lên Tổng biên tập, tôi lưu ý: có thể cực đoan, do đó, Tổng biên tập phải tỉnh táo xem có căng quá không […]. Sau khi đọc xong, ông Nguyên Ngọc bảo tôi: “Rất tốt. Căng nhất chính là bài của Bế Kiến Quốc, nhưng không sao, cứ đi” […]. Thú thiệt, tôi cũng có hơi lo lo. Lo với phần thơ số 12, với cụ thể cả bài thơ của mình đăng trong số đó. Nhưng biết làm sao được. Có hy sinh thì cũng là hy sinh vì nghĩa lớn của đất nước hôm nay. Chứ “không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hanh” (thư BKQ ngày 12-3-1988). Câu trích dẫn kia Quốc lấy từ bài ký Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, bài do chính Quốc biên tập và đưa in trên báo Văn Nghệ.

Việc đổi mới trang báo mà Quốc và đồng nghiệp đã bắt đầu, không phải không có trở ngại! “Và, cũng phải thông báo để anh biết, không phải không có những thế lực vô hình (mà có sức mạnh lắm) đang rình rập, cản trở tờ Văn Nghệ hiện nay đâu. Nói riêng việc đăng thư Đặng Bửu, có ý kiến cấp cao đã chất vấn ông Nguyên Ngọc sao lại cho đăng làm gì. Vì thế, ông Ngọc cũng chỉ đi các thư trả lời ở 2 số báo mà thôi. Trong khi đó, nhiều thư viết rất hay, rất xúc động. Tôi và Mai đọc toàn bộ. Tôi còn nhận viết bài tổng kết nữa kia. Thư bạn đọc cho thấy ý thức dân chủ của nhân dân đã trưởng thành và đó là hậu thuẫn vững mạnh cho sự đổi mới của Văn Nghệ”. (Thư BKQ ngày 16-4-1988).

Để có một số Văn Nghệ hay, có khi Quốc phải chuẩn bị cho số báo ấy từ nhiều năm trước dù việc chuẩn bị ấy chẳng vui vẻ gì. Số báo tiễn đưa nhà thơ Xuân Diệu có bài thơ Không đề mang hình thức trăn trối làm xúc động mọi người là nhờ Quốc “phục bút” từ đã lâu. Quốc kể: “Bài thơ Không đề của Xuân Diệu sẽ in số 52 là bài thờ tôi thấy trong sổ tay Xuân Diệu từ 1980, lén chép, nay đưa ra công bố” (thư BKQ ngày 25-12-1985).

Vẫn về chuyện Xuân Diệu, có những điều chưa thể nói ngày ấy, thì Quốc ghi lại, để hôm nay chúng ta được biết. “Bây giờ, tôi sẽ thông báo với anh kỹ hơn một chút xung quanh việc anh Diệu mất. Trước đó một tuần, chiều, tôi nhận được điện của Hà (vợ Vũ, con dâu anh Huy Cận) báo tin sáng đó bác Diệu mệt, đi nhờ xe vào Việt – Xô (vì anh Cận đi họp ở Dacar) người ta giữ lại viện luôn rồi. Hà nói tôi và anh Hữu Nhuận (ở báo) vào viện thăm chừng, tôi và anh Nhuận đạp xe vô thì thấy các bác sỹ đang khám và chạy chữa trong một phòng bệnh đặc biệt (có hai màn ảnh theo dõi hoạt động của tim). Tình hình đang khá gay go vì đường tim hoạt động không ổn định. Hôm đó anh Nhuận ở lại đêm để trông. Tôi phải về lo báo Tết. Đêm sau tôi vô gác, mang cả bài vở Tết vào làm thì anh Diệu đã khá nhiều, tuy vẫn phải nằm bất động theo lời dặn bác sĩ. Những ngày sau, tình hình sức khoẻ anh Diệu tốt dần. Đùng một cái, khoảng 8 giờ tối hôm đó, tôi ở nhà trông con cho vợ sang Hội nhà văn dự cuộc gặp gỡ các thế hệ thì có điện thoại. Anh Nhuận từ Việt – Xô gọi về, nói: “Anh Diệu mới bị sốc, tim ngừng đập. Các bác sĩ đang cấp cứu, Quốc lấy ngay ô tô của cơ quan đi mời giáo sư bác sĩ Đ (là vua về tim mạch hiện nay) tới gấp để giúp thêm”. Những lái xe lại đi chơi vắng. Tôi vội đạp xe sang Hội. Trước nhất tìm anh Đào Vũ báo tin để tìm cách giải quyết. Bên Hội lúc đó đông vui quá, tôi gần muốn khóc. Anh Vũ vội kéo đi tìm ông Hữu Mai. Ông Hữu Mai bèn đưa tôi xuống ngay ga ra, lệnh cho lái xe đi gấp với tôi. Lúc đó Thái Bá Lợi nghe biết, cũng cùng đi. Bác sĩ Đ không đi, vì “phải có giấy mời của Ban bảo vệ sức khoẻ Trung ương”. Chúng tôi vào viện thì thấy các bác sĩ không cho vào phòng nữa. Nhìn qua của kính, thấy họ đã tiêm mũi tiêm cuối cùng vào thẳng tim anh Diệu rồi. Lát sau, họ báo tin chính thức. Ngay đêm đó, tại Hội, nhiều người đã biết tin, sáng sau có lễ truy điệu ngay tại Hội nghị những người viết văn trẻ. Mọi cố gắng của gia đình và mọi người nhằm thay đổi Văn Điển sang Mai Dịch đều vô hiệu. Dịp này, cả anh Nguyễn Đình Thi và anh Tố Hữu đều đi vắng cả. Khi Chủ tịch Phạm Văn Đồng biết thì quyết định an táng đã ký rồi” (thư BKQ ngày 14-1-1986).

Vẫn chuyện nhà thơ Xuân Diệu: “Hôm 2-2-86, ngày sinh anh Xuân Diệu, một số anh em tổ chức gặp gỡ tại nhà số 24 Điện Biên. Tôi cũng tới. Hôm đó, Tố Hữu đến, trong cuộc trò chuyện, ông nói: “Có lẽ nên lo một nơi cho anh em văn nghệ sau này về an nghỉ chung, chẳng hạn gần chùa Trầm”. Những lời đánh giá về Xuân Diệu rất cao. Sau đó, Tố Hữu đến nghĩa trang Văn Điển thăm mộ anh Diệu” (thư BKQ ngày 10-2-86).

Vậy là trong nghề báo, Quốc đã làm từ việc chạy bán báo dạo tới việc ngồi bàn Tổng biên tập (từ năm 2000, Quốc về làm Tổng biên tập báo Người Hà Nội). Hôm nay, đọc những dòng Quốc viết từ ngày ấy, chợt nghĩ, nhà báo bạn tôi yêu nghề báo của mình đến mức lúc còn được sống thì làm dấn lên như thế, làm báo cả trong các lá thư gửi bạn, để khi không còn được sống thì vẫn còn được làm báo cùng bè bạn của mình. Một người nghĩ sâu đến mức ấy, thì vào những lúc căng thẳng nhất của công việc vẫn có thể thanh thản. Quốc viết vào những ngày quyết liệt nhất trong sự nghiệp báo chí của mình, ngày 23-4-1988 tại toà soạn báo Văn Nghệ, trên giấy viết thư riêng của tờ Văn Nghệ: “Dạo này làm báo thật là hạnh phúc. Mỗi số báo ra đều được chờ đón…”.

Lê Thanh Trầm – Thế giới mới 640

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *