Chân dung văn

23/12
9:06 AM 2016

HUY THÔNG, NGƯỜI MỞ RỘNG NHỮNG BIÊN ĐỘ TƯ TƯỞNG – THẨM MỸ CHO PHONG TRÀO THƠ MỚI

PHƯƠNG LỰU-Hoài Thanh… đã viết: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện… một hồn thơ… hùng tráng như Huy Thông… Huy Thông… đã… nhập tịch vào thơ Việt…cái giọng hùng tráng của Victor Huygo… Đặc sắc của Huy Thông chính ở những bài anh hùng ca… Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy…

Nhà thơ Huy Thông sinh đúng vào ngày Hai mươi hai tháng mười một (1916) như có chút gì tiền định cho tư cách nhà giáo đã nhiều dịp gắn bó trong cuộc đời ông. Quả vậy, mà điều này không phải đợi đến lúc ông trở về thủ đô liền được cử làm Hiệu trưởng đầu tiên (kiêm Giáo sư Sử học) của Đại học Sư phạm Hà Nội (1956), mà lúc còn ở Pháp, mới 31 tuổi (1947), ông đã được phong hàm Giáo sư và giữ chức Ủy viên Hội đồng giáo dục tối cao, tiếp theo còn tham dự Đại hội sáng lập Hội liên hiệp công đoàn giáo dục quốc tế (FISE). Tất nhiên sự nghiệp giáo dục vẫn chỉ là một phần không lớn trong cuộc đời hoạt động sôi nổi từ trong đến ngoài nước của Huy Thông. Ông cũng là người tham gia Đại hội sáng lập Hội luật gia dân chủ thế giới. Và quên làm sao được năm 1946 khi phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sang Pháp thương thảo, ông đã được cử làm thư ký riêng cho Hồ chủ tịch và chung cho cả phái đoàn; sau đó làm Tùy viên văn hóa và tiếp theo là tổng cố vấn cho phái đoàn thường trực nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Pháp. Và trong thời kỳ trở về nước hoạt động sau này,  ngoài mấy năm làm Hiệu trưởng ĐHSPHN, ông lại được giao giữ nhiều trọng trách trong giới khoa học như Viện trưởng Viện khảo cổ, Phó chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội trong một thời gian dài cho mãi đến lúc qua đời (1988). Tất cả những điều trên được trải dài từ tuổi “nhi lập” đến tuổi “cổ lai hy” qua hơn bốn thập kỷ tuy thi thoảng có làm thơ, nhưng không đáng kể. Cho nên không phải ngẫu nhiên, người ta thường chỉ nhắc đến nhà giáo dục, nhà hoạt động văn hóa xã hội, nhà khoa học Phạm Huy Thông, mà tuy không hẳn là quên, nhưng chắc không còn nhiều người nhớ rõ với ấn tượng sâu sắc đến nhà thơ Huy Thông nổi tiếng vang lừng cả một thời Thơ Mới.

Quả vậy ngay trong buổi đầu của phong trào, từ lúc mới 17 tuổi đến khi sang Pháp du học (1937), chỉ vẻn vẹn trong 4 năm, Huy Thông đã cho công bố các tập thơ Tiếng sóng, Yêu đương; Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc; Tây Thi (1937) v.v…, và còn cho đăng rải rác nhiều kỳ các bài thơ trường thiên và kịch thơ Tân Hồng Châu, Kinh Kha, Hậu chiến sĩ, Lòng hối hận trên các tờ Hà Nội báo, Tân thiếu niên, Phong hóa, Tiểu thuyết Thứ Năm v.v… Thật là một suối thơ tuôn trào từ con tim thi sĩ mới trên dưới đôi mươi. Ấn tượng này càng thêm sâu đậm, nếu chúng ta nhớ rằng tập Mấy vần thơ duy nhất của Thế Lữ mãi đến năm 1935 mới được công bố, Tiếng thu của Lưu Trọng Lư xuất bản vào năm 1939, còn Thơ thơ của Xuân Diệu ra đời năm 1938, v.v…Tất nhiên thi tập dày mỏng có khác nhau, việc công bố sớm muộn nhiều ít còn do điều kiện và hoàn cảnh, và nhất là cũng như nhan sắc, thi tài không nằm ở số lượng. Quan trọng nhất ở đây là chất lượng, và về mặt này, tưởng tốt nhất là nên nhường lời cho chính những thi văn tài đương thời ấy. Ngay 1934 Khái Hưng đã cho rằng thơ Huy Thông “có nhiều sáng tạo trong cách chọn hình ảnh và dùng ngôn ngữ” (Lời tựa Tiếng sóng, Yêu đương). Năm 1935, Thế Lữ khẳng định: “ Nàng thơ Huy Thông có nhiều tình cảm, nhiều tư tưởng hay…” (Phong hóa ngày 21/1). Năm 1936, Lê Tràng Kiều ca ngợi: “Từ bao giờ đến bây giờ, người ta đã có mấy lần thấy một tâm hồn hùng tráng như Huy Thông” (Những áng thơ hay) v,v... Tất nhiên thơ Huy Thông không tránh khỏi những nhược điểm, “chưa toàn thiện toàn mỹ” (Khái Hưng). Nhưng đó thường là những bài thơ tình thuần túy, mà trong bài viết nói trên, Thế Lữ có trêu rằng: “Gớm, làm gì mà phải ầm ĩ lên thế, nói nhỏ thôi, để những lời ở cái miệng đa tình lọt vào cái tai đa tình chứ”. Nhưng những sáng tác mang dáng dấp anh hùng ca mà tiêu biểu là Tiếng địch sông Ô v.v…, thì khác. Theo người thân trong gia đình, thì ngay bà nội cũng thuộc làu rất nhiều đoạn, và cụ có nhớ lại vào năm Tỵ (1929), khi đọc truyện Hạng Võ biệt Ngu Cơ cho bà nghe thì Huy Thông đã bắt đầu làm bài này lúc mới mười ba tuổi! Hơi có chút khó tin, nhưng chúng ta thử nhớ lại khái niệm thần đồng với xiết bao minh chứng trong nền thơ văn nước nhà, kể cả thời hiện đại.

Như thế có thể đặt ngay vấn đề về chỗ đặc sắc nhất trong tài thơ Huy Thông làm cho Thơ Mới giàu có thêm lên là gì? Trong khi tổng kết lại cả một thời đại thơ ca, Hoài Thanh… đã viết: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện… một hồn thơ… hùng tráng như Huy Thông… Huy Thông… đã… nhập tịch vào thơ Việt…cái giọng hùng tráng của Victor Huygo… Đặc sắc của Huy Thông chính ở những bài anh hùng ca… Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy… Anh hùng ca của Victor Huygo tưởng cũng chỉ có thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đang chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh…” (Thi nhân Việt Nam). Như thế, theo ý kiến nhà phê bình thì trong thơ Huy Thông chan chứa một giọng điệu hùng tráng, được đan dệt bằng những lời thơ hùng tráng, nhưng đó chỉ là sự hình thức hóa ra bên ngoài cái hồn thơ hùng tráng bên trong, phân biệt với những hồn thơ ủy mỵ, ẻo lả, làm nên những bài anh hùng ca đắc sắc của riêng ông. Sau này nhà thơ qua đời, Huy Cận lại viết: “ Huy Thông sớm nổi tiếng với những bài thơ mang hơi anh hùng ca mà bài nổi tiếng nhất là Tiếng địch sông Ô…, cũng viết một số bài tráng ca khác như Hận chiến sĩ, Con voi già (tặng Phan Bội Châu)… Anh còn viết một số kịch ngắn theo nguồn cảm hứng ấy như Huyền Trân công chúa, Tần Hồng Châu, Kinh Kha… Huy Thông cũng có làm thơ tình như nhiều nhà thơ đương thời. Có điều là thơ tình của anh không đạt lắm khi biểu hiện trực tiếp những mối tình của bản thân anh. Nhưng lại có một mảng thơ tình khác của Huy Thông, đó là những đoạn trong các bài hay trong các vở kịch ngắn, mô tả các mối tình của các nhân vật lịch sử như Huyền Trân công chúa và Trần Khắc Chung, như Hạng Võ và Ngu Cơ…, tình yêu cũng phải “lịch sử hóa” mới đằm thắm thiết tha được… Hơi anh hùng ca là đóng góp độc đáo của Huy Thông trong Thơ Mới. Anh sẽ tồn tại trong lịch sử thơ ca  Việt Nam với đóng góp xuất sắc này” (Kỷ niệm và suy nghĩ về nhà thơ Huy Thông). Hoàn toàn thống nhất với Hoài Thanh, nhưng ở đây Huy Cận không dùng chữ “hồn thơ”, mà nói đến “cảm hứng”, tức là trạng thái phấn hứng cao độ của hồn thơ khi bắt gặp một đối tượng tương hợp. Cảm hứng không thoát ly tư tưởng, nhưng còn rất liên quan với đề tài. Trên cơ sở những dẫn chứng Huy Cận nêu ra, trước hết có thể thấy thêm rằng, thơ tình yêu thuần túy của Huy Thông cho dù có hay cũng không thể nào mang chất hùng tráng được. Nhưng khi tình yêu kết hợp với vận mệnh người anh hùng thì có thể xuất hiện anh hùng ca mà tiêu biểu nhất là Tiếng địch sông Ô. Cũng có khả năng như vậy khi tình yêu kết hợp với lòng yêu nước, đó là trường hợp Huyền Trân công chúa viết về tình duyên trắc trở giữa Huyền Trân với Khắc Chung, nhưng rồi được giải quyết theo hướng đặt lợi ích của đất nước lên trên, cho nên vẫn chan chứa một giọng thơ hùng tráng. Thật ra chất hùng tráng trong thơ Huy Thông còn có thể bắt nguồn từ những cảm hứng riêng lẻ về lòng yêu nước như Giấc mộng Lê Đại Hành, về vận mệnh người anh hùng như Kinh Kha, hoặc kết hợp cả hai loại cảm hứng này như Con voi già v.v… Tóm lại, sở dĩ Huy Thông làm cho Thơ Mới giàu có thêm bằng phong cách thơ hùng tráng là vì nhà thơ đã mở rộng cảm hứng thơ từ tình yêu cá nhân đến lòng yêu nước và vận mệnh người anh hùng, cả trong hai dạng đơn lập hoặc liên kết, kể cả liên kết với cả cảm hứng về tình yêu. Nhưng đây mới chỉ là đóng góp thiên về mặt nội dung.

Cống hiến thiên về mặt hình thức, thì có thể nói đến phương diện thể loại với tư cách là hình thức chỉnh thể tác phẩm trong sáng tác của Huy Thông. Ở trên nói Thơ Huy Thông là theo nghĩa rộng rãi không thật chặt chẽ, bởi vì rất khác với tất cả các nhà thơ cùng thời (trước năm 1937), ông còn sáng tạo ra thể loại kịch thơ lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn nước nhà. Công lao này đã được chính thức ghi nhận ngay từ thời trước cách mạng. Năm 1944, trong bài Kịch viết bằng thơ, nhà phê bình Lê Thanh đã khẳng định: “Huy Thông là người khởi xướng ra lối viết kịch bằng thơ…” (Tri tân, số 133). Tất nhiên đây phải là một quá trình thử nghiệm, từng bước. Sự mở rộng cảm hứng nói trên ít  nhiều đã kéo theo một sự mở rộng không gian cho thơ. Lúc đầu, Huy Thông đã viết hàng loạt bài thơ dài từ bảy tám chục đến hơn ba trăm câu: Chiều hôm qua, Lòng son sắt, Trên bãi bể v.v… Đặc biệt trong những bài thơ dài này đã xuất hiện có hệ thống những đối thoại, chứng tỏ lời thơ là sự liên kết ngôn từ của những chủ thể khác nhau. Nhưng đây mới chỉ là dấu hiệu của thể loại kịch bản về mặt hình thức, cho nên chưa phải là kịch, chỉ có thể tạm hình dung là “thơ đối thoại”. Nhưng rồi Huy Thông đã tiến lên đưa yếu tố xung đột vào, mà tiêu biểu là Tiếng địch sông Ô: Hạng Võ tuy quyết chí phá vây, nhưng còn vương vấn với vận mệnh Ngu Cơ, trái lại Ngu Cơ thì không muốn vì mình mà Hạng Võ hy sinh nghiệp lớn, cộng với tiếng địch Trương Lương như một vũ khí “tâm công” đặc hiệu, dần dần làm tan rã ý chí của đấng anh hùng. Nhưng nổi bật lên trong tác phẩm vẫn là vai trò trần thuật của chủ thể trữ tình trong việc dẫn dắt nhân vật và giới thiệu tình huống, rồi bình luận hoặc suy cảm. Tác phẩm chỉ có thể ngâm, chứ không thể diễn trọn vẹn trên sân khấu, nhiều lắm cũng chỉ được một số hoạt cảnh mà thôi. Tiếng địch sông Ô, do đó, tuy rằng đã có yếu tố kịch, nhưng chủ yếu vẫn là thơ. Đặc điểm thể loại này vốn đã có một thuật ngữ quốc tế để hình dung, đó là thơ kịch (dramatic poetry, poésie dramatique). Nhưng Huy Thông không dừng lại ở đây, mà đã vươn lên dùng lời thơ diễn tả những mâu thuẫn xung đột qua những đối thoại của nhân vật, có thể tự biểu diễn trọn vẹn trên sân khấu, loại bỏ được vai trò có tác dụng trần thuật, dù là hàm ẩn ở bên ngoài. Vẫn có yếu tố thơ, nhưng loại tác phẩm này  đã chuyển hẳn sang thể loại kịch, và đây mới đúng là kịch thơ (poetic drama, drame en vers). Chỉ trong vòng mấy năm, Huy Thông đã viết sáu bản kịch thơ. Ngoài Lòng hối hận, Cờ nghĩa Tây Sơn đã thất lạc, chỉ còn Anh Nga (1934), Tần Hồng Châu (1935), Huyền Trân công chúa (1935), Kinh Kha (1936). Khách quan mà nói, những kịch thơ này không thể sánh đẹp với tác phẩm thơ kịch Tiếng địch sông Ô. Bởi vì thể loại không quyết định được gía trị thẩm mĩ của tác phẩm. Vả chăng Huy Thông chủ yếu là thi sĩ, dù đã mở rộng cảm hứng đến những mâu thuẫn xung đột trong cuộc sống, thì cũng chỉ có thể biểu hiện hay nhất những phương diện này chủ yêu bằng chính phương thức của thơ. Điều đó cũng giải thích tại sao để đến được với kịch thơ, một thể loại lưỡng tính, vừa văn học vừa sân khấu, Huy Thông đã phải trải qua một quá trình thử nghiệm mò mẫm vất vả như vậy. Nhưng dù là thơ kịch hay kịch thơ, xét về tính chất thuần túy thể loại, thì không phải do chính Huy Thông sáng tạo ra, vì chúng đã có sẵn trong văn học phương Tây mà ngay từ thuở thiếu thời ông đã đọc nhiều của Byron và Huygo. Công lao của Huy Thông là dẫn nhập, vận dụng chúng vào văn đàn nước nhà. Tất cả những điều trên là nói cho cạn nhẽ, còn vai trò đặt nền móng của Huy Thông cho kịch thơ (kể cả thơ kịch) Việt Nam là một sự thật lịch sử không cần thiết mà cũng không có thể thay thế được.

Trở lên, đã có thể thấy bằng phong cách hùng tráng bắt nguồn từ cảm hứng thơ đã vươn đến tinh thần yêu nước và vận mệnh người anh hùng, và bằng sự dẫn nhập thể loại kịch thơ vào văn đàn nước nhà, Huy Thông đã mở rộng nhưng biên độ tư tưởng thẩm mỹ của Thơ Mới như thế nào rồi. Nhưng đó mới chỉ là xét vấn đề từ góc độ bản thể tự có của Huy Thông, song còn đáng quý là gắn liền với nó, trên bình diện tác động, lại thấy phong cách ấy thể loại ấy, đã gây ảnh hưởng đến các nhà thơ khác, nghĩa là có sự tiếp nối ngay trong lòng phong trào Thơ Mới… Mà điều này vốn cũng đã được người đương thời xác nhận. Sau khi xác định phong cách (hồn thơ, giọng thơ, lời thơ) hùng tráng như trên, Hoài Thanh viết tiếp: “Huy Thông đã lập ra một trường thơ nhỏ, trong ấy có: Lam Giang, Phan Khắc Hoan và một nhà thơ sau này sẽ đi xa: Chế Lan Viên” (Thi nhân Việt Nam). Ý nhà phê bình muốn nói cái hồn thơ, giọng thơ, lời thơ Huy Thông đã gây ảnh hưởng đến các nhà thơ khác, tạo ra được loại hình phong cách hùng tráng trong thơ Mới. Quả vậy nếu thơ Huy Thông, chưa cần những bài anh hùng ca, vốn cũng đã thường nói đến “chí làm trai” như: “Tôi dấn thân vào cuộc đười rộng rãi. Tôi hằng mơ, hằng chờ, hằng đợi mãi. Đường giong phi ai kẻ hãm gót tôi băng. Và nan thưa đâu cản nổi sức chim bằng?” (Trên bãi bể), thì Phan Khắc Khoan cũng viết bài Hồn nam nhi với những câu thơ như: “Người xưa ném bút theo đao cung. Còn bút ta nâng luống thẹn thùng. Ví bằng bút phụ lời ta nguyện. Biết kiếp nào dây sáng nghiệp hùng?” v.v… Năm 1935 Huy Thông viết Con voi già đăng trên báo Tân thiếu niên với lời đề tặng cụ Phan Sào Nam, mật thám Pháp liền đến nhà hăm dọa và chẳng bao lâu sau tờ báo bị đình bản. Con voi già, thật ra là một hình ảnh ẩn dụ về cụ Phan Bội Châu, một đấng anh hùng đang lỡ vận, trong đó có những câu thơ hồi tưởng lại một thời oanh liệt gây tiếng vang lớn trên văn đàn lúc bấy giờ: “ Nó ngang dọc vẫy vùng trên non biếc. Hống hách thay những buổi sức mạnh đầy. Nó làm chúa muôn cầm thú cỏ cây…”. Như là một hồi âm, năm 1937 Chế Lan Viên viết bài Chiến tượng cũng có thể xem như một ẩn dụ về số phận của dân tộc Chàm, nếu chưa muốn nói còn xa rộng hơn, trong đó cũng có những câu thơ ngợi nhớ đến một quá khứ huy hoàng: “…Chiến thắng vang lừng mãnh liệt. Muôn binh Chàm thắng trận giở quân về… Nơi một lối máu gào vang chiến địa. Nơi vang lừng tiếng hát vạn dân Chiêm”. Đây chỉ là nhắc qua một vài dẫn chứng trong sáng tác của một số nhà thơ mà Hoài Thanh… có trực tiếp nhắc đến, nhưng như là một sự tiếp tục khơi dòng cho một mạch thơ hùng tráng còn xuyên thấm qua Thơ Mới vào nửa đầu những năm bốn mươi như Trần Bình Trọng của Nguyễn Văn Cổn, Lòng chiến sĩ (với lời “Kính tặng hương hồn Phạm Ngũ lão”), Độc hành ca của Trần Huyền Trân, nhất là với Vọng nhân hành, Tráng ca, Lưu biệt của Thâm Tâm v.v…

Về thể loại kịch thơ, thì cũng chính Lê Thanh, sau khi khẳng định vai trò khởi xướng, còn tiếp tục xác nhận Huy Thông “đã có ảnh hưởng và vạch lối đi cho những nhà viết kịch thơ sau này” (Kịch viết bằng thơ). Quả vậy, chỉ sau mấy năm khởi xướng bằng thực tiễn sáng tác của Huy Thông , một phong trào viết kịch thơ liên tục xuất hiện từ cuối những năm 30 cho mãi tận năm 1945. Nếu kể từ Hàn Mặc Tử với Duyên kỳ ngộQuần tiên hội (1939) đến Lưu Quang Thuận với Người Hoa LưYêu Ly (1945) thì có non mười nhà thơ ít nhiều quen thuộc như Phan Khắc Khoan, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương, Thao Thao, Hoàng Cầm với trên dưới hai mươi kịch thơ chào đời. Nhưng vấn đề không chỉ là noi theo về mặt thể loại, mà còn là thể loại mới xuất hiện này thì trong buổi đầu viết về cái gì là thích hợp nhất? Không phải ngẫu nhiên mà ngoài những chữ khởi xướng, ảnh hưởng ra, Lê Thanh còn nói đến chuyện vạch lối đi. Bởi vì thực tế cho thấy những nhà viết kịch thơ về sau, mặc dù có nhiều sáng tạo, nhưng họ cũng viết lại theo bốn loại chủ đề mà Huy Thông đã từng trải nghiệm. Nếu Anh Nga của Huy Thông viết về tình yêu lãng mạn, thì đã được tiếp nối với Duyên kỳ ngộQuần tiên hội (1939) của Hàn Mặc Tử, Vân Muội (1942), Trương Chi Hồng Điệp (1944) của Vũ Hoàng Chương. Nếu Kinh Kha của Huy Thông viết về vận mệnh người anh hùng, thì cũng được tiếp nối với Quán biên thùy (1943) của Thao Thao. Còn Huyền Trân công chúa viết về mối quan hệ giữa tình yêu và tinh thần yêu nước, đã được tiếp nối với Lý Chiêu Hoàng (1942) của Phan Khắc Khoan và Viễn khách (1943) của Hòa Thu. Cuối cùng, Tần Hồng Châu viết về mối quan hệ giữa tình yêu và sự nghiệp người anh hùng, thì cũng được tiếp nối với Trần Can, Phạm Thái, Trương Quỳnh Như (1942) của Phan Khắc Khoan và Hận nam quan (1942) của Hoàng Cầm v.v… Hiển nhiên, những người đi sau còn viết về một số chủ đề khác nữa, nhưng ngày ở những chủ đề được tiếp nối này, họ đã viết linh hoạt phong phú hơn, nhất là đã tăng cường được tính chất sân khấu trong kịch bản, cho nên lần lượt đã được trình diễn trên sân khấu. Điều này không hề làm suy giảm, trái lại càng tôn vinh thêm vai trò khai sinh của Huy Thông đối với nền kịch thơ hiện đại của nước nhà.

Tóm lại, nghiên cứu sáng tác Huy Thông từ hai mặt bản thể và tác động, càng làm rõ thêm Thơ Mới đâu chỉ có tình yêu riêng tư, mà còn chan chứa tình cảm công dân với đất nước, đâu chỉ có thân phận cá nhân, mà còn có vận mệnh của người anh hùng của dân tộc và thời đại. Và chính là phong trào Thơ Mới, chứ không phải là phong trào Tân kịch (Kịch nói) mới là mảnh đất sinh thành cho dòng kịch thơ nước nhà mà gần đây dường như được tái sinh lại. Và xin tạm không nêu ra tư cách học giả, chính khách chủ yếu trong cuộc đời hoạt động sôi nổi đằng đẵng gần nửa thế kỷ của GS.Phạm Huy Thông, chỉ nhắc đến thi sĩ trẻ tuổi trên ít dưới nhiều tuổi đôi mươi Huy Thông, thì không những đã là người góp phần mở đầu cho Thơ Mới, mà còn chỉ vẻn vẹn trong ba, bốn năm, từ tuổi mười bảy đến hai mốt đã sáng tạo ra một gí trị tư tưởng thẩm mỹ độc đáo mà lan tỏa, biểu dương mạnh mẽ cho tâm hồn và trí tuệ sáng tạo ngời ngời của tuổi trẻ Việt Nam.

 

HUY THÔNG NHÀ THƠ MỚI TIÊU BIỂU
QUA “MẮT XANH” CỦA HOÀI THANH

GS. Phong Lê

Sinh năm 1916, Huy Thông cùng thế hệ với Xuân Diệu, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương…; thuộc thế hệ sau của Thế Lữ (sinh 1907), Thanh Tịnh (1911), Lưu Trọng Lư (1912), Hàn Mạc Tử (1912), Vũ Đình Liên (1913), Nguyễn Nhược Pháp (1914)…

Nhưng trước khi nói đến Huy Thông – nhà thơ, còn và cần phải nói ông là người của nhiều nhà trong một nhà. Trước khi mất, vào tháng 6 năm 1988, ở tuổi 72, ông là Viện trưởng Viện Khảo cổ kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. Những năm sau Hòa bình lập lại -1954 ông là Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong kháng chiến chống Pháp ông hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Pháp, tham gia Đảng Cộng sản Pháp; từng có lúc là Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - khi Người sang thăm Pháp năm 1946, và tham gia phái bộ Phạm Văn Đồng ở Hội nghị Fontainebleau. Trước 1945, ở tuổi trong ngoài 30 ông là sinh viên du học ở Pháp, nhận nhiều bằng, gồm cả Tiến sĩ và Thạc sĩ trên các lĩnh vực luật học, sử học và văn chương. Trước khi du học, ở tuổi 20, ông đã có bằng Cử nhân Luật. Phải nói cái bằng Cử nhân lúc này là rất to; đa số nhà văn thế hệ tiền chiến chỉ có bằng Tú tài - tây hoặc ta (tốt nghiệp Cấp Ba), hoặc Thành chung (tốt nghiệp Cấp Hai); nhiều người rất nổi tiếng mới chỉ có Cấp Một…Và, rất đáng lưu ý, trong thời gian từ 1932 đến 1936, ông đã tham gia vào một phong trào sáng tác văn học rất có ý nghĩa trong lịch sử văn chương và lịch sử thơ ca Việt. Đó là phong trào Thơ mới.

Thơ mới ra đời bằng bài thơ Tình già của Phan Khôi, đăng trên Phụ nữ tân văn số ra ngày 10-3-1932, rồi nhanh chóng nhập cuộc văn đàn, và chiếm ưu thế trong chiến đấu với thơ cũ vào nửa đầu thập niên 1930, để vào nửa sau là toàn thắng, là chiến thắng triệt để, rồi đi vào thoái trào vào nửa đầu thập niên 1940. Tất cả chỉ trên 10 năm cho sự phát triển một phong trào thơ, nó là kết quả của yêu cầu hiện đại hóa; của con đường văn chương Việt và thơ ca Việt tham gia và hội nhập vào thế giới hiện đại; của sự phát triển từ ý thức cộng đồng với chủ thể là cái Ta vốn ngự trị trong thơ cổ điển Việt Nam hàng nghìn năm cho đến đầu thế kỷ XX - với những đại gia tiêu biểu cuối cùng là Nguyễn Khuyến, Tú Xương… sang chủ nghĩa cá nhân với chiến thắng của cái Tôi qua người phát ngôn đầu tiên là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu; để - cuối cùng là sự xuất hiện cùng một lúc nhiều chục gương mặt thơ tiêu biểu, với phong cách cá nhân rất rõ nét, nó là cái đích cao và xa cho bất cứ thời nào của lịch sử văn học dân tộc và nhân loại.

Mười năm, từ 1932 đến 1942, khi sách Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân ra đời, như một tổng kết tuyệt vời về hành trình và thành tựu của phong trào Thơ mới, nó là Một thời đại trong thi ca như tên bài Mở đầu. Một cuốn sách có giá trị thế kỷ như sự khẳng định trong một Hội thảo do Viện Văn học chủ trì, vào ngày 27-3-1992, nhân Kỷ niệm 10 năm ngày mất của Hoài Thanh, và 50 năm Thi nhân Việt Nam.

Mười năm phong trào Thơ mới, với 45 chân dung được chọn tuyển cùng với lời bình của Hoài Thanh trong sách Thi nhân Việt Nam, trong đó có Huy Thông.

Mười năm, ở chặng đầu của nó (1932-1936) là sự xuất hiện của Huy Thông, một xuất hiện rất mới mẻ, rất ấn tượng, rất trọn vẹn như được ghi nhận trong một đoạn văn ở bài Mở đầu của Hoài Thanh:

“Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.

Ở đây chỉ 8 nhà thơ được Hoài Thanh chọn và định danh một nét nổi trội, đặc sắc trong cá tính thơ, với Thế Lữ là rộng mở, với Lưu Trọng Lư là mơ màng, với Huy Thông là hùng tráng, với Nguyễn Nhược Pháp là trong sáng, với Huy Cận là ảo não, với Nguyễn Bính là quê mùa, với Chế Lan Viên là kỳ dị; còn riêng Xuân Diệu là gồm cả ba: thiết tha, rạo rực, băn khoăn…

Tất nhiên, đúng như rào đón của Hoài Thanh: Đây là so thời với thời, chứ không phải so người với người. Bởi nếu so người với người thì động đến Nguyễn Du …

“Tôi không so sánh các nhà Thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém. Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không ai sánh kịp!”

Trở lại với khái quát trong đoạn văn trên của Hoài Thanh, quả thật là đúng cho từng người. Nó cho ta hiểu: Từ điểm xuất phát ngay từ chặng đầu, phong trào Thơ mới đã đem lại cho thi đàn Việt Nam trước 1945 và suốt cả thế kỷ XX 5 đại thụ: Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính;  chỉ riêng Thế Lữ, Lưu Trọng Lư và Huy Thông là một sáng chói trong khởi động ở thời kỳ 1932-1936; còn từ sau 1936 thì Thế Lữ và Lưu Trọng Lư sẽ chuyển dần sang sân khấu và Phạm Huy Thông hướng vào các lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn…

*

*     Trở lại với Huy Thông ngay từ tuổi 18 đã có một khởi động rất ấn tượng, để lại dấu ấn khá đậm trong phong trào Thơ mới, qua 4 tập thơ được ấn hành từ 1934 đến 1936, ứng với tuổi 18 đến 20 của Phạm Huy Thông. Đó là: Yêu đương (1934), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc (1936), cùng nhiều bài thơ lẻ trên các báo như Phong hóa, Ngày nay, Đông Dương tạp chí, Hà Nội mới, Tân thiếu niên…

Và đặc biệt, qua lời bình của Hoài Thanh. Bốn mươi lăm tên tuổi được chọn trong Thi nhân Việt Nam không phải bất cứ ai cũng được chọn nhiều bài và được đánh giá cao; có người chỉ một, hoặc vài bài; còn lời bình thì nhiều người có cả khen và chê. Không kể dăm mười người xứng đáng được hưởng trọn sự đánh giá rất cao, và sau này trở thành đại thụ trong nền thơ thế kỷ XX, một số người khác tuổi đời ngắn như Nguyễn Nhược Pháp, Bích Khê, hoặc xuất hiện ngắn như Huy Thông cũng được đánh giá cao. Trong trích tuyển với lời bình giành cho Huy Thông, người đọc thấy rõ Hoài Thanh đã không dấu diếm một tình cảm đặc biệt đối với Huy Thông, qua thơ và cả đối với người. Còn với một số người khác thì thơ và người là có khác nhau; có khi chỉ khen thơ mà tránh nói đến người.

“Đặc sắc của Huy Thông chính ở những bài anh hùng ca như bài Tiếng địch sông Ô tả bước cùng của Hạng Tịch. Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy”.

Dẫn một đoạn thơ trong Tiếng địch sông Ô, trong đó có 2 câu:

(…)

Nhưng than ôi! Vận trời khi đã tận

Sức “lay thành nhổ núi” mà làm chi!

Hoài Thanh viết: “Hơi văn mà đến thế thực đã đến mức phi thường. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đang chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh. Nó lôi cuốn bừa đi. Người xem thơ ngạc nhiên và sung sướng vì thấy mình vẫn còn đủ tráng khí để buồn cái buồn Hạng Tịch”. Buồn Hạng Tịch gắn với Huy Thông, theo lời bình của Hoài Thanh là một cái buồn sang trọng, buồn gắn với bi mà không ủy mị, không rên rỉ. Nếu chứng kiến cái buồn là trạng thái chủ đạo và bao trùm của Thơ mới trong suốt hành trình của nó thì mới thấy quý cái lạ của Huy Thông, và lời bình của Hoài Thanh là có lý.

Như vậy là Hoài Thanh đã rất tinh tế cho ta thấy trong Thơ mới, Huy Thông đã tìm được cho mình một chỗ trốn, một cách thoát ly thực trạng - cùng lúc là quá khứ và tình yêu, hoặc một tình yêu trong quá khứ; với những câu thơ rất hay, rất tiêu biểu, như:

Đi! Cùng anh tới Cô Tô thành cũ

Chờ trăng lên mơ nữa giấc mơ xưa

Còn tình yêu trong hiện tại thì phải nhường cho Xuân Diệu; tình yêu quê mùa không ai thay được Nguyễn Bính; tình yêu trong trụy lạc phải dành chỗ cho Vũ Hoàng Chương… Một chỗ trốn, tức là một cách thoát ly; và là thoát ly vào nhiều chỗ trốn - đó là nội dung bao trùm của cả phong trào Thơ mới. Thoát ly ở đây là một thái độ đối với thực trạng, và thực trạng ở đây là xã hội thuộc địa (chứ không phải là xã hội mới - như sau này) để thấy không phải thoát ly nào cũng là tiêu cực như sự phê phán kéo dài trong nhiều chục năm sau 1945. Riêng cách thoát ly của Huy Thông thì ít có lý do để phê phán và tự phê phán. Và đương nhiên thế giới thơ Huy Thông là có một độ chênh, một so lệch so với thế giới thực - nó chỉ là thế giới của ao ước, của khao khát, và diễn ra trong tưởng tượng; và điều này cũng đã được Hoài Thanh nói đến:

“Chỉ tiếc rằng Huy Thông, người anh hùng trong mộng tưởng ấy lại cũng là một người thiếu niên khao khát yêu đương và rất lễ phép với đàn bà. Có khi vô tình người đã phác họa Hạng Tịch theo hình ảnh của mình. Đã đành Hạng Tịch mê Ngu Cơ, đã đành ái tình không chia kim cổ, nhưng tình yêu của Hạng Tịch hẳn phải thế nào chứ”. Hãy đến với Huy Thông mà nhận diện kiểu tình yêu đó!

*

*   *

Đọc rất sớm Thi nhân Việt Nam, và qua Thi nhân Việt Nam mà thuộc rất sớm nhiều nhà Thơ mới, tôi đã rất sung sướng khi được nghe, được học, rồi được chỉ dẫn bởi Phó Viện trưởng Viện Văn học Hoài Thanh ở tuổi thành niên. Cũng qua Thi nhân Việt Nam mà tôi được biết rất sớm Huy Thông bởi 2 tuyển chọn thơ cùng với lời bình của Hoài Thanh chiếm khá nhiều trang, so với nhiều tác giả khác; một là kịch thơ Anh Nga – 43 khổ - 176 câu, gồm 3 nhân vật: Anh Nga, Ngân Sinh và một “nhân vật” thứ ba là Tiếng ca – thay lời tác giả hoặc công chúng; và bài thơ Khúc tiêu thiều, 7 khổ 28 câu, gợi nhớ tình yêu Tây Thi – Phạm Lãi thời Chiến quốc Trung Hoa. Cả kịch thơ và thơ đều có chủ đề tình yêu, nhưng là tình yêu trong sương khói lịch sử và hòa trộn với thiên nhiên; một thiên nhiên với “vầng hồng tắm nắng chân mây xa” (trùng điệp 12 lần) gần như là đứng yên bất động ở phía chân trời…

Đây là tình yêu còn rất thanh khiết, không nhuốm màu vật dục, càng không trụy lạc hoặc phá phách, điên loạn, được phát ngôn bởi, và rất thích hợp với - một tuổi trẻ nhiều khát vọng.

Năm năm sau ngày thành lập Viện Văn học, vào năm 1965, Viện Khoa học xã hội ra đời, rồi sau đó chuyển thành Ủy ban khoa học xã hội. Mãi đến lúc này tôi mới có hoàn cảnh tiếp xúc với Phạm Huy Thông - nhà thơ mới tôi mới chỉ có thể hình dung rất ấn tượng qua thơ, nhờ vào Hoài Thanh; còn bây giờ là một trí thức lớn, cấp Phó cho Giáo sư Chủ nhiệm Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn. Không biết có cuộc hội ngộ nào thú vị giữa Hoài Thanh và Phạm Huy Thông 30 năm sau sự kiện Thơ mới và Thi nhân Việt Nam? Tôi nói 30 năm, bởi từ 1969, sau 9 năm cáng đáng công việc Viện Phó cho Đặng Thai Mai, Hoài Thanh đã rời Viện Văn học để chuyển sang Hội Nhà văn Việt Nam, rồi mất vào năm 1982, ở tuổi 73, sau nhiều năm đau yếu. Còn Phạm Huy Thông thì từ giữa thập niên 1960 mới chuyển về Ủy ban khoa học xã hội, đến tháng 6 - 1988 mới qua đời một cách bất ngờ với nhiều bí ẩn ở tuổi 72. Vào đúng thời gian này tôi được nhận chức trách Viện trưởng do anh chị em cán bộ Viện Văn học bầu - một Viện trưởng duy nhất được bầu; và không lâu sau đó, GS Hà Văn Tấn, người đồng hương của tôi công tác ở Đại học Tổng hợp được mời về Ủy ban khoa học xã hội nhận chức trách Viện trưởng Viện Khảo cổ còn để trống sau khi Viện sĩ Phạm Huy Thông qua đời ./.

Tháng 11 - 2016

 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *