Chân dung văn

25/2
10:20 AM 2017

ĐÁY TRĂNG-TRUYỆN NGẮN CỦA NHẬT HUY

Ngôi chùa nằm chênh vênh trên đỉnh núi. Trăng vành vạnh xuyên thẳng qua những mái ngói mục nát. Đây là nơi xa xôi nên chẳng ma nào thèm đến. Ngôi chùa đa phần kiến trúc bằng gỗ và dấu vết thời gian đã bải hoải trên công trình. Trong những đêm sương và trăng cùng ghé qua, chùa phát sáng long lanh.

Tấm gỗ quanh chùa đen bóng tuyệt không có một họa tiết nào. Nó mộc mạc và đơn giản. Chính giữa là bức tượng Phật khá lớn bằng đá. Hai hộc mắt tượng không biết vì thời gian hay ai khoét đi chỉ thấy sâu trũng lại một màu đen tê tái.

*

Tôi đã cùng đường. Tôi đã chạy mấy ngày mấy đêm lang thang nơi núi rừng này. Tôi gục ngã và thiếp đi. Trí nhớ lẫn lộn, con dao đâm xuyên qua người đó. Máu. Rất nhiều máu còn khô vương lại trên má. Tôi không sẵn sàng nhận hình phạt. Tội lỗi. Tôi không có tội. Vẻ đẹp thanh cao ấy đã chết trong tay tôi. Thứ mà tôi tôn thờ và mê đắm. Con dao mờ mờ trong đêm, tôi cắt một lát bánh lên ăn để đủ tỉnh táo căng cặp mắt sưng mọng mà đi. Có tiếng suối gần đây. Tôi tiếp tục chạy đến lúc lê trên đất vì khát và đói tôi không nhận ra phương hướng. Tất cả mọi thứ đều là sương núi lạnh lẽo. Tay tôi chạm vào một hư vô hay một bậc thang.

Ánh sáng lóa cắn vào đôi mắt sưng húp. Tôi tỉnh dậy thấy bậc thang u ám mà mình phơi sương cả đêm qua. Lạnh đến chân như thắt lại. Tôi lê từng bậc vào trong uể oải. Tôi nhìn thấy bức tượng Phật lớn bằng đá có hai hộc mắt sâu hoắm. Mạng nhện lắc lư trên đôi môi im lặng. Nhìn ra ngoài cửa sổ đã gãy cánh thấy mọi sự như đóng băng. Cành cây phủ kín hai phần ba chùa. Quả là nơi lý tưởng để chạy trốn.

Loay hoay cuối cùng cũng nhặt được ít lá lót thành cái ổ để đêm đỡ lạnh. Mấy mảnh chai lọ vỡ đủ đựng nước suối để dùng. Nguyên thủy sẽ không có tội ác. Tôi không có tội. Cút đi. Tôi không cần thế giới này. Tôi đã tìm ra bình yên. Bức tượng này là thật. Cái bát này là thật. Tôi hài lòng lắm vì không phải đối mặt với sợ hãi gì nữa. Sự an toàn hoàn hảo khỏi phán xét.

Cả ngày bải hoải vì chưa quen yên lặng chết chóc nơi này. Tôi tự nhủ vẫn còn hơn là đối mặt với những gì đã qua. Con dao và một bông hoa đổ gục. Tôi bắt đầu khám phá nơi mình định sẽ sống. Sau bức tượng đá là một căn hầm. Tôi châm một ngọn nến cháy dở và cúi mình luồn xuống. Đường tối. Vách đá long tong rêu nước. Mờ mờ chân tôi vấp phải gì đó và ngã xoài ra. Chống tay dậy lại chạm vào cái gì trơn trơn, ghê ghê. Ghé đèn sát lại thì thấy một bộ xương. Một bộ xương nửa đen nửa trắng. Tôi sợ và chạy vụt lên trên như không quan tâm bóng tối.

*

Đêm. Run cầm cập. Trăng rọi qua mái trống. Ngôi chùa như hút hết ánh trăng. Tôi gồng mình hứng những trận gió núi thê thiết rồi chìm vào giấc ngủ. Hình như có bóng tối kéo lấy chân tôi. Màu đen dần cô lại thành hình không ra người, quỷ không ra quỷ. Cười gằn:

“Ta sẽ trả lại hết. Trả lại hết. Những gì ta phải chịu. Các người đè lên ta. Xích ta lại. Ta đói khát. Ta chết nhưng ta sẽ trả cả vốn lẫn lãi”.

Con dao đâm phập xuống. Hình như máu chảy nhưng máu cũng đen. Tôi không kêu thành tiếng. Tôi cố bò ra cửa sổ để nhảy xuống cho thoát khỏi cơn kinh hãi này. Dao cứ đâm loạn xạ. Ánh đen tuyền cắt cả màn đêm. Ánh sáng từ trăng rọi vào. Tôi bừng tỉnh. Hóa ra là mê. Mái ngói bứt tung mấy trang giấy rơi lả tả. Tôi định thần và gom chúng lại và ngồi thức cho đến sáng để đọc mấy tờ giấy bẩn thỉu.

“Ngày em đem xác con chuồn chuồn

ra đồng

Chôn ngây thơ vào đất

Ngày em đem xác tình yêu vào face book

Chôn buồn vào vui

Ngày người ta mang xác em ra đồng

Con chuồn chuồn đầu thai.

Ta bị nhốt ở đây năm năm rồi. Ngày nào chúng cũng mang cơm cho ta. Ta là quỷ. Quỷ thì phải chết. Cam tâm. Không. Cớ gì bảo ta là quỷ. Các người dựa vào đâu. Tội nghiệp đổ lên đầu ta mà ta không có lỗi. Bắt ta sám hối nơi đây ư? Các người dựa vào đâu nếu không đánh mê ta bằng thứ lòng tin mù quáng. Và sợi xích này bung ra thì bàn tay này của ta có thể bóp chết từng kẻ khốn kiếp đã đọa đầy ta”.

Trang giấy rách nát nhiều. Chữ được chữ không. Hình như có ai oán thấm vào từng chữ. Tôi lật trang kế tiếp:

Phật ư. Phật cũng là kẻ câm lặng nhìn gia đình ta bị thiêu sống. Ông không nên giữ đôi mắt làm gì nữa.

Tôi nhìn lại hốc mắt bức tượng có vết dao còn lại mà thời gian cũng không xóa được. Có lẽ nên đọc những trang cuối sẽ biết bộ xương nằm nơi đây là kẻ nào. Tôi lật nhanh mấy tờ:

Ta tha thứ cho các người rồi đấy. Giết ta đi. Sự đời ta không cần nếm nữa. Giết bằng dao đừng giết bằng cái u tịch vây khốn này. Bức vách kia nổ tung ta đi. Ta có tội. Ta là quỷ. Người muốn hay ta muốn.

Mệt mỏi. Tôi lại thiếp đi lúc nào không hay. Một tấm vải trắng bay nhè nhẹ theo gió phủ lên tôi. Da thịt tôi bung ra. Cặn bẩn hình như vón lại và bị tấm vải hút đi. Nhìn vào mảnh gương đồng thấy mình trơ xương và hai hốc mắt. Tôi là bộ xương trắng. Tôi không đau chỉ như có từng giọt đang chảy trên mặt sóng rồi lặng lẽ bất động. Trăng vòi vọi trên cao xuyên qua sương trên đỉnh chùa. Tôi lại tỉnh giấc và nhớ tới bộ xương nửa đen, nửa trắng.

Băn khoăn tôi giở mấy tờ cuối của tập giấy:

Đến bây giờ ta đang đi đến đáy trăng. Sẽ không còn sương và bóng tối. Ta thanh sạch không cần nghi ngờ. Đó là nơi cuối cùng mà ánh sáng vĩnh viễn bất diệt trong veo. Nhưng sao các người vẫn phán xét ta. Ồ không, ta điên rồi. Đáy trăng sao lại mở ra hố đen thế kia. Ta tưởng đây là đáy.

Thật sự càng tìm tôi càng không hiểu câu chuyện này. Tôi quyết định đi xuống căn hầm một lần nữa. Ngôi chùa này từng giam người nay tôi lại tự nguyện vào. Nó là nơi phán xét lại là nơi tôi trốn chạy. Ai đã sống ở đây và tại sao tôi lại ở đây? Bóng tối và ánh sáng có nghĩa lí gì? Sao bộ xương lại rạch ròi được. Tôi châm nến và đi xuống hầm. Lần này tôi thấy bình thản hơn với bóng đêm. Chợt nhớ lại quãng đời đã qua. Cuộc đời của kẻ chạy trốn để tìm đáy cùng của sợ hãi sau cái chết của gã.

 Gã là H. Gã nhảy lên đu lấy cành cây bên bờ sông. Mặt sông soi mặt người ba mươi tuổi. Một nửa đời người mà không chịu già. Tôi nhìn gã cười. Gã giống người nguyên thủy.

Đã nhiều lần tôi đi tìm Chúa trong các thánh kinh bán tràn lan vỉa hè. Không biết ông còn giăng mắc lại chút gì về gốc gác của loài người không. Cái giống loài nặn bằng đất sét vô tri mà nghĩ nhiều như bụi. Tôi nhớ gã bạn tôi. Có lẽ gã không chịu tiến hóa để già, để muộn phiền.

Cách đây mấy năm thôi, tôi cũng giống người nguyên thủy lắm. Cứ trong leo lẻo như vách đá nguệch ngoạc vẽ hươu nai. Vậy mà giờ tôi già như cây cầu sót lại từ thời chống Pháp. Hình như thời gian với những gì lặng lẽ sẽ nở ra vô cùng.

Vậy mà hắn chết rồi. Hắn đi về nơi Chúa gọi là Thiên đàng. Báo điện tử hôm qua đưa tin mấy dòng giật gân: Nam thanh niên chết trong phòng kín. Hiện chưa rõ nguyên nhân.

H là một nhân viên văn phòng nhưng đã bỏ việc. Tôi với H cùng sinh ra một năm, cùng sống ở một thành phố lặng lẽ đầy bụi. Cái thành phố giống như bao thành phố khác trên thế giới này. Con người lớn lên nhàm tẻ và chết đi lãng nhách. Nơi mà con người uống rượu từ sáng đến đêm ở các phố ẩm thực. Các quán nhậu và nhà nghỉ nhiều hơn trường học. Nơi mà những nhà máy làm việc rất đúng giờ nhưng không hiệu quả. Nơi mà con sông chết tiệt chả buồn, chả vui muốn xui người ta tự tử.

H sinh ra ở đó, không chịu già và giờ gã chết rồi. H làm trong một cơ quan mà theo tôi như những cơ quan khác. Nó rất thiếu muối. Mấy nhân viên cần mẫn buôn chuyện và chỉ trực về sớm để cầu lông, uống bia bờ sông tăng một, đi hát tăng hai và hạ cánh ở một nhà nghỉ rách nát nơi bến xe. H hút thuốc như ăn kẹo và ngôn ngữ của hắn phi lô gic kì lạ. Nó giống như người nguyên thủy thuở mới biết chữ. Nhưng khi kể chuyện gã lại lưu loát như dòng suối trong cách đây mấy nghìn năm. Thuở chưa có bụi công nghiệp.

“Sắc tức thị không” – H kể - “Kiếp trước tao vốn là con chuồn chuồn đã cắn Đức Phật khi ngài chuẩn bị giác ngộ dưới gốc bồ đề”.

“Tỉnh lại đi cưng”. Tôi đáp:

“Con chó. Mày cứ ngồi im đi. Tao gọi mày ra để nghe chứ không phải hóng”.

Tôi im lặng châm điếu thuốc nghe:

“Nói chung cả người tao là Phật pháp. Lúc đức ngài chuẩn bị giác ngộ thì yêu ma sợ Phật quang sẽ quét sạch bóng tối đã đến quấy nhiễu ngài. Đức Phật thật lúc đó gần tẩu hỏa nhập ma. Tao liền cắn ngài một cái. Ngài bừng tỉnh và giác ngộ”.

Tôi cười và suýt ăn đấm. Hắn tiếp:

“Nhờ công lao đó, ngài cho tao làm người kiếp này để tao giữ lại phần “không” còn thiên hạ giữ phần “sắc”. Khi viên tịch người dặn tao phải bảo lưu chân lý để người đời sau không xuyên tạc ngài. Ngài còn bảo trên Niết Bàn người thấy một lũ mượn danh ngài để láo toét. Mày nhìn xem giờ ngoài đường thằng nào cũng “sắc sắc, không không”. Ăn không nói có. Chỗ nào cũng xin. Thiên hạ thành Phật hết rồi, khất thực hết rồi. Rồi tao sẽ về báo cáo với đức ngài”.

Vậy mà, hắn chết rồi, chết vì gã không chịu lớn. Khám nghiệm tử thi người ta chịu không rõ nguyên nhân gã chết. Còn tôi chạy trốn bằng cách khác. Chạy đến ngôi chùa này để làm bạn với ánh trăng. Cái chết của bóng ma lang thang nơi ngôi chùa này, và cả gã, tôi đều không hiểu nổi. Tôi chạy trốn mất mát để gặp một mất mát khác. Tôi vẫn nhớ như in về gia đình gã. Bố gã bán trà đá.

Quán trà đá nằm trong ngõ sâu hun hút ngay trung tâm thành phố. Một ngõ ẩm ướt thường trực và những căn nhà tối thui ngày cũng như đêm. Đôi khi tôi tự hỏi có bao nhiêu linh hồn bị giam hãm giữa những mái nhà cao quây kín và chỉ có một cửa sổ bầu trời như ống khói để thải bớt nỗi u uất của con người.

Quán trà của ông già luôn đông khách. Khách đủ các thành phần từ xe ôm, trí thức, công nhân, công an, nghiện ngập... Quán ông đông bởi trà ngon và sự cầu kì, cẩn thận của ông trong pha trà hay nhân trần. Quán gọn gàng, ngăn nắp từng gói thuốc lào ghi tên khách hay những hộp chè con con đủ pha cho cái tích nhỏ nhắn của ông. Nước trà đẹp và vị chát ngọt để lại lâu. Thứ trà Thái chính hiệu mà ông đi rất xa để mua tận vườn và hướng dẫn cả người trồng cách xao. Ông là dân xuôi lên để làm ăn. Ông xây được nhà nhờ tài pha trà và bán hàng có duyên. Hứng lên là lại thấy ông ngồi ngâm thơ Nguyễn Bính, rồi bình, rồi khen:

- Có bao nhiêu cái hay, cái đẹp Nguyễn Bính lấy hết rồi làm thơ làm gì nữa. “Bao năm đi giữa kinh thành. Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi. Cả kinh thành có những ai? Cả kinh thành có một người mắt nhung”.

Tôi lúc đầu đến quán cũng chỉ là tò mò do anh em bè bạn giới thiệu. Sau cũng đâm ra nghiện trà ông pha và cái tài nói chuyện văn chương ấy. Tôi cũng bất ngờ vì không nghĩ rằng sau những mặt phố lại có những cuộc sống khác. Rất khác...

Ngồi uống trà lâu ngày trong cái không gian ẩm thấp ấy dần dần tôi cảm nhận được sự bội bạc của thời gian, của thân phận ngay sau những ngôi nhà khang trang. Những ngõ ngách quanh co mang thân phận khác nhiều đại lộ.

Đã từng có nhà văn nói với tôi: Đôi khi phát điên vì không hiểu đằng sau mỗi ô cửa bé nhỏ của những căn nhà là điều gì bí mật. Những điều bí mật nằm trong bữa cơm của mỗi gia đình.

Và tôi đã được chứng kiến bữa cơm gia đình ông.

Gia đình ông gồm một bà vợ bị tai biến. Vẫn đi lại được nhưng bộ não hình như chỉ còn phần bản năng, vẫn đi lại được nhưng không tự chủ được sinh hoạt. Đứa con gái bỏ chồng xuống Hà Nội làm ăn bỏ lại hai đứa cháu đang học cấp 1, cấp 2. Hai thằng bé suốt ngày ôm cái điện thoại rồi sáng nào cũng chạy ra giữa sân đánh bà rồi luôn mồm chửi: “Đ.m. đời”. Còn thằng con trai gần bốn mươi tuổi không công ăn việc làm, vợ con vẫn hàng ngày xin tiền ông đi chơi. Hắn chính là gã. Bữa cơm ở nơi này âm u và mỗi người một góc. Thằng cháu thì lúi húi góc sân với cái bếp lò, thằng con trai kiên quyết không ăn cơm với bố mẹ ngồi ngoài bàn trà với khách. Chỉ hai ông bà lặng lẽ ăn với nhau.

Thực ra thì cuộc đời luôn đầy rẫy những bất hạnh. Nhiều đến mức người ta chả ai buồn bận tâm nữa. Cũng là những chuyện riêng tư đứng lên ngồi xuống là quên sạch. Thời đại giờ phố xá khang trang, mùa xuân bừng nở, sexy cách tân là vấn đề các nhà văn, nhà thơ quan tâm nhiều hơn. Nhạc sĩ thì tất nhiên chỉ tình yêu trai gái đèm đẹp là đề tài bất diệt, cùng lắm là viết về mưa, về màu nắng. Ai để ý làm gì ngõ ngách của con người.

Ông già không cần ai thương và tôi cũng không có tư cách để thương ai nhưng đôi khi tự hỏi đằng sau những tiếng chửi bới gắt gỏng của ông với bà lão dở kia là bao yêu thương đã cũ.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ… Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”

Ông già cứ vừa ngồi pha trà vừa lẩm nhẩm. Tôi nghĩ rằng đây chính là những yêu thương đã cũ của ông. Sự bội bạc của thời gian và số phận không làm ông quên được. Đôi mắt đỏ soi trong ly trà nguội.

Ngoài ngõ bà cụ xõa tóc đi trong mưa cười như những ngày đã cũ. Còn gã không chịu lớn giờ đã chết rồi.

Đêm. Tôi thắp một nén hương cho gã. Gió lạnh ù ù thổi. Màn sương giăng khắp cửa.

Nhập nhòa tôi chìm vào giấc ngủ. Ánh sáng rực góc trời. Màn đêm lặn mất. Đức Phật tiến gần tôi. Đôi mắt chảy máu. “Kiếp trước là tội. Kiếp này là tội. Ta đã phải lên Niết Bàn sám hối. Ta cứ ngỡ ta trong veo không phạm giới điều gì. Ta đắc đạo mà lên Niết Bàn, ta chợt nhớ mỗi bước chân khất thực của ta có bao giờ ta đạp nhầm con kiến. Sát sinh. Mỗi chiếc lá ta ăn có bao giờ có con sâu nào vô phúc nằm trong đó. Mỗi ngụm nước suối ta uống là bao nhiêu vi khuẩn đã hi sinh”.  Tôi tỉnh dậy thấy vô tri như một tảng đá. Mặt gã bạn hiện lên đầy kiến bay quanh phòng. Tro bụi cũng bay tứ tung. Tôi chạy ra bờ sông nơi gã hay đu cây. Có tiếng vọng sau lưng: “Đừng lớn thì nỗi đau chỉ là thìa bột! Đừng tìm vì Phật khóc phải không”.

Nhưng tôi vẫn phải lớn để chạy tới ngôi chùa này. Nơi tôi không nhớ nổi mặt mình và không biết nỗi sợ hãi cùng bóng ma đang lẩn phất quanh đây. Tôi đi tìm câu chuyện của H không nổi và giờ bất lực trước câu chuyện của ngôi chùa này. Chợt nhớ những ông lãnh đạo tôi đã gặp luôn khẳng định như đinh về tuyên ngôn của ông. Giờ đây tôi buộc phải nghi ngờ về mặt nạ của ngôn ngữ, mặt nạ của yêu thương, của chiến tranh, của nghèo đói… Nhìn vào chiếc gương đồng đang rạn trên mặt tôi chợt thấy vô nghĩa như một tờ giấy trắng.

Thấy ngọn gió đêm cô đơn quá. Nó giống thời nguyên thủy. Cô đơn vì không chịu lớn và ẩn nấp đáy trăng.

Nguồn Văn nghệ 

 

Từ khóa
Chia sẻ

Tin khác

0 bình luận

Bình luận

Email sẽ không được công khai trên trang.
Điền đầy đủ các thông tin có *